Bản án số 02/2024/KDTM-PT ngày 17/04/2024 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2024/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 02/2024/KDTM-PT ngày 17/04/2024 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 02/2024/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/04/2024
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TR
Bn án s: 02/2024/KDTM-PT
Ngày 17- 4 - 2024
V T/c hợp đồng hp tác
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thiết Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Luật.
Ông Nguyễn Văn Trung.
- Thư phiên tòa: Hồ Thị Hồng Huệ- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Tố Ly- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại TAND tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm
công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ số: 01/2024/TLPT- KDTM ngày
04 tháng 01 năm 2024, về tranh chấp “Hợp đồng hợp tác”; do Bản án kinh doanh
thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTMST ngày 12 tháng 7 năm 2023 của TAND
thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị bkháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 01/2024/QĐ- PT ngày 29 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Hoàng Thị Ngọc A; địa chỉ: Khu phố A, phường Đ,
thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo uỷ quyền: Luật Trần Thị Ly L - Công ty L4; địa
chỉ: Số A đường T, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Hợp đồng ủy quyền
đề ngày 25/5/2022), có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn A1;
Trụ sở đóng tại: Số B đường L, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồng C- Giám đốc Công ty,
mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồng C; địa chỉ: Số
B đường N, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
4. Người kháng cáo: Ông Hồng C người đại diện hợp pháp của bị
đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
1. Nguyên đơn trình bày: Ngày 02/7/2019, giữa Hoàng Thị Ngọc A
với Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 (Công ty) ký kết hợp đồng góp vốn để kinh
doanh cửa hàng thực phẩm sạch tại địa chỉ số: Số D T, Phường A, thành phố Đ,
tỉnh Quảng Trị; số tiền góp 150.000.000 đồng, sở hữu 15% cổ phần của cửa hàng
thực phẩm sạch tại địa chỉ trên; tài khoản tiếp nhận góp vốn: 0371000460439; chủ
tài khoản: Hồng C; Ngân hàng V chi nhánh thành phố H; thời hạn của hợp
đồng: 05 năm kể từ ngày ký; Phân chia lợi nhuận: Mỗi tháng bên A được hưởng
15% lợi nhuận thu được thoạt động kinh doanh tại cửa hàng. Ngày 03/7/2019
ngày 10/7/2019 A đã chuyển 150.000.000 đồng vào tài khoản
0371000460439; chủ tài khoản: Hồng C; Ngân hàng V chi nhánh thành phố
H.
Công ty không thực hiện đăng vốn góp của A vào Công ty, không
đăng ký bà A là thành viên Công ty nên bà A không được thực hiện quyền, nghĩa
vụ thành viên Công ty theo quy định của Luật doanh nghiệp. Do Công ty vi phạm
nghĩa vụ nên ngày 22/5/2022, A thông báo tuyên bố hủy bỏ Hợp đồng ngày
02/7/2019 giữa bà Ngọc A với Công ty.
Bà A yêu cầu giải quyết hậu quả về việc tuyên bố hủy bỏ giao dịch dân sự.
Yêu cầu Công ty phải trả lại cho bà A 150.000.000 đồng.
2. Bị đơn trình bày: Bị đơn thừa nhận ngày 02/7/2019, ông Lê Hồng C đại
diện Công ty ký hợp đồng với bà Hoàng Thị Ngọc A về việc góp tài sản để kinh
doanh. Tuy nhiên, hợp đồng được ký kết giữa bà A với Công ty là hợp đồng hợp
tác kinh doanh, hợp đồng không quy định bà A là thành viên của Công ty và giữa
A Công ty cũng không văn bản thỏa thuận vviệc A thành viên của
Công ty nên tại Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp đăng thay đổi lần 2,
ngày 25/10/2019 mục danh sách thành viên góp vốn không tên Hoàng Thị
Ngọc A là đúng quy định của pháp luật.
Do bà Hoàng Thị Ngọc A đã đơn phương chấm dứt hợp đồng nên vi phạm
điều khoản của hợp đồng. Thời điểm công ty đã đi vào hoạt động kinh doanh
nhưng do tình hình dịch bệnh, kinh doanh thua lỗ nên Công ty không thể chi trả
lợi nhuận cho bà A theo như cam kết tại hợp đồng. Nên không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 12
tháng 7 năm 2023 của TAND thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40;
điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều
423; Điều 427 Bộ luật dân sự; Điều 312, Điều 314 Luật thương mại;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Ngọc
A: Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho
3
Hoàng Thị Ngọc A số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu
đồng) theo Hợp đồng ngày 02/7/2019.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về phần lãi suất chậm trả, án phí, quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 05/8/2023, bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm đnghị hủy bản án thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng, yêu cầu TAND
thành phố Đông Hà xét xử lại theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; thư
phiên tòa của người tham gia tố tụng: Đã thực hiện đúng quy định của pháp
luật. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 Bộ
luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm số
05/2023/KDTM-ST ngày 12/07/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà
giao hồ cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại vụ án. Về án phí: Bị đơn Công
ty TNHH A1 không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hsơ ván được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tính hợp lệ của kháng cáo: Ngày 05/8/2023, người đại diện hợp pháp
của bị đơn ông Lê Hồng C kháng cáo Bản án; ngày 25/8/2023 bị đơn nhận được
Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm; ngày 17/10/2023 bị đơn nộp biên
lai tạm ứng án phí cho Tòa án là quá thời hạn kháng cáo quy định Điều 276 Bộ
luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên đã được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xem xét
chấp nhận tại Quyết định số 06/2023/QĐ-PT ngày 10/11/2023. Như vậy, kháng
cáo của bị đơn là hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Thẩm quyền giải quyết: Hợp đồng được kết giữa Hoàng Thị Ngọc
A với Công ty TNHH A1 tại tỉnh Quảng Trị địa điểm kinh doanh tại: D T,
Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị nên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà
giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[3] Xét nội dung kháng cáo:
Qua xem xét nội dung đơn kháng cáo và quá trình tố tụng của Tòa án cấp
sơ thẩm, HĐXX thấy:
4
3.1. Xác định quan hệ tranh chấp: Hợp đồng hợp tác kinh doanh kết
ngày 02/7/2019 giữa Hoàng Thị Ngọc A với Công ty TNHH A1 nhằm góp vốn
kinh doanh cửa hàng thực phẩm sạch; nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại
số tiền góp vốn kinh doanh nên xác định tranh chấp hợp đồng hợp tác. Tòa án cấp
thẩm xác định vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại không đúng. Theo
quy định khoản 1, Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Tranh chấp phát sinh trong
hoạt động kinh doanh, thương mại giữa nhân, tổ chức có đăng kinh doanh
với nhau đều mục đích lợi nhuận”. Tuy nhiên phía nguyên đơn Hoàng
Thị Ngọc A nhân không đăng kinh doanh nên cần phải xác định đây
tranh chấp dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26 B luật Tố tụng dân sự.
3.2. Bị đơn kháng cáo với nội dung: Ngày 09/6/2023, Tòa án nhân dân
thành phố Đông Hà đã có Quyết định tạm đình chỉ vụ án số 05/2023 tạm đình chỉ
vụ án, đến ngày 26/6/2023 ra Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án. Ngày
29/6/2023, Toà án mới Thông báo mở phiên toà vào ngày 12/7/2023. Như vậy,
phiên toà ngày 12/7/2023 được xem là phiên toà xét xử thẩm lần thứ nhất kể
từ khi có thông báo giải quyết lại vụ án. HĐXX thấy:
- Ngày 03/4/2023: Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Ngày 14/4/2023: Phiên tòa lần 1 hoãn. do các bên đương sự xin hoãn.
- Ngày 12/5/2023: Mở lại phiên tòa HĐXX ra quyết định tạm ngừng
phiên tòa với do thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ. Các đương sự đều mặt.
- Ngày 09/6/2023: Tiếp tục phiên tòa tạm đình chỉ giải quyết vụ án
lý do Công ty TNHH A1 chưa cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa
án. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
- Ngày 26/6/2023: Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án và kèm
theo thông báo mở lại phiên tòa (Bị đơn nhận được ngày 03/7/2023).
- Ngày 12/7/2023: Tòa án mở lại phiên tòa và xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại mục 2 phần IV Công văn số 89/TANDTC-PC30/6/2020 của TANDTC
giải đáp đối với trường hợp trên vụ án đã được đưa ra xét xử sau đó tạm đình chỉ
giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 259 BLTTDS, nhưng sau đó
do tạm đình chỉ không còn thì Tòa án phải căn cứ Điều 216 BLTTDS để ra quyết
định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi thông báo ngày mở lại phiên tòa và
phiên tòa sẽ được tiến hành lại từ đầu. Phiên tòa ngày 12/7/2023 vắng mặt bị đơn
thì HĐXX sơ thẩm cần phải hoãn phiên tòa và ấn định xét xử vào một thời gian
khác. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn đã vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự nên căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn cần thiết phải hủy
Bản án kinh doanh thương mại thẩm và chuyển hồ vụ án để Tòa án nhân
dân thành phố Đông Hà thụvụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng hợp tác đ
5
giải quyết theo trình tự sơ thẩm. Những vi phạm thủ tục tố tụng của cấpthẩm
không thể khắc phục được ở giai đoạn phúc thẩm nên HĐXX phúc thẩm không
xét nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn sẽ được Tòa án cấp thẩm xem
xét khi giải quyết lại vụ án.
[4] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với
ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, chấp nhận kháng cáo
của bị đơn hủy bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận, nên bđơn không
phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí kinh
doanh thương mại sơ thẩm và các quyết định khác của bản án được xác định khi
giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố tụng
dân sự, xử:
Chấp nhận kháng o của bị đơn Công ty TNHH A1: Hủy Bản án kinh doanh
thương mại thẩm s05/2023/KDTM-ST ngày 12 tháng 7 năm 2023 của TAND
thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Chuyển hồ vụ án để TAND thành phố
Đông Hà, tỉnh Quảng Trị thụ lý, giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí: Hoàn trả lại cho Công ty TNHH A1 số tiền tạm ứng án phí
kinh doanh thương mại phúc thẩm đã nộp 2.000.000 (Hai triệu) đồng theo biên
lai thu số 0000938 ngày 25/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Nghĩa vụ chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm được xác định khi
giải quyết lại vụ án.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- TAND TP Đông Hà;
- VKSND TP Đông Hà;
- CC THADS TP Đông Hà;
- Các đương sự;
- Phòng KTNV & THA;
- Tổ HCTP;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thiết Hùng
6
7
Thẩm phán thành viên Thẩm phán- Chủ tọa
Nguyễn Văn Trung Lê Văn L1 Lê Thiết Hùng
8
9
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC
THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Thị Kim T
10
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết và xác định quan hệ “Tranh
chấp hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật ttụng dân
sự.
Thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng
Trị
theo Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:
Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận: Ngày 07/3/2022, Bên A là ông Nguyễn
Phúc Nhân và Bên B ông Ngô Quang H kết hợp đồng đặt cọc nhằm giao kết
hợp đồng chuyển nhượng đất và tài sản trên đất tại Thửa đất số 42, tờ bản đồ 03,
địa
chỉ lô đất: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; diện
tích 7 x 20m, 60m 2 đất tại số 06 theo Block quảng bá. Giá chuyển nhượng
600.000.000 đồng, bên B đặt cọc trước số tiền 100.000.000 đồng.
Theo ông N trình bày: Sàn Giao dịch bất động sản Nguyễn Nhân L2 do
ông Nguyễn Phúc N tổ chức dựa theo thửa đất trên good map để vẽ bản sơ đồ mô
phỏng thửa đất số 42, tờ bản đồ 03, địa chỉ lô đất: Thôn Kiên Phước, xã Triệu Ái,
huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, đã được thành 8 phân lô và chuyển lên Zalo
nhóm môi giới để mọi người cùng tương tác, tiến hành giao dịch, môi giới quảng
bá,
ký hợp đồng đặt cọc nhằm giao kết hợp đồng chuyển nhượng đất. Quá trình giao
dịch các bên dựa vào bản vẽ mô phỏng sơ đồ để giới thiệu cho bên mua tiếp cận
thửa đất và cũng có thể trực tiếp xem thửa đất. Ông H có quyền đến xem thửa
đất trước khi ký hợp đồng đặt cọc nhưng ông N không biết rõ ông H đã đến
xem thửa đất hay chưa vì người trực tiếp giới thiệu là chị Pha M cộng tác của ông
N.
Tại sơ đồ mô phỏng của bị đơn cung cấp thì: Thửa đất số 42, tờ bản đồ 03,
địa chỉ lô đất: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị
tiếp giáp đường H. Tuy nhiên, theo Giấy CNQSD đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 844337 do Sở Tài nguyên và Môi trường
Quảng Trị cấp ngày 22/10/2021,tên người sử dụng: ông Trịnh Tửu . Ngày
08/12/2021, chỉnh lý trang 03 chuyển nhượng cho bà Phạm Thị Nha T1, sinh
11
năm 1994, CMND số 197318013; địa chỉ thường trú: Thị trấn Ái tử, huyện Triệu
5
Phong, tỉnh Quảng Trị và chỉnh lý trang 4 tên người sử dụng: Trương Thị Thanh
Lương kèm theo sơ đồ tách thửa có sơ đồ thửa đất 42, tờ bản đồ 03, địa chlô đất:
Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị tiếp giáp hành
lang giao thông 10m, tiếp đến giáp Đường ĐH48B.
Theo văn bản số 82/KTHT ngày 22/9/2022 của Phòng Kinh tế hạ tầng huyện
Triệu Phong xác nhận: Đường ĐH.48B có điểm đầu giao đường tỉnh ĐT.579
tại
KM6+00, điểm cuối giao tại C, huyện C; Đường T.579 có
điểm đầu giao Quốc lộ A tại KM 765+530, điểm cuối giao Đường ĐH.48B;
Đường tỉnh ĐT.579 đoạn đi qua T có tên là đường H. Theo
đó, Đường ĐH.48B không thuộc đường H như quảng bá khi giao dịch.
Như vậy, theo các tài liệu mà ông Nguyễn Phúc N đưa ra quảng bá khi giao
dịch đặt cọc nhằm chuyển nhượng quyền không phù hợp với thực tế thửa đất
làm
cho bên mua hiểu sai lệch về tính chất của đối tượng.
Mặt khác, Tại Điều 4 của hợp đồng ghi: “Bên A cam kết tài sản trên thuộc
quyền sở hữu của mình, đầy đủ giấy tờ liên quan để chứng minh”. Xem xét
Giấy
CNQSD đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DB 844337
do
Sở T3 cấp ngày 22/10/2021, thấy rằng: Tại thời
điểm ký kết hợp đồng đặt cọc, thửa đất 42, tờ bản đồ 03 trên mang tên chủ sử
dụng
Phạm Thị Nha T1.
Tại phiên tòa ông N xuất trình, Hợp đồng đặt cọc mua đất giữa ông Võ
Ngọc Bảo ký kết với ông N vào ngày 08/3/2022 nhằm mục đích chuyển nhượng
thửa đất 42, tờ bản đồ 03 nói trên; 01 bản pho to giấy ủy quyền lập ngày 07/6/2022
của bà Trương Thị Thanh L3 ủy quyền cho ông N thực hiện việc chuyển
nhượng các thửa đất được tách ra từ thửa đất số 42, tờ bản đồ 03 nói trên.
Như vậy, tại thời điểm ngày 07/3/2022, ông Nguyễn Phúc N không phải
là chủ sử dụng đất hoặc cá nhân, được chủ sử dụng đất ủy quyền để xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự tiến nh kết hợp đồng đặt cọc nhằm mục đích chuyn
nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 42, tờ bản đồ 03 vi phạm về chủ thể theo
quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai. Ông N
12
cũng chưa có tài liệu pháp lý về thửa đất nói trên nên đã phỏng sơ đồ thửa đất
giáp với đường H. Mô phỏng này không đúng với thửa đất đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 844337 do Sở Tài nguyên và Môi
Trường Quảng Trị cấp ngày 22/10/2021, tên người sử dụng: ông Trịnh T2; thời
điểm này đã chỉnh lý trang 3 mang tên chủ sử dụng đất bà Phạm Thị Nha T1.
Từ 02 nhận định nêu trên thấy rằng: hợp đồng đặt cọc ký ngày 07/3/2022,
giữa: Bên A là ông Nguyễn Phúc N và Bên B là ông Ngô Quang H nhằm để
giao kết hợp đồng chuyển nhượng đất tài sản trên đất tại Thửa đất số 42, tờ bản
6
đồ 03, địa chỉ lô đất: Thôn Kiên Phước, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh
Quảng Trị (Lô s06) vi phạm Điều 127 do hành vi cố ý của Bên A nhằm làm cho
Bên B hiểu sai về chủ thể và tính chất đối tượng nên hợp đồng đặt cọc trên bị
hiệu. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên bố hợp
đồng đặt cọc trên vô hiệu và phải thực hiện theo nguyên tắc các bên khôi phục lại
tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận quy định tại Điều 131;
Điều 408 Bộ luật dân sự. Ông Nguyễn Phúc N đã nhận của ông Ngô Quang
Hiếu 100.000.000 đồng nên cần buộc ông N phải hoàn trả lại số tiền trên cho
ông H số tiền 100.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, ông Ngô Quang H rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền
100.000.000 đồng phạt cọc do vi phạm hợp đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, việc
rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoàn toàn tự nguyện nên căn
cứ
Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị
đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
2. Về án phí: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2
Điều 26 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường
vụ
Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
2.1. Buộc ông Nguyễn Phúc N phải chịu 5.000.000 đồng (Năm triệu
đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
13
2.2. Hoàn trả cho ông Ngô Quang H số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã
nộp 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số CC/2021/0000416
ngày 05/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà.
Tải về
Bản án số 02/2024/KDTM-PT Bản án số 02/2024/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 02/2024/KDTM-PT Bản án số 02/2024/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất