Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Văn Lãng (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 02/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/04/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Ma Thị D và anh Lê Văn T2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 07/01/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc; đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn, chị đã tìm cách hàn gắn nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ năm 2019 đến nay, vợ chồng đã ly thân không còn quan tâm đến nhau. Năm 2021, anh Lê Văn T2 bị bắt và bị kết án tử hình về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý, hiện nay đang chờ thi hành án. Chị Ma Thị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn T2, chị yêu cầu được nuôi 02 con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26-4-2024
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liễu Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Luân Văn Tuân;
Lương Thị Phượng.
- Thư phiên tòa: Hồng Phương Thư Tòa án nhân dân
huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Lịch Kiểm sát viên.
Ny 26 tng 4 năm 2024, tại trụ sởa án nhân dân huyện Văn ng, tỉnh
Lạng Sơnt xử sơ thẩmng khai vụ án thụ lý số 08/2024/TLST-HNGĐ ngày 30
tháng 01 m 2024 về "lyn, tranh chp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định
đưa vụ án rat x s02/2024/XXST-HN, ngày 09 tng 4 năm 2024, giữa
c đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ma Thị D, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn P, T1,
huyện V, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Bị đơn: Anh Văn T2, sinh năm 1983; i đăng hkhẩu thường
trú: Thôn P, xã T1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; hiện đang bị giam tại Trại tạm giam
Công an tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ma Thị D trình bày: Chị anh Văn T2
được tự do tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức
cưới theo phong tục tập quán đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân T1,
huyện V, tỉnh Lạng Sơn ngày 07/01/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống
hạnh phúc tại thôn P, T1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; đến năm 2013 phát sinh
2
mâu thuẫn, nguyên nhân do chphát hiện anh Văn T2 nghiện ma túy, chị
khuyên bảo nhưng anh không nghe, hai người bất đồng quan điểm sống, v
chồng không tiếng nói chung; thường xuyên cãi ; chị đã cố gắng hàn gắn
hạnh phúc gia đình nhưng không được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình
cảm vợ chồng không cải thiện được. Sau đó chị đi làm ăn xa, mi tháng về nhà
một lần nhưng vợ chồng cũng không nói chuyện được với nhau; đến năm 2019
chị trở về nhà nhưng anh Văn T2 không nhà, anh Văn T2 đi đâu ch
không biết, vợ chồng đã ly thân từ đó; năm 2021 anh Lê Văn T2 bị bắt và bị Toà
án tuyên án tử hình về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý hiện nay đang bị
giam tại Trại tạm giam ng an tỉnh Lạng Sơn chờ thi hành án. Nay chị c
định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh Văn T2.
Về con chung: Chị Ma Thị D anh Văn T2 02 con chung cháu
Minh Đ, sinh ngày 21/8/2008 cháu T3, sinh ngày 10/5/2010; hiện
nay hai cháu đang với chị Ma Thị D. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp
nuôi hai con cho đến khi đủ 18 tuổi; chị không yêu cầu anh Văn T2 cấp
dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, các khoản nợ chung cho vay chung: Tại đơn khởi
kiện và bản tự khai, chị Ma Thị D trình bày không có. Tại phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên a chị Ma Thị D không
yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, các khoản nợ chung cho vay
chung.
Quá trình giải quyết vụ án, b đơn anh Văn T2 trình bày: Anh chị kết
hôn trên cơ sở tự nguyện, hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán
đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân T1. Chị Ma Thị D xin ly hôn, anh
đồng ý. Anh chị hai con chung là cháu Minh Đ, sinh ngày 21/8/2008
cháu T3, sinh ngày 10/5/2010, chị Ma Thị D yêu cầu trực tiếp nuôi con,
anh đồng ý anh không khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản chung,
nợ chung: Không có.
Ý kiến của con chưa thành niên: Tại bản trình bày ngày 29/02/2024 cháu
Minh Đ cháu Lê T3 ý kiến: Hiện nay các cháu đang với mẹ, sau
khi bố mẹ ly hôn, các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án đã tiến hành thu
thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo quy
định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tại Công văn số
19/UBND ngày 28/02/2024 Ủy ban nhân dân T1, huyện V, tỉnh Lạng n
cho biết: Anh Văn T2 chMa Thị D đăng kết n tại Uỷ ban nhân
dân T1, hiện nay anh Văn T2 chị Ma Thị D không chung sống với
nhau, anh Văn T2 đang chấp hành án; anh ch02 con là cháu Minh Đ,
sinh ngày 21/8/2008 và cháu Lê Hà T3, sinh ngày 10/5/2010.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng
Sơn: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố
tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn
chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật T tụng dân sự; bđơn
3
chấp nh chưa đầy đủ quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự
do đang bị giam. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét x căn cứ vào
khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn
nhân Gia đình: Xử cho chị Ma Thị D được ly hôn với anh Văn T2; giao
con chung là cháu Lê Minh Đ, sinh ngày 21/8/2008 và cháu Lê Hà T3, sinh ngày
10/5/2010 cho chMa Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ 18
tuổi; anh Văn T2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Ma Thị D
không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung cho vay chung: Không yêu cầu
giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị Ma Thị D phải chịu án phí theo
quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Ma Thị D có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Văn
Lãng, tỉnh Lạng Sơn giải quyết ly hôn với anh Văn T2 đăng hộ khẩu
thường trú tại xã T1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; do đó thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo điểm a khoản 1
Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình
giải quyết vụ án, a án đã triệu tập các đương s viết bản tự khai; thông báo
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải; ra
Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Các văn bản đều được tống đạt hợp lệ cho
đương sự. Bị đơn anh Văn T2 đã được triệu tập hợp lệ, vắng mặt tại phiên
tòa lần thứ nhất nhưng đã đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng t xử căn cứ
vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Ttụng dân sự, tiến hành
xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Ma Thị D gửi đơn xin ly hôn với
anh Văn T2 yêu cầu giải quyết về con chung nên xác định quan hệ tranh
chấp ly n, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo khoản 1 Điều 28 của B
luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ma Thị D và anh Lê Văn T2 kết hôn trên cơ
sở tự nguyện, đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân T1, huyện V, tỉnh
Lạng Sơn vào ngày 07/01/2008. Sau khi kết hôn, v chồng chung sống hòa
thuận, hạnh phúc; đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn, chị đã tìm cách hàn gắn
nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được, mâu thuẫn ngày càng trầm
trọng. Từ năm 2019 đến nay, vợ chồng đã ly thân không còn quan tâm đến nhau.
Năm 2021, anh Văn T2 bị bắt bkết án tử hình về tội Vận chuyển trái
phép chất ma tuý, hiện nay đang chờ thi hành án. Chị Ma Thị D xác định tình
cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh Văn T2. Tại phiên
tòa chị Ma Thị D vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Văn T2. Tại
bản tự khai, anh Văn T2 cũng đồng ý ly hôn. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ
chồng giữa chị Ma Thị D anh Văn T2 đã trầm trọng không thể hàn gắn,
đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó,
t thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ma Thị D, cho chị Ma Thị D
được ly hôn với anh Văn T2.
4
[4] Về con chung: Chị Ma Thị D anh Văn T2 hai con chung
cháu Minh Đ, sinh ngày 21/8/2008 cháu T3, sinh ngày 10/5/2010,
hiện nay hai cháu đang với chị Ma Thị D. Khi ly hôn, chị Ma Thị D yêu cầu
trực tiếp nuôi các con, anh Lê Văn T2 cũng đồng ý. Xét thấy, từ khi chị Ma Thị
D và anh Văn T2 ly thân đến nay, cháu Lê Minh Đ cháu T3 đều
với chị Ma Thị D cũng là nguyện vọng của các cháu, hơn nữa anh Lê Văn T2
đang chờ đi chấp hành án nên không có khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng các con,
nên chấp nhận yêu cầu, giao cháu Lê Minh Đ cháu T3 cho chị Ma Thị
D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Văn
T2 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ma Thị D không yêu cầu. Anh
Văn T2 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung, các khoản nchung cho vay chung: Không yêu
cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Xét thấy ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng,
tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự
điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa
án; chị Ma Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
[8] Quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo bản án thẩm
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, các điều 57, 58,
81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 186, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228,
Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Ngh
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ny 30/12/2016 của y ban Tng vQuc hi
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí a
án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ma Thị D,
xử cho chị Ma Thị D được ly hôn với anh Lê Văn T2.
2. Về con chung: Giao 02 con chung cháu Minh Đ, sinh ngày
21/8/2008 cháu T3, sinh ngày 10/5/2010 cho chị Ma Thị D trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, cho đến khi đủ 18 tuổi.
5
Anh Văn T2 quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai
được cản trở.
Anh Văn T2 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ma Thị D không
yêu cầu.
3. Về án phí: Chị Ma Thị D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án
phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn để nộp vào ngân sách Nhà nước; được trừ
vào số tiền tạm ứng án phí chị Ma Thị D đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001289, ngày 24/01/2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Chị Ma Thị D đã
nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Ma Thị D quyền kháng cáo bn án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Văn T2 quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm
yết.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn (PKTNV&THA);
- VKSND H. Văn Lãng, T. Lạng Sơn;
- Chi cục THADS H. V, T.Lạng Sơn;
- UBND xã T1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn.
- Các đương sự;
- u: Văn phòng, hồ sơ vụ án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Liễu Thị Hạnh
Tải về
Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất