Bản án số 04/2020/HNGĐ-ST ngày 21/01/2020 của TAND huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng về ly hôn và tranh chấp nuôi con

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2020/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 04/2020/HNGĐ-ST ngày 21/01/2020 của TAND huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng về ly hôn và tranh chấp nuôi con
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Vĩnh Bảo (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 04/2020/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/01/2020
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 04/2020/HNGĐ-ST
Ngày 21-01-2020
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Đức Vịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Khanh
Ông Nguyễn Văn Quyết
- Thư phiên tòa: Trương Thị Thúy - Thư Tòa án nhân dân huyện
Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nghĩa Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo,
thành phố Hải Phòng xét xử thẩm công khai vụ án thụ số 260/2019/TLST-
HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2019 về Ly hôn tranh chấp nuôi con”. Theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xsố 02/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01
năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị Th; nơi trú: Thôn 4, GB, huyện VB,
thành phố Hải Phòng, đề nghị xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Phạm Ngọc B; nơi trú: Thôn 4, GB, huyện VB, thành
phố Hải Phòng, có đề nghị xét xử vắng mặt.
NI DUNG V ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và tại phiên hòa giải, nguyên đơn là chị
Lương Thị Th trình bày:
Chị và anh Phạm Ngọc B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyệnđăng
ký kết hôn tại Ủy B nhân dân Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo tngày 12 tháng 11
m 2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm
2
2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính do bất đồng quan điểm, lối
sống, không hợp nhau về tính cách, tâm sinh ; mặt khác, do anh B ham chơi cờ
bạc, nợ nần nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm
không tôn trọng nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình khuyên giải
bản thân chị đã cố gắng khắc phục những mâu thuẫn nhưng không kết quả, vợ
chồng đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau, cắt đứt
mọi quan hệ nghĩa vụ vợ chồng. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục
đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly
hôn với anh Phạm Ngọc B.
Về con chung: Chị anh B 02 con chung Phạm Ngọc M, sinh ngày
14 tháng 6 m 2011, hiện anh B đang trực tiếp nuôi dưỡng và Phạm Ngọc Y, sinh
ngày 31 tháng 3 năm 2016, hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị đề
nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Y còn anh B tiếp tục nuôi dưỡng cháu M. Việc
cấp dưỡng nuôi con chị và anh B tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung nợ chung: Chị anh B xin tự thỏa thuận, không yêu
cầu giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự, bị đơn anh Phạm Ngọc B, trình
bày:
Anh xác nhận vthời điểm kết n, điều kiện kết hôn như nội dung chị Th
trình bày đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung hòa thuận hạnh phúc đến năm
2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp,
bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát,
cãi vã, xúc phạm không tôn trọng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình
khuyên giải và bản thân anh cũng đã động viên chị Th nhưng không có kết quả, vợ
chồng sống ly thân, mỗi người sống một nơi không quan tâm đến nhau. Tuy
nhiên, do vẫn còn tình cảm với chị Th do các con còn nhỏ cần sự chăm sóc của
cả bố và m nên anh không đồng ý ly hôn với chị Th.
Về con chung: Anh và chị Th02 con chung là Phạm Ngọc M, sinh ngày
14 tháng 6 năm 2011, hiện do anh trực tiếp nuôi dưỡng Phạm Ngọc Y, sinh
ngày 31 tháng 3 năm 2016, hiện do chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh đề
nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M còn giao cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng
cháu Y. Việc cấp dưỡng nuôi con do anh và chị Th tự thỏa thuận, không yêu cầu
giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị Th xin tự thỏa thuận, không u
cầu giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân
huyện Vĩnh Bảo xác định quan hệ tranh chấp vly hôn nuôi con chung khi ly
hôn đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, về thẩm quyền
3
đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
- Vviệc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa việc chấp hành pháp luật của
nguyên đơn đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không
chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật
hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử xét những nội dung sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị Th được ly hôn với anh
Phạm Ngọc B.
+ Về con chung: Đề nghị giao con chung Phạm Ngọc Y, sinh ngày 31
tháng 3 năm 2016, cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc sự
thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung Phạm Ngọc M, sinh
ngày 14 tháng 6 năm 2011, cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc
sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung
do hai bên tự thỏa thuận nên không đặt ra để giải quyết.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th và anh B không yêu cầu nên không
đặt ra để giải quyết.
+ Về án phí: Chị Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình thẩm theo quy
định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
[1] Đây ván tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung giữa nguyên đơn
chị Lương Thị Th bị đơn anh Phạm Ngọc B đều nơi trú tại thôn 4, xã
Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Do đó, căn cứ vào khoản 1
Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo.
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đều mặt theo giấy triệu
tập của Tòa án, có bản tự khai và tham gia đầy đủ các phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng
mặt. Như vậy, nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền nghĩa vụ của mình quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Bị đơn anh Phạm Ngọc B đã nhận được tống đạt hợp lệ các văn bản
tố tụng của Tòa án về việc thông báo thụ vụ án, thông báo vviệc giao nộp
chứng cứ, thông báo về phiên họp, kiểm tra, việc giao nộp, tiếp cận công khai
4
chứng cứ hòa giải, đã nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử và anh đề nghị
Tòa án xét xử vắng mặt anh theo quy định của pháp luật; mặt khác chị Th cũng
đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228
Bộ luật Ttụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lương Thị
Th bị đơn là anh Phạm Ngọc B.
- Về nội dung vụ án:
[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Th anh Phạm Ngọc B kết hôn
với nhau trên sở tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy B nhân dân Giang
Biên, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ngày 12 tháng 11 m 2007. Như
vậy, hôn nhân này hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận
hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất
đồng quan điểm, lối sống, không hợp nhau về tính cách, tâm sinh nên thường
xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm, không tôn trọng nhau. Mâu thuẫn của
vchồng đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống
ly thân, không qua tâm đến nhau. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn nên
chị Th xin ly hôn nhưng anh B không đồng ý vì anh cho rằng anh vẫn còn tình cảm
với chị Th do các con còn nhỏ cần sự chăm sóc của cả bố m, nhưng anh
không đưa ra được biện pháp để khắc phục những mâu thuẫn hàn gắn tình
cảm vợ chồng. Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh không đến, điều đó
chứng tỏ anh không thực sự muốn níu kéo tình cảm vợ chồng, việc anh không lên
tòa án và không đồng ý ly hôn chỉ nhằm gây khó khăn cho chị Th kéo dài sự
ràng buộc không cần thiết. Hơn nữa, qua xác minh tại địa phương thì vợ chồng chị
Th, anh B thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân nên có đủ căn
cứ xác định, mâu thuẫn vợ chồng chị Th và anh B đã trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn
cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị
Lương Thị Th xin ly hôn với anh Phạm Ngọc B.
[5] Về con chung: Chị Th và anh B có 02 con chung là Phạm Ngọc M, sinh
ngày 14 tháng 6 năm 2011 hiện do anh B trực tiếp nuôi dưỡng Phạm Ngọc Y,
sinh ngày 31 tháng 3 năm 2016 hiện do chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cả
chị Th anh B đều việc làm, thu nhập như nhau. Mặt khác, chị Th
nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y còn anh B nguyện vọng được
trực tiếp nuôi dưỡng cháu M, cháu M cũng nguyện vọng được cùng với bố
để đảm bảo sự ổn định, cũng như sphát triển mọi mặt của các con chung của chị
Th anh B nên việc giao con chung là Phạm Ngọc Y cho chị Th trực tiếp nuôi
dưỡng giao con chung Phạm Ngọc M cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng là phù
hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với thực tế về điều kiện
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của chị Th anh B.. Do đó, Hội đồng
xét xử căn cứ vào các điều 81, 82 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận
đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Ngọc Y của chị Th đề nghị
được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Ngọc M của anh B. Việc cấp dưỡng
5
nuôi con chung do chị Th anh B xin tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không
xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung nợ chung: Chị Th anh B xin tự thỏa thuận nên
không xét giải quyết.
[7] Về án phí: Chị Th phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYT ĐNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 266 khoản 1
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82 83 của Luật Hôn nhân gia
đình;
Căn c vào khon 1 Điu 6, đim a khon 5 Điu 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ B Thường vụ Quốc
hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí
Toà án.
Xử:
1. V quan h hôn nhân: X cho ch Lương Th Th đưc ly hôn
vi anh Phm Ngc B.
2. V con chung: Giao con chung là Phạm Ngọc Y, sinh ngày 31
tháng 3 năm 2016, cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc sự
thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung Phạm Ngọc M, sinh
ngày 14 tháng 6 năm 2011, cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc
sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung
hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Th phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn
sơ thẩm. ChTh đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí tại biên
lai thu số 0007837 ngày 04 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Chị Th đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Th anh B vắng mặt tại phiên tòa quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể tngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
6
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện Vĩnh Bảo;
- Chi cục THADS huyện Vĩnh Bảo;
- UBND xã Giang Biên;
- Các đương sự;
- Lưu: Hành chính tư pháp, hồ sơ vụ án.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Đức Vịnh
Tải về
Bản án số 04/2020/HNGĐ-ST Bản án số 04/2020/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất