Bản án số 03/2024/KDTM-PT ngày 01/04/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2024/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 03/2024/KDTM-PT ngày 01/04/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 03/2024/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/04/2024
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: - Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là ông Trần Bình T và ông Nguyễn Văn T1. - Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là Công ty TNHH MTV V. - Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 15-9-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
A ÁN NN N CẤP CAO CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 03/2024/KDTM-PT
Ngày: 01-4-2024
V/v: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động
kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức
có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
NHÂN DANH
ỚC CỘNGA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt ờng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tào
Ông Phạm Tồn.
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Minh Hng - Thư Tòa án nhân n cấp cao
tại Đà Nẵng.
- Đi diện Viện kim sát nn dân cấp cao tại Đà Nng: Bà Trn Th Thng
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 01-04-2024, tại trụ sở. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc
thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 13/2023/TLPT-KDTM ngày
20-11-2023 về “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa
cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mc đích lợi nhuận”.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 15-9-
2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s264/2024/QĐ-PT ngày 11-
3-2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Trần Bình T, sinh năm 1950; địa chỉ cư trú: Tổ dân phố C, phường T,
thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
1.2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963; địa chỉ trú: Số A N, Tổ dân phố
H, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn:
Công ty TNHH MTV V; địa chỉ công ty: Thôn B, E, huyện E, tỉnh Đắk
Lắk.
Người đại diện pháp luật:
Ông Cao Văn C - Chức vụ: Giám đốc Công ty, có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền:
2
Ông Nguyễn Xuân B; địa chỉ cư trú: K, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An,
vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Luật sư Nguyễn n T2 - Công ty L2, thuộc Đoàn Luật tỉnh T, mặt tại
phiên tòa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Phan Thị M, sinh năm 1968; địa chỉ trú: Thôn B, E, huyện E,
tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
3.2. Trần Thị K, sinh năm 1955; địa chỉ trú: Tổ dân phố C, phường T,
thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
3.3. Phạm Thị L, sinh năm 1965; địa chỉ trú: Số A N, tổ dân phố H,
phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
3.4. Thị O; địa chỉ trú: Tổ dân phố E, phường A, thị B, tỉnh Đắk
Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.5. Phan Thị T3, sinh năm 1984; địa chỉ trú: Số A L, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk, vắng mặt.
3.6. Chị Nguyễn Thị Hồng X, sinh năm 1989; địa chỉ trú: Số D T,
phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
3.7. Anh Khắc P, sinh năm 1981; địa chỉ trú: Thôn E, E, huyện E,
tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
3.8. Ông Nguyễn Văn Đ; địa chỉ trú: Thôn A, H, thành phố B, tỉnh Đắk
Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.9. Ông Đào Ngọc Q; địa chỉ cư trú: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận,
vắng mặt.
3.10. Công ty TNHH MTV Đ1.
Người đại diện theo pháp luật:
Ông Vũ Văn M1 - Chức vụ: Giám đốc công ty; địa chỉ cư trú: Số E Khu phố T,
phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
3.11. Công ty TNHH T6.
Người đại diện theo pháp luật:
Ông Nguyễn Huy C1; địa chỉ trú: Tổ dân phố C, phường S, thị xã K, tỉnh
Hà Tĩnh, vắng mặt.
3.12. Công ty Cổ phần T7.
Người đại diện theo pháp luật:
Ông Quảng U - Chức vụ: Giám đốc công ty; địa chỉ trú: Thôn N, K,
huyện Đ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
1. Nguyên đơn, ông Trần Bình T và ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Ông Cao Văn C (bị đơn) mỏ đá lộ thiên, nên đã rủ ông Trần Bình T ông
Nguyễn Văn T1 cùng làm mỏ đá xây dựng. Do quen biết và cùng quê với nhau, nên
các ông đồng ý. Sau khi kết quả xét nghiệm chất lượng đá; ngày 21-10-2011, ba
gia đình gồm vợ chồng ông Trần Bình T, bà Trần Thị K; vợ chồng ông Nguyễn Văn
T1, Phạm Thị L ông Cao Văn C Hợp đồng góp vốn tại Phòng C2 tỉnh Đắk
Lắk. Trong đó, ông T và ông T1 mỗi người góp 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi
triệu đồng), ông C góp quyền sử dụng đất có trữ lượng đá, được Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn tỉnh Đ cấp cho Công ty TNHH MTV V, diện tích 05 H, với giá
trị là 340.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi triệu đồng).
Trong suốt quá trình kinh doanh khai thác mỏ đá từ năm 2011 đến năm 2019,
hai ông (T, T1) đã nhiều lần góp tiền đCông ty TNHH MTV V hoạt động kinh
doanh khai thác mỏ đá, cụ thể:
1.1. Tổng số tiền ông Trần Bình T đã góp vốn vào Công ty TNHH MTV V
11.750.713.000 đồng (mười một tỷ bảy trăm năm mươi triệu bảy trăm mười ba
nghìn đồng), cụ thể:
Ngày 21-10-2011, góp vốn 330.000.000 đồng; ngày 10-4-2015, góp vốn
15.000.000 đồng; ngày 02-5-2015, góp vốn 7.000.000 đồng; ngày 07-7-2015, góp
vốn 10.000.000 đồng; ngày 09-11-2015, góp vốn 30.000.000 đồng; ngày 10-3-2016,
góp vốn 50.000.000 đồng; ngày 30-6-2016, góp vốn 20.000.000 đồng; ngày 07-10-
2016, góp vốn 40.000.000 đồng; ngày 01-11-2016, góp vốn 7.000.000 đồng; ngày
22-11-2016, góp vốn 30.000.000 đồng; ngày 08-01-2016, góp vốn 100.000.000
đồng; ngày 30-12-2016, góp vốn 30.000.000 đồng; ngày 09-01-2017, góp vốn
5.000.000 đồng; ngày 14-3-2017 ngày 15-3-2017, góp vốn 35.000.000 đồng;
ngày 29-6-2017, góp vốn 270.000.000 đồng; ngày 16-8-2017, góp vốn 40.000.000
đồng; ngày 31-8-2017, góp vốn 180.000.000 đồng; ngày 13-9-2017, góp vốn
9.500.000 đồng; ngày 19-10-2017, góp vốn 25.000.000 đồng; ngày 25-12-2017,góp
vốn 2.000.000.000 đồng; ngày 05-3-2018, góp vốn 2.000.000.000 đồng; ngày 14-3-
2018, góp vốn 2.000.000.000 đồng ngày 16-10-2018, góp vốn 2.000.000.000
đồng.
Tính đến ngày 30-10-2018, theo bảng và xác nhận của Công ty TNHH
MTV V, thì ngoài số tiền trên, ông T còn góp vốn là 2.517.213.000 đồng.
Ngoài ra, Công ty TNHH MTV V còn nợ ông Trần Bình T 454.750.000
đồng (bốn trăm năm mươi tư triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), cụ thể:
Ngày 28-9-2015, ông Trần Bình T bảo lãnh cho ông Cao Văn C (đại diện
Công ty TNHH MTV V) vay của bà Thị O số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ
đồng). Số tiền này, ông C đã trả lại cho ông T và ngày 13-10-2015, ông T đã trả số
tiền này thay ông C. Ngày 15-8-2016, ông T bảo lãnh cho ông C vay của bà Thị
O stiền 2.094.350.000 đồng (hai tỷ không trăm chín triệu ba trăm m mươi
nghìn đồng). Sau đó, ngày 26-8-2016, ông T trả cho O thay ông C số tiền
1.600.000.000 đồng; ngày 30-8-2016, ông T trả cho O thay ông C số tiền
500.000.000 đồng. Như vậy, ông T đã trả số tiền ông C vay của O
2.094.350.000 đồng. Đến nay, ông C mới trả cho ông T 1.640.000.000 đồng. Như
4
vậy, Công ty TNHH MTV V còn nông T 454.750.000 đồng (bốn trăm năm mươi
tư triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
1.2. Tổng số tiền ông Nguyễn Văn T1 đã góp vốn vào Công ty TNHH MTV V
4.313.037.000 đồng (bốn tỷ ba trăm mười ba triệu không trăm ba mươi bảy
nghìn đồng), cụ thể như sau:
Ngày 21-10-2021, góp vốn 330.000.000 đồng theo Hợp đồng góp vốn ngày
21-10-2021; ngày 06-10-2015, góp vốn 9.500.000 đồng tiền học nổ mìn (có Phiếu
thu); ngày 15-02-2016, góp vốn 1.900.000 đồng tiền dầu san mặt bằng; ngày 30-9-
2016, góp vốn 200.000.000 đồng tiền lắp ráp điện cho công ty; ngày 21-8-2017, góp
vốn 3.900.000 đồng tiền mua dây cuaroa máy xay đá, số tiền này hóa đơn bán
hàng cho mỏ đá Văn Chương của bà Phan Thị T3; ngày 18-9-2017, góp vốn
150.000.000 đồng tiền đền đất cho hộ gia đình, ông T1 đã bàn giao cho ông
Khắc P - Kế toán của Công ty; ngày 21-11-2017, góp vốn 5.700.000 đồng tiền phục
vụ khai thác đá và ngày 03-10-2017, góp vốn 5.000.000 đồng tiền mua vật tư.
Ngoài những chi phí trên, trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh khai thác
mỏ đá, ông Nguyễn Văn T1 đã nhiều lần góp vốn được Công ty TNHH MTV V
xác định tổng số tiền ông T1 góp vốn ngoài stiền nêu trên 3.607.037.000 đồng
(ba tỷ sáu trăm linh bảy triệu không trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
Ngoài ra, ông Nguyễn Văn T1 đã cho Công ty TNHH MTV V vay tổng số tiền
2.820.072.000 đồng (hai tỷ tám trăm hai mươi triệu không trăm bảy mươi hai
nghìn đồng); trong đó, Công ty TNHH MTV V đã trả cho ông T1 760.000.000
đồng (bảy trăm sáu mươi triệu đồng). Hiện tại Công ty TNHH MTV V n nợ ông
T1 2.060.072.000 đồng (hai tỷ không trăm sáu mươi triệu không trăm bảy mươi hai
nghìn đồng), cụ thể:
- Ngày 08-3-2017, cho Công ty TNHH MTV V vay 596.050.000 đồng; ngày
29-8-2017, cho vay 500.000.000 đồng; ngày 30-8-2017, cho vay 200.000.000 đồng;
ngày 12-9-2017, cho vay 400.000.000 đồng ngày 16-10-2018, cho vay
760.000.000 đồng (để phục vụ kinh doanh khai thác mỏ đá).
- Ngày 19-12-2018, ông Nguyễn Văn T1 nhờ Công ty TNHH MTV V bán
giúp nguyên vật liệu cho Công ty Cổ phần T7, nhưng Công ty chưa trả hết cho ông
T1. Hiện tại Công ty TNHH MTV V còn nợ tiền vật liệu của ông T1 là 364.022.000
đồng.
Trong quá trình khai thác mỏ đá, do Công ty TNHH MTV V không công khai
sổ sách, phân chia lợi nhuận từ việc khai thác mỏ đá. Ông T và ông T1 đã nhiều lần
đề nghị công khai sổ sách và phân chia lợi nhuận theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh
ngày 21-10-2011, nhưng Công ty không công khai trả lại chi phí ông T
ông T1 bỏ ra trong quá trình khai thác mỏ đá. vậy, các ông khởi kiện yêu cầu
Tòa án công nhận phần vốn góp của hai ông vào Công ty TNHH MTV V và yêu
cầu Công ty trả lại số tiền hai ông cho Công ty V1 trong quá trình khai thác mỏ
đá, cụ thể:
- Ông Trần Bình T đề nghị công nhận phần vốn góp của ông vào Công ty
TNHH MTV V 11.750.713.000 đồng (mười một tỷ bảy trăm năm mươi triệu bảy
trăm ời ba nghìn đồng); buộc Công ty TNHH MTV V trả lại cho ông số tiền đã
trả thay cho Công ty 454.750.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu bảy trăm
năm mươi nghìn đồng).
5
- Ông Nguyễn Văn T1 đề nghị công nhận phần vốn góp của ông vào Công ty
TNHH MTV V 4.313.037.000 đồng (bốn tỷ ba trăm mười ba triệu không trăm ba
mươi bảy nghìn đồng); yêu cầu Công ty TNHH MTV V trả lại cho ông số tiền đã
ứng ra cho Công ty V1 để phục kinh doanh khai thác mỏ đá 2.060.072.000 đồng
(hai tỷ không trăm sáu mươi triệu không trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
2. Bị đơn, Công ty TNHH MTV V, do ông Cao Văn C - Chức vụ: Giám đốc
trình bày:
Năm 2008, Công ty TNHH MTV V thành lập với vốn điều lệ là 1.500.000.000
đồng. Công ty đầu tư vào lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản mỏ đá. Khoảng
tháng 10-2011, ông Trần Bình T và ông Nguyễn Văn T1 biết được Công ty ý
định đầu tư kinh doanh khai thác mỏ đá, hai ông nói với ông (C) là mối quan hệ
rộng, hiểu biết nhiều thể cùng Công ty xin được cấp phép dự án đầu tư, nhưng
phải cho hai ông hợp đồng góp vốn liên doanh khai thác mỏ đá. Hai ông trình bày là
hiện tại các ông không tiền đề nghị ông cho vay tiền làm vốn góp vào hợp
đồng.
Ngày 21-10-2011, ông Trần Bình T ông Nguyễn Văn Thành l hợp đồng vay
ông (mỗi người 330.000.000 đồng), theo lãi suất Ngân hàng tại thời điểm cho vay
nhằm mục đích kinh doanh khai thác mỏ đá. Cùng ngày 21-10-2011, tại Văn phòng
C3, ba bên tham gia kết hợp đồng góp vốn kinh doanh khai thác mỏ đá. Bên thứ
nhất là ông Cao Văn C - Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH MTV V, bên thứ hai là
ông Trần Bình T, bên thứ ba ông Nguyễn Văn T1, vốn góp được giao cho ông
Cao Văn C quản lý, việc chi tiêu phải được sự thống nhất ý kiến của ba bên; mục
đích sử dụng vốn để cùng nhau hợp tác kinh doanh khai thác mỏ đá khoáng sản
diện tích 05 Ha tại thôn A, C huyện E, tỉnh Đắk Lắk; thời hạn hợp đồng kể t
ngày 21-10-2011 đến khi hoạt động liên kết kinh doanh khai thác mỏ đá kết thúc,
không bên nào được phép tự ý rút vốn, gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của các bên. Sau khi tổng kết kinh doanh, cuối kỳ vào ngày 30 hằng tháng
Kế toán tổng hợp các khoản theo thực tế chi, phát sinh trong tháng, phần lợi nhuận
sẽ chia đều cho các bên góp vốn. Các bên thống nhất sử dụng pháp nhân Công ty
TNHH MTV V để phục vụ cho hoạt động kinh doanh khai thác mỏ đá theo hợp
đồng, Công ty không được tự ý kinh doanh bất kỳ hình thức kinh doanh nào khác,
ngoài kinh doanh khai thác chế biến mỏ đá khoáng sản. Sau khi hợp đồng,
ông T và ông T1 dưới tư cách Công ty TNHH MTV V trực tiếp liên hệ với cơ quan
Nhà nước thẩm quyền để xin Giấy chứng nhận dự án đầu khai thác chế
biến mỏ khoáng sản cho Công ty.
Ngày 19-5-2015, Công ty TNHH MTV V được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ chấp
thuận chủ trương đầu thực hiện dán khai thác chế biến mỏ khoáng sản tại
thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk với thời hạn là 15 năm, tiến độ thực hiện dự án
là 21 tháng.
Để tiền đầu vào dự án, các bên đã thỏa thuận sử dụng cách Công ty
TNHH MTV V đứng tên vay tiền của các cá nhân, Ngân hàng để tạo vốn chung của
ba bên để đầu dự án. Ông T và ông T1 trực tiếp điều hành, giám sát hoạt động
khai thác tại mỏ đá, ký các phiếu thu, chi, xuất hàng, cùng nhau sắm vật tư, máy
móc thiết bị đphục vụ khai thác chế biến khoáng sản mỏ đá. Từ năm 2011 đến
6
năm 2019, các bên hợp tác cùng nhau thực hiện hợp đồng, không xảy ra bất cứ mâu
thuẫn nào.
Đến năm 2019, ông Trần Bình T và ông Nguyễn Văn T1 tự lập bảng kê chi tiết
từ năm 2011 đến năm 2019, gồm các chi phí bằng tiền, vật chất trong việc xin cấp
phép dự án, tiền vay vốn các phần trả lãi để yêu cầu ông (C) xác nhận phần vốn
góp của hai ông vào Công ty TNHH MTV V. Công ty ng lập bảng chi phí và
Công ty đã góp vốn vào kinh doanh mỏ đá, nhưng hai ông không xác nhận. Sau
đó, hai ông đã tý rời bỏ công trường, dự án, tạo chứng cứ giả ông (C) cam kết
với hai ông góp vốn để thành lập Công ty cổ phần. Ông đã m văn bản đề nghị
ông T ông T1 trở lại Công ty để tiếp tục thực hiện hợp đồng, nhưng hai ông
không chấp nhận.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh khai thác mỏ đá, ông (C) giải trình số
tiền mà ông T và ông T1 đã chuyển vào Công ty TNHH MTV V và nhân ông C
để phục vụ kinh doanh khai thác mỏ đá như sau:
2.1. Đối với số tiền do ông Trần Bình T chuyển vào Công ty TNHH MTV V
11.482.500.000 đồng, ông Cao Văn C giải trình như sau:
Ngày 21-10-2011, góp vốn theo hợp đồng góp vốn 330.000.000 đồng; ngày
14-3-2017, chuyển 10.000.000 đồng vào tài khoản ông Nguyễn Văn T1, số tiền này
ông C không biết; ngày 29-6-2017, chuyển cho Công ty 270.000.000 đồng, số tiền
này Công ty đã trả lại cả gốc lãi cho ông T; ngày 25-12-2017, chuyển cho Công
ty 2.000.000.000 đồng, số tiền này Công ty đã trả lại cho ông T; ngày 05-3-2018,
chuyển cho Công ty 2.000.000.000 đồng, số tiền này ngày 16-3-2018, ông Nguyễn
Huy C1 đã trả lại thay Công ty; ngày 16-10-2018, chuyển cho Công ty
2.000.000.000 đồng, stiền này Công ty đã chuyển lại cho ông T; ngày 14-3-2018,
chuyển cho Công ty 2.000.000.000 đồng, số tiền này Công ty đã ghi nhận vào phần
bảng kê góp vốn để khai thác đá; ngày 31-8-2017, chuyển cho Công ty 180.000.000
đồng, số tiền này Công ty đã chuyển trả lại cho ông T; ngày 13-9-2017, chuyển cho
Công ty 9.500.000 đồng, số tiền này đã trong bảng góp vốn khai thác đá
tính lãi; ngày 09-11-2015, chuyển cho Công ty 30.000.000 đồng, số tiền này ng
ty không rõ; ngày 10-4-2015, chuyển cho Công ty 50.000.000 đồng, số tiền này
phục vụ mua đất đã ghi vào bảng không tính lãi; ngày 07-7-2015, chuyển cho
Công ty 10.000.000 đồng, số tiền này để mua dầu máy khai thác đá; ngày 30-12-
2016, chuyển cho Công ty 30.000.000 đồng, số tiền này để phục vụ sửa xe múc khai
thác đá; ngày 07-10-2016, chuyển cho Công ty 40.000.000 đồng, số tiền này để mua
dầu xe phục vụ khai thác đá; ngày 08-01-2016, chuyển cho Công ty 100.000.000
đồng, số tiền này đã được vào bảng góp vốn tính lãi; ngày 22-11-2016,
chuyển cho Công ty 30.000.000 đồng, số tiền này đã được vào bảng góp vốn
tính lãi; ngày 11-3-2016, chuyển cho Công ty 50.000.000 đồng, stiền này đã
được vào bảng góp vốn và tính lãi; ngày 16-8-2017, chuyển cho Công ty
40.000.000 đồng, số tiền này đã được vào bảng góp vốn tính lãi; ngày 09-
01-2017, chuyển cho Công ty 5.000.000 đồng, đây khoản vay nhân; ngày 09-
10-2017, chuyển cho Công ty 25.000.000 đồng, số tiền này đã được vào bảng
góp vốn tính lãi; ngày 16-11-2015, chuyển cho Công ty 160.000.000 đồng, số
tiền này ông T nộp vào tài khoản ông H, Công ty không rõ; ngày 29-5-2015, chuyển
cho Công ty 7.000.000 đồng, số tiền này phục vụ mua dầu máy đã được vào
7
bảng góp vốn; ngày 01-11-2016, chuyển cho Công ty 7.000.000 đồng, số tiền
này trả tiền vật liệu và đã được kê vào bảng kê góp vốn.
Đối với số tiền vay Thị O, Công ty TNHH MTV V không văn bản
yêu cầu hay thỏa thuận nhờ ông Trần Bình T trả nợ phần vay của bà O. Phần vay
của bà O, phía Công ty TNHH MTV V đã trả.
Trong quá trình kinh doanh khai thác mỏ đá, ông Cao Văn C Công ty
TNHH MTV V đã chuyển cho ông Trần Bình T 14.289.872.229 đồng, cụ thể:
Ngày 01-01-2016, chuyển cho ông Trần Bình T 1.100.000.000 đồng theo hợp
đồng làm đường, bóc tầng phủ san ủi mặt bằng; ngày 02-5-2019, chuyển cho ông T
10.000.000 đồng; ngày 08-3-2018, Phan Thị M trả cho ông T 420.000.000 đồng
tiền mặt; ngày 16-3-2018, nhờ ông Nguyễn Huy C1 chuyển cho ông T
2.099.307.229 đồng; ngày 08-3-2018, chuyển tiền vào Công ty TNHH D của ông T
1.300.000.000 đồng; ngày 13-4-2018, chuyển tiền trả nợ cho ông T 320.000.000
đồng; ngày 14-4-2018, ông T viết giấy tay trừ nợ 320.000.000 đồng; ngày 03-4-
2018, chuyển tiền vào Công ty TNHH D của ông T 446.656.000 đồng; năm 2018,
ông T giấy viết tay nhận tiền tNgân hàng stiền 1.900.000.000 đồng; ngày
28-10-2017, nhờ Doanh nghiệp B2 chuyển cho ông T 419.000.000 đồng; ngày 05-
9-2017, chuyển khoản cho Công ty TNHH D của ông T 700.000.000 đồng tiền hợp
đồng bốc tầng phủ, san ủi mặt bằng; ngày 13-9-2017, chuyển vào Công ty TNHH D
của ông T 1.150.000.000 đồng; ngày 08-3-2018, Công ty TNHH MTV V chuyển
khoản cho Doanh nghiệp nhân B2 để chuyển cho ông T 200.000.000 đồng; năm
2018, bà M chuyển cho ông T 25.000.000 đồng; ngày 03-10-2018, chuyển vào
Công ty TNHH D của ông T 1.720.000.000 đồng; ngày 07-10-2018, chuyển vào
Công ty TNHH D của ông T 300.000.000 đồng; ngày 07-10-2018, chuyển vào
Công ty TNHH D của ông T 480.000.000 đồng ngày 08-3-2018, chuyển vào
Công ty TNHH D của ông T 300.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà ông Trần bình T4 đã chuyển khoản vào tài khoản
nhân ông Cao Văn C tài khoản Công ty TNHH MTV V 11.482.500.000 đồng
(mười một tỷ bốn trăm m mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Ông T4 đã nhận
từ Công ty TNHH MTV V 14.289.872.229 đồng (mười bốn tỷ hai trămm mươi
chín triệu tám trăm bảy hai nghìn hai trăm hai chín đồng). Do đó, ông T4 còn nợ
Công ty TNHH MTV V số tiền 2.807.372.229 đồng; ngoài ra, vợ chồng ông T4,
K đã vay của vợ chồng ông (C) 330.000.000 đồng theo Hợp đồng vay ngày 21-
11-2011, nên yêu cầu vợ chồng ông T4 trả lại cho ông số tiền này.
2.2. Đối với số tiền 7.377.809.000 đồng ông Nguyễn Văn T1 chuyển vào
Công ty TNHH MTV V, ông Cao Văn C giải trình:
Ngày 21-10-2011, góp vốn 330.000.000 đồng (theo hợp đồng góp vốn); ngày
28-02-2019, góp vốn 3.607.037.000 đồng, số tiền này ông T1 tự chi tiêu, Công ty
không quản lý; ngày 30-9-2016, chuyển cho Công ty 200.000.000 đồng; ngày 08-3-
2017, chuyển cho Công ty 596.050.000 đồng; ngày 29-8-2017, chuyển cho Công ty
500.000.000 đồng; ngày 12-9-2017, chuyển cho Công ty 400.000.000 đồng; ngày
21-11-2017, chuyển cho Công ty 5.700.000 đồng; ngày 16-10-2018, chuyển cho
Công ty 760.000.000 đồng ngày 09-11-2018, chuyển cho Công ty 615.000.000
đồng.
8
Đối với số tiền 364.022.000 đồng, ông Nguyễn Văn T1 cho rằng gửi nhờ Công
ty bán nguyên vật liệu giúp, đề nghị ông T1 tự làm việc với nơi ông T1 giao hàng,
Công ty không biết sự việc trên.
Trong quá trình kinh doanh khai thác mỏ đá, ông Cao Văn C và Công ty
TNHH MTV V đã chuyển cho ông T1 8.437.206.000 đồng, cụ thể:
Ngày 16-10-2018, Công ty chuyển cho ông T1 470.000.000 đồng; ngày 19-12-
2017, bà Phan Thị M chuyển cho con gái ông T1 65.000.000 đồng; ngày 04-4-2016,
Công ty đưa tiền mặt cho ông T1 1.870.000.000 đồng; ngày 07-12-2018, Công ty
nhờ ông Nguyễn Duy T5 thanh toán cho ông T1 20.000.000 đồng; năm 2017, bà
Phan Thị M đưa tiền mặt cho ông T1 470.000.000 đồng; từ ngày 07-10-2018 đến
ngày 15-12-2019, Công ty trả cho ông T1 số tiền gốc lãi 285.000.000 đồng;
năm 2017, Công ty đưa ông T1 633.600.000 đồng; ngày 16-3-2018, Công ty nhờ
ông Nguyễn Huy C1 đưa ông T1 50.000.000 đồng; ngày 30-9-2019, bà Phan Thị M
đưa tiền mặt cho ông T1 340.000.000 đồng; ngày 30-9-2019, Phan Thị M đưa
tiền mặt cho ông T1 2.210.690.000 đồng; ngày 21-12-2018, Công ty đưa ông T1
50.000.000 đồng; ngày 24-11-2017, Phan Thị M chuyển cho ông T1
120.000.000 đồng; ngày 18-7-2017, Trần Thị L1 chuyển cho ông T1 50.000.000
đồng; ngày 18-7-2017, ông C chuyển khoản cho con gái ông T1 100.000.000 đồng;
năm 2018, ông C cho ông T1 vay 10.000.000 đồng; ngày 31-10-2018, Công ty đưa
cho ông T1 70.000.000 đồng; tháng 4-2017, Công ty đưa cho ông T1 43.416.000
đồng tiền đá; ngày 18-10-2018, bà Phan Thị M đưa cho ông T1 tiền mặt
190.000.000 đồng; ngày 31-10-2018, Công ty chuyển khoản cho ông T1 51.000.000
đồng; ngày 31-10-2018, Công ty chuyển khoản cho ông T1 19.000.000 đồng; ngày
24-11-2017, Công ty chuyển khoản cho ông T1 80.000.000 đồng; ngày 28-11-2018,
Công ty vay giúp ông T1 150.000.000 đồng; ngày 20-9-2017, bà Phan Thị M
chuyển khoản cho ông T1 15.000.000 đồng; ngày 29-10-2016, Công ty chuyển
khoản cho ông T1 1.010.000.000 đồng; ngày 31-01-2017, ông C đưa tiền mặt cho
ông T1 15.000.000 đồng; ngày 22-12-2017, Công ty chuyển cho ông T1 20.000.000
đồng và ngày 19-6-2017, Công ty vay tiền mặt đưa cho ông T1 29.500.000 đồng.
Tổng số tiền ông Nguyễn Văn T1 đã chuyển khoản vào tài khoản nhân
ông Cao Văn C tài khoản Công ty TNHH MTV V 7.377.809.000 (bảy tỷ ba
trăm bảy mươi bảy triệu tám trăm linh chín nghìn đồng). Ông T1 đã nhận từ Công
ty TNHH MTV V 8.437.206.000 đồng (tám tỷ bốn trăm ba mươi bảy triệu hai
trăm linh sáu nghìn đồng). Ngoài ra, số tiền 880.000.000 đồng mua xe, ông T1 chưa
bàn giao xe, nhưng trả lại tiền cho Công ty. Đề nghị Tòa án buộc ông T1 trả lại số
tiền này.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Phan Thị M trình bày:
vợ ông Cao Văn C, bà xác nhận số tiền ông C đã trình bày ở trên liên
quan tới bà. Số tiền 150.000.000 đồng ông Nguyễn Văn T1 đưa cho ông Khắc P
để đền đất, ông P xác nhận đã đưa cho bà, nhưng không biết chưa nhận
150.000.000 đồng này.
3.2. Ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Khoảng năm 2016, ông thực hiện thi công công trình cáp điện cho mỏ đá
của Công ty TNHH MTV V. Khi thực hiện, hai bên chỉ thỏa thuận miệng mà không
9
ký kết hợp đồng. Sau khi hoàn thành xong công trình và đưa vào vận hành, Công ty
đã chuyển trả cho ông 200.000.000 đồng. Số tiền này do ông Nguyễn Văn T1 đại
diện Công ty TNHH MTV V chuyển cho ông.
3.3. Vũ Thị O trình bày:
Ngày 28-9-2015, ông Cao Văn C nhờ ông Trần Bình T bảo lãnh để vay của
1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng); ngày 13-10-2015, ông T đã trả thay ông C.
Ngày 15-8-2016, ông C lại tiếp tục nhờ ông T bảo lãnh để vay của bà 2.094.750.000
đồng (hai tỷ không trăm chín mươi triệu bảy trăm m mươi nghìn đồng); ngày
26-8-2016, ông T đã chuyển khoản trả cho bà 1.599.000.000 đồng (một tỷ năm trăm
chín mươi chín triệu đồng) ngày 30-8-2016, ông T chuyển khoản trả
500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
3.4. Phan Thị T3 trình bày:
với ông Nguyễn Văn T1 ông Cao Văn C không quan hệ làm ăn liên
quan đến Công ty TNHH MTV V. thể từ năm 2017 đến năm 2020, ông T1 đã
mua một số vật tư của cửa hàng của bà để phục vụ khai thác m đá, khi mua hai bên
đã thanh toán đầy đủ.
3.5. Trần Thị K trình bày:
Bà là vợ của ông Trần Bình T; ngày 21-10-2011, vợ chồng bà và vợ chồng ông
Nguyễn Văn T1, cùng với ông Cao Văn C làm hợp đồng hợp tác kinh doanh mỏ
đá; trong đó, v chồng góp vốn 330.000.000 đồng. Ông T thay mặt kinh
doanh mỏ đá. Việc kinh doanh cụ thể ra sao không nắm được, toàn bộ quá trình
kinh doanh do ông T làm việc. Ông Cao Văn C cho rằng ngày 21-10-2011, vợ
chồng bà vay của ông C, bà M 330.000.000 đồng là hoàn toàn sai sự thật.
3.6. Phạm Thị L trình bày:
vợ của ông Nguyễn Văn T1; ngày 21-10-2011, vchồng bà và vchồng
ông Nguyễn Văn T1, cùng với ông Cao Văn C có làm hợp đồng hợp tác kinh doanh
mỏ đá; trong đó, vợ chồng góp vốn 330.000.000 đồng. Ông T1 thay mặt làm
việc kinh doanh mỏ đá. Việc kinh doanh bà không nắm được, toàn bộ quá trình kinh
doanh do ông T1 làm việc. Ông Cao Văn C cho rằng ngày 21-10-2011, vợ chồng bà
vay của ông C, bà M 330.000.000 đồng là hoàn toàn sai sự thật.
3.7. Chị Nguyễn Thị Hồng X trình bày:
Ngày 19-12-2017, Phan Thị M chuyển khoản vào tài khoản của chị
65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng). Số tiền này chị nhận, nhưng nhận
tiền ngày 19-9-2017. Đây tiền nhân ông Cao Văn C nhờ chị vay Phan
Thị M trả số tiền đã vay đó cho chị thay ông C. Số tiền này không liên quan đến
ông Nguyễn Văn T1. Ông Cao Văn C cho rằng ngày 18-7-2017, chuyển cho chị
100.000.000 đồng là không đúng.
3.8. Ông Lê Khắc P trình bày:
Năm 2017, ông đang Kế toán của Công ty TNHH MTV V. Ngày 18-11-
2017, ông Nguyễn Văn T1 chuyển khoản cho ông 150.000.000 đồng (một trăm
năm mươi triệu đồng) để ông rút tiền mặt giao cho vợ ông Cao Văn C Phan
Thị M để mua thêm đất khai thác khu vực mỏ đá.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 15-
9-2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
10
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều
227, Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân
sự; các Điều 504, 506, 507, 509, 574, 575 576 của Bộ luật Dân snăm 2015;
Điều 3 Điều 21 của Luật Đầu năm 2020; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Bình T ông Nguyễn
Văn T1.
1. Công nhận phần vốn góp của ông Trần Bình T cùng với Công ty TNHH
MTV V 5.195.713.000 đồng (năm t một trăm chín mươi lăm triệu bảy trăm
mười ba nghìn đồng). Ông T quyền yêu cầu Công ty TNHH MTV V ng khai
sổ sách liên quan đến việc kinh doanh khai thác mỏ đá tại địa chỉ Thôn A, C
huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 30 hằng tháng và hưởng lợi nhuận theo tlệ góp
vốn.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Bình T về việc công nhận phần vốn
góp của ông T vào Công ty TNHH MTV V với số tiền là 6.555000.000 đồng (sáu tỷ
năm trăm năm mưới lăm triệu đồng).
- Buộc ông Cao Văn C phải trả cho ông Trần Bình T số tiền ông T đã trả
nợ cho ông C là 454.750.000 đồng (bốn trăm năm mươi tư triệu bảy trăm năm mươi
nghìn đồng).
2. Công nhận phần vốn góp của ông Nguyễn Văn T1 cùng với Công ty TNHH
MTV V là 3.937.037.000 đồng (ba tỷ chín trăm bay mươi bảy triệu không trăm ba
bảy nghìn đồng). Ông T1 quyền yêu cầu Công ty TNHH MTV V công khai sổ
sách liên quan đến việc kinh doanh khai thác mỏ đá tại địa chỉ Thôn A, xã C huyện
E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 30 hằng tháng tại và hưởng lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn.
- Không chấp nhận yêu cầu công nhận phần vốn góp của ông Nguyễn Văn T1
vào Công ty TNHH MTV V với số tiền là 376.000.000 đồng (ba trăm bảy mươi sáu
triệu đồng).
- Buộc Công ty TNHH MTV V phải trả cho ông Nguyễn Văn T1 số tiền
ông T1 đã ứng cho Công ty V vay trong quá trình kinh doanh khai thác mỏ đá
1.696.050.000 đồng (một tỷ sáu trăm chín ơi sáu triệu không trăm m mươi
nghìn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T1 về việc buộc Công ty
TNHH MTV V trả cho ông T1 số tiền đã cho vay là 364.022.000 đồng (ba trăm sáu
mươi tư triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng).
- Ngày 22-9-2023, bị đơn Công ty TNHH MTV V kháng cáo, đnghị hủy
toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại.
- Ngày 23-9-2023, nguyên đơn ông Trần Bình T ông Nguyễn Văn T1
kháng cáo bản án, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giám định tài liệu có liên quan đến
số tiền 330.000.000 đồng trong hợp đồng vay tiền giữa vợ chồng các nguyên đơn
với vợ chồng ông Cao Văn C, từ đó buộc bị đơn phải hoàn trả số tiền này.
11
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết
quả tranh luận tại phiên tòa; trên sở xem xét đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, ý
kiến của kiểm sát viên và của các đương sự,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Sau khi xét xử thẩm, nguyên đơn bị đơn đều kháng cáo bản án. Đơn
kháng cáo của các đương sự là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên kháng cáo; bị đơn thay đổi nội dung
kháng cáo, đnghị Tòa án cấp phúc thẩm tính phần kinh doanh bị thua lỗ để khấu
trừ số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn. Như vậy, các đương sự không thoả thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét x
phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
- Sửa Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 15-
9-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
[2]. Xét kháng cáo của các đương sự:
Do cả nguyên đơn bị đơn đều kháng cáo bản án, nên Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét, giải quyết cùng nội dung.
[2.1]. Về tố tụng:
Nguyên đơn (ông Trần Bình T và ông Nguyễn Văn T1) khởi kiện yêu cầu Tòa
án công nhận phần vốn góp của nguyên đơn vào Công ty TNHH MTV V và yêu cầu
Công ty TNHH MTV V trả lại số tiền nguyên đơn đã cho Công ty vay. Toà án
cấp sơ thẩm thụ xác định quan hệ pháp luật giải quyết trong vụ án “Tranh
chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa nhân, tổ chức
đăng kinh doanh với nhau đều mục đích lợi nhuận” đúng quy định tại
Điều 30, khoản 1 Điều 37 và Điều 38 của Bộ Luật Tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần T7, Công ty TNHH
MTV Đ1, Công ty TNHH MTV T6, Thị O, ông Khắc P, ông Nguyễn Văn
Đ ông Đào Ngọc Q vắng mặt, nhưng đã được tống đạt hợp lệ. Tòa án cấp
thẩm xét xử vắng mặt các đương sự đúng quy định tại 1 Điều 228 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2.2]. Về nội dung:
[2.2.1]. Đối với số tiền ông Trần Bình T p vốn vào Công ty TNHH MTV V:
12
Ông Trần Bình T cho rằng trong quá trình hợp tác kinh doanh mỏ đá, ông đã
góp vốn vào Công ty TNHH MTV V tổng số tiền là 11.750.713.000 đồng, cụ thể:
Ngày 21-10-2011, góp vốn 330.000.000 đồng; ngày 10-4-2015, góp vốn
15.000.000 đồng; ngày 25-5-2015, góp vốn 7.000.000 đồng, ngày 07-7-2015, góp
vốn 10.000.000 đồng; ngày 09-11-2015, góp vốn 30.000.000 đồng; ngày 10-3-
2016,góp vốn 50.000.000 đồng; ngày 30-6-2016, góp vốn 20.000.000 đồng; ngày
07-10-2016, góp vốn 40.000.000 đồng; ngày 01-11-2016, góp vốn 7.000.000 đồng;
ngày 22-11-2016, góp vốn 30.000.000 đồng; ngày 08-01-2016, góp vốn
100.000.000 đồng; ngày 30-12-2016, góp vốn 30.000.000 đồng; ngày 09-01-2017,
góp vốn 5.000.000 đồng; ngày 14-3-2017 ngày 15-3-2017, góp vốn 35.000.000
đồng; ngày 29-6-2017, góp vốn 270.000.000 đồng; ngày 16-8-2017, góp vốn
40.000.000 đồng; ngày 31-8-2017 góp vốn 180.000.000 đồng; ngày 13-9-2017 góp
vốn 9.500.000 đồng; ngày 19-10-2017,góp vốn 25.000.000 đồng; ngày 25-12-2017,
góp vốn 2.000.000.000 đồng; ngày 05-3-2018, góp vốn 2.000.000.000 đồng; ngày
14-3-2018, góp vốn 2.000.000.000 đồng; ngày 16-10-2018, góp vốn 2.000.000.000
đồng.
Ngoài số tiền góp vốn nêu trên, ông Trần Bình T còn cho rằng tính đến ngày
30-10-2018, số tiền mặt góp vốn của ông là 2.517.213.000 đồng.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm
sẽ xem xét, đánh giá tính hợp pháp của từng lần góp vốn như sau:
- Đối với Hợp đồng góp vốn ngày 21-10-2011, số vốn góp 330.000.000
đồng:
Ngày 21-10-2011, ông Cao Văn C vợ chồng ông Trần Bình T tự nguyện
thỏa thuận kết hợp đồng góp vốn kinh doanh khai thác mđá tại Phòng Công
chứng số C tỉnh Đắk Lắk. Theo nội dung trong hợp đồng, ông Cao Văn C Giám
đốc Công ty TNHH MTV V góp vốn bằng quyền sử dụng đất trữ lượng đá được
Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn tỉnh Đ cấp cho công ty TNHH MTV V
diện tích 05 (năm) H1, với giá trị 340.000.000 đồng (ba trăm bốn ơi triệu
đồng). Vợ chồng ông Trần Bình T góp vốn 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi
triệu đồng).Toàn bộ số tiền trên được giao cho ông Cao Văn C quản lý, việc chi tiêu
số tiền trên phải được sự đồng ý của cả ba bên góp vốn.
Xét thấy, ông Cao Văn C vợ chồng ông Trần Bình T kết hợp đồng góp
vốn kinh doanh nêu trên tự nguyện. Theo Điều 3 Hợp đồng, việc sử dụng vốn
góp của ông T nhằm mục đích làm Giấy phép khai thác đá cho Công ty TNHH
MTV V, ng như mua sắm trang thiết bị, máy móc sở vật chất đđủ điều
kiện kinh doanh khai thác mỏ đá. Mục đích góp vốn của ông T chỉ để khai thác,
kinh doanh mỏ đá, không phải là góp vốn vào Công ty TNHH MTV V. Căn cứ
khoản 14 Điều 3 của Luật Đầu tư, Điều 504 của Bộ luật Dân sự, thì Hợp đồng giữa
ông Cao Văn C với vợ chồng ông Trần Bình T Hợp đồng hợp tác kinh doanh,
không phải hợp đồng góp vốn.
Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định ngày 21-10-2021, ông Trần Bình T đã góp vốn
để hợp tác kinh doanh với Công ty TNHH MTV V số tiền 330.000.000 đồng. Do
đó, theo Điều 8 của Hợp đồng góp vốn kinh doanh, ông Trần Bình T quyền yêu
cầu công khai sổ sách kế toán vào ngày 30 hằng tháng phân chia lợi nhuận từ
việc khai thác đá với Công ty TNHH MTV V theo tỷ lệ vốn góp.
13
- Đối với số tiền 15.000.000 đồng góp vốn ngày 10-4-2015 và 20.000.000 đồng
góp vốn ngày 30-6-2016 (tổng cộng là 35.000.000 đồng):
Công ty TNHH MTV V không thừa nhận đã nhận số tiền này, nhưng căn cứ
vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, sở để xác định ông Trần Bình T
nộp tiền vào tài khoản của ông Cao Văn C, cụ thể: Ngày 10-4-2015, góp vốn
15.000.000; ngày 30-6-2016, góp vốn 20.000.000 đồng; phía Công ty TNHH MTV
V không cung cấp được tài liệu, chứng cứ liên quan đến các khoản tiền này. Vì vậy,
đủ sở để xác định ngày 10-4-2015 vàngày 30-6-2016, ông T đã chuyển cho
ông C tổng số tiền 35.000.000 đồng để phục vụ khai thác mỏ đá. Tuy nhiên, số
tiền này không được hai bên ký kết hợp đồng hợp tác, nên xác định số tiền ông T
đã cho Công ty V vay đphục vụ hoạt động kinh doanh khai thác mỏ đá. Ông T
quyền yêu cầu Công ty V trả lại.
- Đối với số tiền 35.000.000 đồng góp vốn ngày 15-3-2017:
Số tiền nêu trên được ông Trần Bình T chuyển cho ông Nguyễn Văn T1 ngày
14-3-2017 ngày 15-3-2015 để ông T1 bàn giao cho Công ty TNHH MTV V,
nhưng phía Công ty cho rằng không nhận được khoản tiền này từ ông T1. Trong
quá trình giải quyết vụ án, ông T ông T1 cũng không cung cấp được được tài
liệu, chứng cứ thể hiện đã bàn giao tiền cho Công ty TNHH MTV V. Vì vậy, không
sở để chấp nhận yêu cầu công nhận phần vốn góp của ông Trần Bình T vào
Công ty TNHH MTV V đối với số tiền là 35.000.000 đồng.
- Đối với số tiền 270.000.000 đồng góp vốn ngày 29-6-2017; 180.000.000
đồng góp vốn ngày 31-8-2017; 2.000.000.000 đồng góp vốn ngày 25-12-2017
2.000.000.000 đồng góp vốn ngày 16-10-2018:
Tại Bản cung cấp tài liệu, chứng cứ ngày 26-5-2023 (do Công ty TNHH MTV
V cung cấp), thì Công ty cho rằng đã trả lại toàn bộ số tiền nêu trên cho ông Trần
Bình T, nhưng Công ty không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc
trả tiền của mình; phía ông Trần Bình T cho rằng không nhận được số tiền này từ
Công ty. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định ông Trần Bình T đã chuyển tiền cho Công
ty TNHH MTV V, cụ thể: Ngày 29-6-2017, chuyển 270.000.000 đồng; ngày 31-8-
2017, chuyển 180.000.000 đồng; ngày 25-12-2017, chuyển 2.000.000.000 đồng
ngày 16-10-2018, chuyển 2.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, số tiền này không được
hai bên kết hợp đồng hợp tác, nên xác định tiền ông T đã cho Công ty TNHH
MTV V vay để phục vụ hoạt động kinh doanh khai thác mỏ đá. Ông T có quyền yêu
cầu Công ty V trả lại.
- Đối với số tiền 2.000.000.000 đồng góp vốn ngày 05-3-2018:
Tại Bản cung cấp tài liệu, chứng cứ ngày 26-5-2023 (do Công ty TNHH MTV
V cung cấp),thì Công ty cho rằng đã nhờ ông Nguyễn Huy C1 chuyển lại cho ông
Trần Bình T số tiền 2.099.307.229 đồng. Tuy nhiên, căn cứ Giấy xác nhận ngày
30-5-2019, thì khoản tiền này ông T đã gửi lại cho Công ty. Vì vậy, đủ sở để
xác định ngày 05-3-2018, ông T đã chuyển cho Công ty TNHH MTV V
2.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, số tiền này không được hai bên kết hợp đồng
hợp tác, nên xác định tiền ông T đã cho Công ty TNHH MTV V vay để phục vụ
hoạt động kinh doanh khai thác mỏ đá. Ông T quyền yêu cầu Công ty TNHH
MTV V trả lại.
14
- Đối với số tiền 7.000.000 đồng góp vốn ngày 25-5-2015; 10.000.000
đồnggóp vốn ngày 07-07-2015; 30.000.000 đồng góp vốn ngày 09-11-2015;
50.000.000 đồng góp vốn ngày 10-3-2016; 40.000.000 đồng góp vốn ngày 07-10-
2016; 7.000.000 đồng góp vốn ngày 01-11-2016; 30.000.000 đồng góp vốn ngày
22-11-2016; 100.000.000 đồng góp vốn ngày 08-01-2016; 40.000.000 đồng góp
vốn ngày 16-8-2017; 9.500.000 đồng góp vốn ngày 13-9-2017; 25.000.000 đồng
góp vốn ngày 19-10-2017 2.000.000.000 đồng góp vốn ngày 16-10-2018 (tổng
cộng là 2.348.500.000 đồng):
Ông Trần Bình T xác định đã góp vốn vào Công ty TNHH MTV V tổng số
tiền nêu trên được ghi nhận trong Giấy biên nhận tiền ngày 30-10-2018 (bút lục
số 95); phía Công ty ng thừa nhận đã nhận số tiền này của ông T góp đkinh
doanh mỏ đá (bút lục số 226-229). vậy, sở để xác định ông T đã góp vốn
để kinh doanh m đá với Công ty TNHH MTV V số tiền là 2.348.500.000 đồng.
- Đối với số tiền 30.000.000 đồng góp vốn ngày 30-12-2016 và 5.000.000 đồng
góp vốn ngày 09-01-2017 (tổng cộng là 35.000.000 đồng):
Ông Trần Bình T cho rằng đã góp số tiền trên vào Công ty TNHH MTV V,
nhưng trong nội dung chuyển tiền không ghi mục đích chuyển; phía Công ty
TNHH MTV V xác nhận nhận số tiền này của ông T đó khoản vay, không
phải khoản vốn góp. vậy, xác định đây số tiền ông T đã cho Công ty TNHH
MTV V vay.
- Đối với số tiền 2.517.213.000 đồng tính đến ngày 30-10-2018:
Căn cứ Giấy biên nhận tiền ngày 30-10-2018 (bút lục số 95), thì tnăm 2011
đến năm 2018, Công ty TNHH MTV V đã nhận của ông Trần Bình T tổng số tiền là
5.522.400.000 đồng (năm tnăm trăm hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Số
tiền này đã bao gồm những khoản tiền sau: Ngày 25-5-2015, góp vốn 7.000.000
đồng;ngày 07-7-2015, góp vốn 10.000.000 đồng; ngày 10-3-2016, góp vốn
50.000.000 đồng;ngày 07-10-2016, góp vốn 40.000.000 đồng; ngày 01-11-2016,
góp vốn 7.000.000 đồng; ngày 22-11-2016, góp vốn 30.000.000 đồng; ngày 08-01-
2016,góp vốn 100.000.000 đồng; ngày 30-12-2016, góp vốn 30.000.000 đồng; ngày
13-9-2017, góp vốn 9.500.000 đồng; ngày 16-8-2017, góp vốn 40.000.000 đồng;
ngày 19-10-2017, góp vốn 25.000.000 đồng ngày 16-10-2018, góp vốn
2.000.000.000 đồng. Tổng số tiền Công ty TNHH MTV V xác nhận đã nhận từ
ông T theo Giấy nhận tiền ngày 30-10-2018 là: 2.348.500.000 đồng (hai tỷ ba trăm
bốn mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng). Ngoài số tiền trên, ông T còn góp vốn
vào Công ty TNHH MTV V là: 5.522.400.000 đồng - 2.348.500.000 đồng =
3.173.900.000 đồng (ba tỷ một trăm bảy mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng). Tuy
nhiên, hiện nay ông T chỉ khai yêu cầu công nhận phần vốn góp bằng tiền mặt
của ông T vào Công ty TNHH MTV V 2.517.213.000 đồng. Vì vậy, căn cứ Giấy
biên nhận tiền ngày 30-10-2018 và Bản cung cấp tài liệu, chứng cứ ngày 26-5-2023
(do Công ty TNHH MTV V cung cấp) đủ sở đxác định ông Trần Bình T đã
góp tiền mặt vào Công ty TNHH MTV V 2.517.213.000 đồng (hai tnăm trăm
mười bảy triệu hai trăm mười ba nghìn đồng).
- Đối với số tiền Công ty TNHH MTV V đã trả lại ông Trần Bình T:
Ngày 01-01-2016, Công ty TNHH MTV V chuyển 1.100.000.000 đồng cho
ông Trần Bình T để làm đường, bóc tầng phủ san ủi mặt bằng; ngày 02-5-2019, trả
15
ông T 10.000.000 đồng; ngày 08-3-2018, trả ông T 420.000.000 đồng; ngày 16-3-
2018, trả ông T 2.099.307.229 đồng (ông Nguyễn Huy C1 trả thay); ngày 08-3-
2018, trả ông T 1.300.000.000 đồng tiền san lấp mặt bằng; ngày 13-4-2018, trả ông
T 320.000.000 đồng; ngày 14-4-2018, trả ông T 320.000.000 đồng; ngày 03-4-
2018, trả ông T 446.565.000 đồng; năm 2018, trả ông T 1.900.000.000 đồng; ngày
28-10-2017, chuyển cho Công ty D 1.080.000.000 đồng; ngày 28-10-2018, trả ông
T 419.000.000 đồng (Doanh nghiệp B2 nộp thay); ngày 05-9-2017, chuyển cho
Công ty D 700.000.000 đồng tiền san lấp mặt bằng; ngày 08-3-2018, trả ông T
200.000.000 đồng (Doanh nghiệp B2 nộp thay); năm 2018, trả ông T 25.000.000
đồng (bà Phan Thị M chuyển thay); ngày 03-10-2018, chuyển cho Công ty D
1.720.000.000 đồng; ngày 07-10-2018, chuyển cho Công ty D 300.000.000 đồng;
ngày 07-10-2018, chuyển cho Công ty D 480.000.000 đồng; ngày 08-3-2018,
chuyển cho Công ty D 300.000.000 đồng.
Ngoài ra, Công ty TNHH MTV V còn khai chuyển cho Công ty D
1.150.000.000 đồng, nhưng không nhớ rõ ngày tháng và cũng không cung cấp được
tài liệu liên quan.
+ Đối với số tiền 1.100.000.000 đồng, Công ty TNHH MTV V trả cho ông
Trần Bình T ngày 01-01-2016; 700.000.000 đồng trả cho ông T ngày 05-9-2017
1.300.000.000 đồng trả cho ông T ngày 08-3-2018:
Căn cứ Hợp đồng san lấp số 01/2017/HĐKT ngày 01-9-2017; Biên bản hủy
hợp đồng san lấp số 01/2017/HĐKT ngày 01-9-2017; Hợp đồng san lấp số
02/2017/HĐKT, Biên bản hủy hợp đồng san lấp số 02/2017/HĐKT Hợp đồng
san lấp số 03/2017/HĐKT cùng ngày 01-3-2018; Biên bản hủy hợp đồng san lấp số
03/2017/HĐKT và Hợp đồng san lấp số 04/2017/HĐKT cùng ngày 23-3-2018; Biên
bản hủy hợp đồng san lấp số 04/2017/HĐKT Hợp đồng san lấp số
07/2017/HĐKT cùng ngày 05-7-2018 Biên bản thanh hợp đồng san lấp số
07/2017/HĐKT, thì số tiền trên nhằm mục đích đặt cọc để thực hiện các Hợp đồng
san lấp. Từ Hợp đồng số 01 đến hợp đồng số 05 đều đã được hủy và lập biên bản
hủy hợp đồng ngay sau ngày kết, các bên đã trả lại nhau tiền cọc. Ngoài ra, tại
Biên bản thanh hợp đồng san lấp số 07/2017/HĐKT, các bên đã xác định thanh
toán đầy đủ tiền san lấp mặt bằng, không còn công nợ vviệc san lấp mặt bằng.
Như vậy, có đủ sở để xác định các khoản tiền nêu trên là để thực hiện Hợp đồng
san lấp giữa Công ty TNHH MTV V và Công ty D, chứ không phải để trả lại số tiền
mà ông T đã chuyển vào Công ty TNHH MTV V.
+ Đối với số tiền 320.000.000 đồng, Công ty TNHH MTV V trả ông Trần
Bình T ngày 14-4-2018; 446.565.000 đồng trả cho ông T ngày 03-4-2018;
419.000.000 đồng trả cho ông T ngày 28-10-2018; 200.000.000 đồng trả cho ông T
ngày 08-3-2018; 25.000.000 đồng trả cho ông T năm 2018; 1.080.000.000 đồng
chuyển cho Công ty D ngày 28-10-2017; 1.720.000.000 đồng chuyển cho Công ty
D ngày 03-10-2018; 300.000.000 đồng chuyển cho Công ty D ngày 07-10-2018;
480.000.000 đồng chuyển cho Công ty D ngày 07-10-2018; 300.000.000 đồng
chuyển cho Công ty D ngày 08-3-2018. Ngoài ra, Công ty TNHH MTV V còn khai
có chuyển cho Công ty D 1.150.000.000 đồng:
Công ty TNHH MTV V cho rằng đã chuyển số tiền nêu trên cho ông Trần
Bình T, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty không cung cấp được tài
16
liệu, chứng cứ để chứng minh việc đã chuyển tiền trả ông T. Do đó, không căn
cứ đchấp nhận việc Công ty TNHH MTV V đã chuyển trả stiền trên cho ông
Trần Bình T.
+ Đối với số tiền 10.000.000 đồng, Công ty TNHH MTV V chuyển cho ông
Trần Bình T ngày 02-5-2019:
Căn cứ Ủy nhiệm chi ngày 02-5-2019, Công ty TNHH MTV V đã chuyển cho
ông Trần Bình T số tiền 10.000.000 đồng, ông T cũng đã nhận số tiền trên
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ liên quan đến số tiềnnày. Do đó, đủ căn
cứ để xác định Công ty TNHH MTV V đã chuyển trả cho ông Trần Bình T số tiền
10.000.000 đồng, ông T đã ứng ra trong quá trình kinh doanh khai thác mỏ
đá.
Từ những phân tích trên, đủ sở để xác định ông Trần Bình T đã góp vốn
ng với Công ty TNHH MTV V để kinh doanh khai thác mỏ đá tại địa chỉ: Thôn
A, C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk với tổng s tiền là: 330.000.000 đồng +
2.348.500.000 đồng + 2.517.213.000 đồng = 5.195.713.000 đồng (năm tỷ một trăm
chín ơi lăm triệu bảy trăm mười ba nghìn đồng). Ông T quyền yêu cầu Công
ty TNHH MTV V công khai sổ sách kế toán được phân chia lợi nhuận từ việc
khai thác kinh doanh mỏ đá nêu trên.
Ngoài ra, ông Trần Bình T đã chuyển cho Công ty TNHH MTV V số tiền là:
35.000.000 đồng + 270.000.000 đồng + 180.000.000 đồng + 2.000.000.000 đồng +
2.000.000.000 đồng + 2.000.000.000 đồng + 35.000.000 đồng = 6.520.000.000
đồng. Ông Trần Bình T cho rằng đây tiền góp vốn vào Công ty TNHH MTV V
yêu cầu được công nhận, nhưng các tài liệu trong hồ vụ án không thể hiện
đây là tiền góp vốn. Vì vậy, ông Trần B1 có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự
khác để đòi số tiền 6.520.000.000 đồng (sáu tỷ năm trăm hai mươi triệu đồng) này.
- Đối với số tiền ông Trần Bình T cho ng ty TNHH MTV V vay:
Căn cứ Giấy vay tiền ngày 28-9-2015 ngày 15-8-2016 đủ sở để xác
định ngày 28-9-2015, ông Trần Bình T đã bảo lãnh cho ông Cao Văn C vay của
Thị O 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) để phục vụ khai thác, kinh doanh mỏ
đá. Ngày 15-8-2016, ông T đã bảo lãnh cho Công ty TNHH MTV V vay bà Thị
O 2.094.750.000 đồng (hai tỷ không trăm chín mươi triệu bảy trăm m mươi
nghìn đồng). O cũng xác nhận do ông T bảo lãnh, nên cho Công ty TNHH
MTV V vay tiền ông T đã trả thay Công ty toàn bộ số tiền này. Việc Công ty
TNHH MTV V cho rằng đã tự trả số tiền trên cho O là không cơ sở, bởi lẽ bà
O xác nhận số tiền trên do ông T trả thay. vậy, đcăn cứ đxác định ông T
đã trả thay cho Công ty khoản vay bà O 3.094.750.000 đồng. Căn cứ Điều 574
Điều 576 của Bộ luật Dân sự về “Thực hiện công việc không ủy quyền”, ông
Trần Bình T đã thực hiện thay cho Công ty N trả nợ cho O 3.094.750.000 đồng,
nên Công ty TNHH MTV V phải trách nhiệm trả lại cho ông T 3.094.750.000
đồng (ba tỷ không trăm chín mươi tư triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Đối với số tiền 420.000.000 đồng, Công ty TNHH MTV V trả cho ông Trần
Bình T ngày 08-3-2018; 320.000.000 đồng, Công ty trả cho ông T ngày 13-4-2018;
1.900.000.000 đồng, Công ty trả cho ông T năm 2018 (tổng số 2.640.000.000
đồng):
17
Đây số tiền ông Cao Văn C trả tiền vay cho ông Trần Bình T, ông T xác
nhận nhận số tiền này để thanh toán số tiền ông T trả thay cho Công ty TNHH
MTV V khoản vay bà Thị O. Vì vậy, có đủ căn cứ để xác định ông C đã chuyển
lại cho ông T 2.640.000.000 đồng (hai tỷ sáu trăm bốn mươi triệu đồng), mục đích
trả tiền vay.
Như vậy, Công ty TNHH MTV V còn nợ ông Trần Bình T số tiền là:
3.094.750.000 đồng - 2.640.000.000 đồng = 454.750.000 đồng (bốn trăm năm mươi
tư triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Đối với Hợp đồng vay 330.000.000 đồng ngày 21-10-2011:
Căn cứ Kết luận giám định số 644/KL-KTHS ngày 08-7-2022 của Phòng K1 -
Công an tỉnh Đ, sở để xác định, ngày 21-10-2011, ông Trần Bình T vợ
bà Trần Thị K đã vay của ông Cao Văn C số tiền là 330.000.000 đồng, nhưng đây
Hợp đồng vay tiền giữa nhân ông C với vợ chồng ông T, không liên quan tới
Công ty TNHH MTV V, nên không thể khấu trừ khoản vay này vào khoản ông
T đã cho Công ty TNHH MTV V vay. Ông C quyền khởi kiện Hợp đồng vay
trên bằng mt vụ án dân sự khác để yêu cầu ông T và bà K trả lại số tiền đã vay.
[2.2.2]. Đối với số tiền ông Nguyễn Văn T1 góp vốn vào Công ty TNHH MTV
V:
Trong quá trình hợp tác kinh doanh khai thác mỏ đá, ông Nguyễn Văn T1 xác
định góp vốn vào Công ty TNHH MTV V 4.313.037.000 đồng (bốn tỷ ba trăm
mười ba triệu không trăm ba bảy nghìn đồng), cụ thể: Ngày 21-10-2011, góp vốn
330.000.000 đồng theo Hợp đồng góp vốn ngày 21-10-2011; ngày 06-10-2015, góp
vốn 9.500.000 đồng tiền học nổ mìn; ngày 15-02-2016, góp vốn 1.900.000 đồng
tiền dầu san mặt bằng; ngày 30-9-2016, góp vốn 200.000.000 đồng tiền lắp ráp điện
cho Công ty; ngày 21-8-2017, góp vốn 3.900.000 đồng tiền mua dây cua roa máy
xay đá; ngày 18-9-2017, góp vốn 150.000.000 đồng tiền đền bù đất cho hộ gia đình;
ngày 21-11-2017, góp vốn 5.700.000 đồng tiền phục vụ khai thác đá; ngày 03-10-
2017, góp vốn 5.000.000 đồng tiền mua vật tư; ngày 28-02-2019, góp vốn bằng tiền
mặt 3.607.037.000 đồng theo Hợp đồng góp vốn kinh doanh khai thác mỏ đá ngày
28-02-2019.
- Đối với Hợp đồng góp vốn ngày 21-10-2011, số vốn góp 330.000.000
đồng:
Ngày 21-10-2011, ông Cao Văn C và vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 kết
Hợp đồng góp vốn kinh doanh khai thác mỏ đá tại Phòng Công chứng số C tỉnh
Đắk Lắk, với thỏa thuận: Ông Cao Văn C là Giám đốc Công ty TNHH MTV V góp
vốn bằng quyền sử dụng đất trữ lượng đá được Sở Nông nghiệp Phát triển
nông thôn tỉnh Đ cấp cho Công ty, với diện tích 05 (năm) H1, có giá trị là
340.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi triệu đồng); vợ chồng ông Nguyễn Văn T1
góp vốn 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu đồng). Toàn bộ số tiền trên được
giao cho ông Cao Văn C quản lý, việc chi tiêu số tiền trên phải được sự đồng ý của
cả ba bên góp vốn.
Xét thấy, ông Cao Văn C vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 kết hợp đồng
góp vốn kinh doanh tự nguyện. Theo Điều 3 của Hợp đồng, thì việc sdụng vốn
góp của ông T1 nhằm mục đích làm Giấy phép khai thác đá cho Công ty TNHH
MTV V, ng như mua sắm trang thiết bị, máy móc sở vật chất đđủ điều
18
kiện kinh doanh khai thác mỏ đá. Mục đích góp vốn của ông T1 chỉ để khai thác,
kinh doanh mỏ đá chứ không phải góp vốn vào Công ty TNHH MTV V. Căn cứ
khoản 14 Điều 3 của Luật Đầu tư, Điều 504 của Bộ luật Dân sự, thì Hợp đồng giữa
các bên là Hợp đồng hợp tác kinh doanh, không phải hợp đồng góp vốn.
vậy, sở đcông nhận ngày 21-10-2021, ông Nguyễn Văn T1 đã góp
vốn để hợp tác kinh doanh với Công ty TNHH MTV V số tiền là 330.000.000 đồng.
Căn cứ theo Điều 8 của Hợp đồng, thì ông T1 quyền yêu cầu công khai sổ sách
kế toán vào ngày 30 hằng tháng phân chia lợi nhuận từ việc khai thác đá với
Công ty TNHH MTV V theo tỷ lệ vốn góp.
- Đối với số tiền 3.607.037.000 đồng của ông Nguyễn Văn T1 góp vốn vào
Công ty TNHH MTV V tính đến ngày 28-02-2019:
Theo Hợp đồng góp vốn ngày 28-02-2019, thì Công ty TNHH MTV V xác
nhận ông Nguyễn Văn T1 góp vốn 3.607.037.000 đồng để kinh doanh khai thác
mỏ đá làm vật liệu xây dựng. Mục đích góp vốn của ông T1 là đkinh doanh khai
thác mỏ đá phân chia lợi nhuận từ việc khai thác đá, chứ không phải để mua
phần vốn góp hay cổ phần tại Công ty TNHH MTV V. vậy, ông T1 quyền
yêu cầu công khai sổ sách kế toán vào ngày 30 hằng tháng được phân chia lợi
nhuận từ việc khai thác đá với Công ty TNHH MTV V theo tỷ lệ góp vốn trong
Hợp đồng góp vốn.
- Đối với số tiền 9.500.000 đồng góp vốn ngày 06-10-2015; 200.000.000 đồng
góp vốn ngày 30-9-2016 và 5.700.000 đồnggóp vốn ngày 21-11-2017:
Các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện số tiền ngày 30-9-2016,
ông Nguyễn Văn T1 góp vốn 200.000.000 đồng tiền lắp ráp điện cho Công ty
TNHH MTV V ngày 21-11-2017 góp vốn 5.700.000 đồnglà tiền phục vkhai
thác đá, đều được Công ty xác nhận đã nhận số tiền góp vốn này (theo Bản cung
cấp tài liệu, chứng cứ ngày 26-5-2023). Tuy nhiên, đây là tiền do ông Thành ứng
cho Công ty đthanh toán các chi phí phục vụ khai thác đá lắp ráp điện, số tiền
này hai bên không ký kết hợp đồng góp vốn kinh doanh. Do đó, xác định đây là tiền
ông T1 trả trước cho Công ty TNHH MTV V để phục vụ hoạt động kinh doanh khai
thác mỏ đá, ông T1 quyền yêu cầu Công ty trả lại số tiền trên bằng một vụ án
dân sự khác.
Đối với số tiền 9.500.000 đồng ông Nguyễn Văn T1 góp vốn ngày 06-10-2015,
thì đây số tiền học nổ mìn ông T1 chi trả thay cho Công ty TNHH MTV V
Phiếu thu tiền của Trường đại học M2 địa chất về việc ông T1 đã nộp thay cho
Công ty. Vì vậy, có căn cứ xác định ngày 06-10-2015, ông T1 đã trả thay cho Công
ty tiền học nổ mìn là 9.500.000 đồng, nên không có cơ sở để xác định đây là số tiền
góp vốn. Ông T1 quyền yêu cầu Công ty TNHH MTV V trả lại số tiền trên bằng
một vụ án dân sự khác.
Như vậy, tổng số tiền ông Nguyễn Văn T1 đã trả trước cho Công ty TNHH
MTV V 200.000.000 đồng + 5.700.000 đồng + 9.500.000 đồng = 215.200.000
đồng (hai trăm mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng). Ông T1 quyền yêu cầu
Công ty V trả số tiền trên bằng một vụ án dân sự khác.
- Đối với số tiền 1.900.000 đồng góp vốn ngày 15-02-2016; 3.900.000 đồng
góp vốn ngày 21-8-2017 và 5.000.000 đồng góp vốn ngày 03-10-2017:
19
Ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu công nhận số tiền nêu trên phần vốn góp vào
Công ty TNHH MTV V để mua dầu thiết bị vật phục vụ kinh doanh mỏ đá.
Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ tại thời điểm mua chỉ Giấy nộp tiền
Hóa đơn giấy ghi “Đơn hàng mỏ đá Văn Chương”, nhưng không xác nhận t
phía Công ty TNHH MTV V về việc mua hàng, cũng như không biên bản bàn
giao những tài sản trên từ ông T1 cho Công ty. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận
yêu cầu công nhận số tiền ông T1 đã chi trả thay cho Công ty là: 1.900.000 đồng +
3.900.000 đồng + 5.000.000 đồng = 9.800.000 đồng.
- Đối với số tiền 150.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn T1 chi trả cho ông
Khắc P - Kế toán cũ của Công ty TNHH MTV V ngày 18-9-2017:
căn cứ để xác định ngày 18-9-2017, ông Nguyễn Văn T1 đã chuyển khoản
cho ông Khắc P 150.000.000 đồng. Theo lời khai ông P, sau khi nhận số tiền
này, ông đã giao cho Phan Thị M (vợ của ông C) để đền đất, nhưng ông P
không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc bàn giao tiền cho M,
còn M khẳng định không nhận được số tiền này. Vì vậy, không căn cứ để xác
định ông T1 đã chuyển cho Công ty TNHH MTV V 150.000.000 đồng để đền
đất.
Từ những phân tích trên, có cơ sở để xác định tổng số tiền ông Nguyễn Văn T1
đã góp vốn hợp tác kinh doanh với Công ty TNHH MTV V 330.000.000 đồng +
3.607.037.000 đồng = 3.937.037.000 đồng (ba tỷ chín trăm ba mươi bảy triệu không
trăm ba mươi bảy nghìn đồng). Ông T1 quyền yêu cầu Công ty TNHH MTV V
công khai sổ sách liên quan đến việc kinh doanh khai thác mỏ đá vào ngày 30 hằng
tháng và phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn của mình.
- Đối với số tiền ông Nguyễn Văn T1 cho Công ty TNHH MTV V vay:
Trong quá trình kinh doanh khai thác mỏ đá, ông Nguyễn Văn T1 đã cho Công
ty TNHH MTV V vay tổng số tiền là 2.820.072.000 đồng (hai tỷ tám trăm hai ơi
triệu không trăm bảy mươi hai nghìn đồng) cụ thể: Ngày 08-3-2017, cho vay
596.050.000 đồng; ngày 29-8-2017, cho vay 500.000.000 đồng đồng; ngày 30-8-
2017, cho vay 200.000.000 đồng; ngày 12-9-2017, cho vay 400.000.000 đồng; ngày
16-10-2018, cho vay 760.000.000 đồng (để phục vụ kinh doanh khai thác mỏ đá).
Đối với stiền trên, ông Nguyễn Văn T1 cung cấp đầy đủ chứng từ, giấy nộp
tiền chứng minh việc ông T1 đã cho Công ty TNHH MTV V vay, Công ty cũng xác
nhận vay ông T1 số tiền này. vậy, đủ sở để xác định ông T1 đã cho
Công ty TNHH MTV V vay tổng số tiền 2.456.050.000 đồng (hai tỷ bốn trăm
năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó, ông T1 xác nhận
đã nhận của Công ty 760.000.000 đồng (ngày 18-7-2017 nhận 50.000.000 đồng,
ngày 26-10-2018 nhận 470.000.000 đồng, ngày 31-10-2018 nhận 70.000.000 đồng,
ngày 28-11-2018 nhận 150.000.000 đồng ngày 17-12-2018 nhận 20.000.000
đồng).
Ngoài ra, ngày 19-12-2018, ông Nguyễn Văn T1 cho rằng nhờ Công ty
TNHH MTV V bán giúp nguyên vật liệu cho Công ty Cổ phần T7, nhưng Công ty
TNHH MTV V chưa trả hết cho ông T1, hiện tại Công ty còn nợ tiền vật liệu của
ông T1 là 364.022.000 đồng, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Tại Giấy viết tay ngày 19-12-2018, bảng chi tiết số tiền xe vận chuyển vật
liệu của ông T1 tổng giá trị 642.887.000 đồng. Ông thành đã lấy của Công ty
20
278.865.000 đồng, còn lại 364.022.000 đồng. Tuy nhiên, Giấy viết tay này không
có xác nhận của Công ty TNHH MTV V về số tiền vật liệu mà Công ty còn nợ. Ông
T1 không cung cấp được hợp đồng hay căn cứ để cho rằng ông T1 nhờ Công ty bán
giúp vật liệu xây dựng; phía Công ty Cổ phần T7 văn bản xác nhận đã trả hết
công nợ giữa Công ty Cổ phần T7 Asean với Công ty TNHH MTV V, chứ không
xác nhận số vật liệu đó mua của ông T1. vậy, không sở để chấp nhận
Công ty TNHH MTV V còn nợ ông Nguyễn Văn T1 364.022.000 đồng tiền nguyên
vật liệu xây dựng.
- Đối với Hợp đồng vay 330.000.0000 đồng ngày 21-10-2011:
Căn cứ Kết luận giám định s644/KL-KTHS ngày 08-7-2022 của Phòng K1 -
Công an tỉnh Đ, sở để xác định ngày 21-10-2011, ông Nguyễn Văn T1 vợ
Phạm Thị L đã vay của ông Cao Văn C số tiền 330.000.000 đồng, nhưng
đây là Hợp đồng vay tiền giữa cá nhân vợ chồng ông T1 ông C, không liên quan
tới Công ty TNHH MTV V. vậy, không thể khấu trừ khoản vay này vào khoản
ông T1 đã cho Công ty TNHH MTV V vay. Ông C quyền khởi kiện Hợp
đồng vay trên bằng một vụ án dân sự khác để yêu cầu ông T1 và L trả số tiền đã
vay.
- Đối với số tiền 1.870.000.000 đồng Công ty TNHH MTV V chi trả cho
ông Nguyễn Văn T1 theo Phiếu chi ngày 04-4-2016:
Công ty TNHH MTV V2 cho ông Nguyễn Văn T1 số tiền nêu trên để ông T1
mua xe máy đào xe tải. Căn cứ Hợp đồng mua bán số 02/2016 số 03/2016
ngày 02-4-2016, ông T1 Công ty đã hoàn tất thủ tục bán xe, đã bàn giao tiền
xe đầy đủ theo Hợp đồng. vậy, đây là khoản tiền Công ty TNHH MTV V bỏ ra
để mua xe của ông T1, không phải khoản tiền mà Công ty cho ông T1 vay.
- Đối với số tiền 50.000.000 đồng Công ty TNHH MTV V chuyển cho ông
Nguyễn Huy C1 ngày 16-3-2018:
Theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 25-01-2018, ông Cao n C chuyển cho ông
Nguyễn Huy C1 50.000.000 đồng, với mục đích cọc xe máy xay đá cho ông C1
ông Nguyễn Văn T1 cũng khẳng định việc chuyển 50.000.000 đồng để phục vụ
tháo ráp máy xay đá. Như vậy, không có cơ sở để xác định số tiền này là do Công ty
TNHH MTV V trả tiền góp vốn hay trả tiền vay cho ông T1.
- Đối với số tiền 51.000.000 đồng số tiền 19.000.000 đồng Công ty
TNHH MTV V đã chuyển cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 31-10-2018:
Căn cứ theo 02 Giấy ủy nhiệm chi ngày 31-10-2018, Công ty TNHH MTV V
chuyển cho ông T1 02 lần, số tiền là 51.000.000 đồng 19.000.000 đồng, với
nội dung “TRA TIEN LAI”. Ông T1 cũng xác định đây số tiền Công ty trả tiền
lãi cho ông. vậy, không căn cứ xác định số tiền trên do Công ty TNHH
MTV V chuyển trả tiền góp vốn hay tiền vay của ông T1.
- Đối với số tiền 22.500.000 đồng Công ty TNHH MTV V đã chi tiền mặt
cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 06-5-2017:
Căn cứ Phiếu chi ngày 06-5-2017, Công ty TNHH MTV V đã đưa cho ông
Nguyễn Văn T1 số tiền nêu trên để mua đồ khoản chi phục vkinh doanh khai
thác mỏ đá. vậy, không sở để xác định số tiền này do Công ty TNHH
MTV V chuyển trả tiền góp vốn hay tiền vay của ông T1.
21
- Đối với số tiền 65.000.000 đồng ngày 19-12-2017 số tiền 100.000.000
đồng ngày 18-7-2017 Công ty TNHH MTV V cho rằng đã chuyển cho chị
Nguyễn Thị Hồng X (là con gái ông T1):
Căn cứ bản tự khai của chị Nguyễn Thị Hồng X, bản sao kê tài khoản Ngân
hàng của chị X, thì chị X xác nhận nhận 65.000.000 đồng, nhưng đây là tiền
nhân ông Cao Văn C vay của chị và Phan Thị M (vợ ông C) trả thay ông C, còn
số tiền 100.000.000 đồng, chị X không nhận, stiền này không liên quan đến ông
T1. Vì vậy, không có cơ sở để xác nhận số tiền nêu trên là do Công ty TNHH MTV
V chuyển trả tiền góp vốn hay tiền vay của ông T1.
Từ những phân tích trên, đủ để xác định ông Nguyễn Văn T1 đã cho
Công ty TNHH MTV V vay tổng số tiền là: 596.050.000 đồng + 500.000.000 đồng
+ 200.000.000 đồng + 400.000.000 đồng + 760.000.000 đồng = 2.456.050.000 đồng
(hai tỷ bốn trăm năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó,
Công ty đã trả cho ông T1 760.000.000 đồng, Công ty còn phải trả cho ông T1 số
tiền là 1.696.050.000 đồng (2.456.050.000 đồng - 760.000.000 đồng).
Như vậy, kháng cáo của nguyên đơn là ông Trần Bình T ông Nguyễn Văn
T1; kháng cáo của bị đơn là Công ty TNHH MTV V đã được Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét và đều không có cơ sở để chấp nhận.
[3]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[4]. Về án phí:
- Do kháng cáo không được chấp nhận nguyên đơn ông Nguyễn Văn T1
bị đơn Công ty TNHH MTV V phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc
thẩm theo quy định của pháp luật.
- Ông Trần Bình T người cao tuổi, nên được miễn án phí kinh doanh thương
mại phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần nh T ông
Nguyễn Văn T1.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là Công ty TNHH MTV V.
- Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại thẩm s05/2023/KDTM-ST
ngày 15-9-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
2. Căn cứ vào các Điều 504, 506, 507, 509, 574, 575 Điều 576 của Bộ luật
Dân sự năm 2015; Điều 21 của Luật Đầu tư năm 2020, xử:
22
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Bình T và
ông Nguyễn Văn T1.
2.1. Đối với ông Trần Bình T:
2.1.1. Công nhận phần vốn góp của ông Trần Bình T vào Công ty TNHH
MTV V 5.195.713.000 đồng (năm t một trăm chín mươi lăm triệu bảy trăm
mười ba nghìn đồng). Ông Trần Bình T có quyền yêu cầu Công ty TNHH MTV V
công khai sổ sách liên quan đến việc kinh doanh khai thác mỏ đá tại địa chỉ Thôn A,
C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 30 hằng tháng hưởng lợi nhuận theo tỷ lệ
góp vốn.
2.1.2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Bình T về việc công nhận phần
vốn góp của ông T vào Công ty TNHH MTV V với số tiền 6.555.000.000 đồng
(sáu tỷ năm trăm năm mươi lăm triệu đồng).
2.1.3. Buộc ông Cao Văn C phải trả cho ông Trần Bình T số tiền ông T đã
trả nợ cho ông C 454.750.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu bảy trăm m
mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân squyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
2.2. Đối với ông Nguyễn Văn T1:
2.2.1. Công nhận phần vốn góp của ông Nguyễn Văn T1 vào Công ty TNHH
MTV V 3.937.037.000 đồng (ba tỷ chín trăm ba mươi bảy triệu không trăm ba
bảy nghìn đồng). Ông T1 quyền yêu cầu Công ty TNHH MTV V công khai sổ
sách liên quan đến việc kinh doanh khai thác mỏ đá tại địa chỉ Thôn A, xã C, huyện
E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 30 hằng tháng và hưởng lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn.
2.2.2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T1 về việc công nhận
phần vốn góp của ông T1 vào Công ty TNHH MTV V với số tiền 376.000.000
đồng (ba trăm bảy mươi sáu triệu đồng).
2.2.3. Buộc Công ty TNHH MTV V phải trả cho ông Nguyễn Văn T1 số tiền
ông T1 đã ứng cho Công ty TNHH MTV V vay trong quá trình kinh doanh
khai thác mỏ đá 1.696.050.000 đồng (một tỷ sáu trăm chín mươi sáu triệu không
trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân squyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
23
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
2.2.4. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T1 về việc buộc Công ty
TNHH MTV V trả cho ông T1 số tiền đã cho vay là 364.022.000 đồng (ba trăm sáu
mươi tư triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng).
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12,
khoản 1 Điều 29 điểm 2.2. tiểu mục 2 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án
kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án:
- Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) án phí kinh
doanh thương mại phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0003358 ngày 03-10-2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk; ông Nguyễn
Văn T1 đã nộp đủ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
- Công ty TNHH MTV V phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) án phí
kinh doanh thương mại phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0003393 ngày 16-10-2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk; Công ty
TNHH MTV V đã nộp đủ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
- Ông Trần Bình T được miễn án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tnh Đắk Lk;
- TANDTC - V II;
- VKSNDCC tại Đà Nẵng;
- VKSND tnh Đắk Lk;
- Cc THA dân sự tnh Đắk Lk;
- Những người tham gia t tng;
- Lưu: H/sơ v án, Phòng HCTP, LTHS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CH TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Phm Việt Cường
Tải về
Bản án số 03/2024/KDTM-PT Bản án số 03/2024/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất