Bản án số 02/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 02/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 02/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 02/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ninh |
| Số hiệu: | 02/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/01/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Kiện đòi tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 02/2024/DS-PT
Ngày: 10-01-2024
“V/v tranh chấp đòi lại tài sản",
CỘNG HA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TA N NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hi đng xt x phúc thẩm gm c:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hồng Ánh
Cc thẩm phán: - ông Tạ Duy Ước.
- ông Bùi Đức Thanh.
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Phan Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Lam Thị Dung - Kiểm sát
viên tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử số 4, Toà án nhân dân tỉnh
Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 97/2023/TLPT-DS ngày
11 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Toà án nhân dân
thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh bị ông Nguyễn Văn H là bị đơn kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 145/2023/QĐ-PT ngày
18/12/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lưu Thị Đ, sinh năm 1960; địa chỉ: tổ 2, khu V, phường K,
thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955; địa chỉ: tổ 3, khu B, phường K,
thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 17/3/2022, được bổ sung bằng các lời khai tiếp
theo, và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lưu Thị Đ trình bày:
Bà Lưu Thị Đ và ông Nguyễn Văn H kết hôn năm 1981, có đăng ký kết hôn tại
Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện Đông Triều (nay là phường K, thị xã Đông Triều),
tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà có tạo dựng được tài sản chung là 01

2
thửa đất diện tích 596,4m
2
tại địa chỉ tổ 3, khu B, phường K, thị xã Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh và đã được Ủy ban nhân dân huyện Đông Triều (nay là thị xã Đông Triều),
tỉnh Quảng Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG138075, ngày 10/8/2006
mang tên ông Nguyễn Văn H và bà Lưu Thị Đ.
Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên năm 2015
bà đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều giải quyết ly hôn với ông
Nguyễn Văn H.
Tại bản án số 23/2015/HNGĐ-ST ngày 16/9/2015 của Tòa án nhân dân thị xã
Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã quyết định có nội dung thể hiện:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Đ về việc xin ly hôn.
Xử bà Lưu Thị Đ được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
- Về tài sản: Bà Lưu Thị Đ được quyền sử dụng đất diện tích 92,5m
2
giới hạn bởi
cc điểm A1,B1,D,D1,A1, chiều dài A1,D1 = B1,D = 18,5m, chiều rộng A1,B1 = D,D1
= 5,0m (có sơ đồ kèm theo) và ngoài ra còn quyết định về nghĩa vụ trả nợ cho Ngân
hàng, án phí, chi phí tố tụng đối với ông Nguyễn Văn H.
Sau đó ông Nguyễn Văn H làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân
dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Theo Bản án phúc thẩm số: 04/2016/HNGĐ-PT ngày 14/3/2016 của Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Ninh, tại phần Quyết định, có tuyên:
“…Về tài sản:
- Bà Lưu Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đất 92,5m
2
, giới hạn bởi cc điểm
A1,B1,D,D1,A1, chiều dài A1,D1 = B1,D = 18,5m, chiều rộng A1,B1 – D,D1 = 5,0m;
Có tứ cận: Bắc gip đường liên khu; Nam gip đất ở của ông H, Đông gip rãnh nước
giới hạn bởi cc điểm B1,B,C,D,B1 có chiều dài B1,D = B,C = 18,5m, chiều rộng B,B1
= C,D = 20cm, liền kề hộ nhà ông Mưu, Tây gip phần đất đã giao cho ông H; vị trí
tại: tổ 3, khu B, phường K, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (Có sơ đồ kèm theo).
- Ông Nguyễn Văn H được quyền sở hữu 01 ngôi nhà cấp 4 ba gian cùng quán
bán hàng, bếp, vật kiến trúc khác gắn liền quyền sử dụng diện tích đất 503,9m
2
, giới
hạn bởi cc điểm A,A1,D1,D,E,F,G,H,I,J,K,L,M,A có tứ cận: Bắc gip đường liên khu;
Nam giáp hộ ông Tiên, Đông gip đất bà Đ, Tây giáp ngõ liên gia, Vị trí tại: tổ 3, khu
B, phường K, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (Có sơ đồ kèm theo)…”
Sau khi nhận được bản án phúc thẩm nêu trên, do không hiểu biết pháp luật nên
bà chỉ làm đơn yên cầu thi hành án đối với khoản tiền chênh lệch tài sản mà ông H có

3
nghĩa vụ trả cho bà theo bản án có hiệu lực pháp luật. Riêng phần tài sản là quyền sử
dụng đất mà bà được chia thì bà chưa làm đơn yêu cầu thi hành án và đến nay đã hết
thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật. Do bà tự biết mình không có
trở ngại khách quan trong thời hiệu yêu cầu thi hành án nên bà đã làm đơn khởi kiện
yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn H phải trả lại phần diện tích đất mà bà được chia
theo bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đồng thời tại Công văn số 166/CV-CCTHADS
ngày 14/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều có nội dung thể hiện:
hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều không thụ lý giải quyết đơn yêu
cầu thi hành án của bà Lưu Thị Đ đối với khoản “Bà Lưu Thị Đ được quyền sử dụng
diện tích 92,5m
2
…” và về thời hiệu yêu cầu thi hành án theo Bản án phúc thẩm số
04/2016/HNGĐ-PT ngày 14/3/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đối với bà
Lưu Thị Đ thời, điểm 30/3/2022 đến nay đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án. Trường
hợp bà Đ làm đơn yêu cầu thi hành án phải chứng minh được các nội dung phù hợp với
khoản 3 Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Đ vì những lý do sau: ông và
bà Đ về chung sống với nhau từ năm 1981, vì nhiều lý do lúc đó nên mãi đến năm 2013,
ông và bà Đ mới đi đăng ký kết hôn, cuối năm 2015 vợ chồng ông đã đề nghị giải quyết
ly hôn và chia tài sản chung tại Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, sau đó cấp phúc
thẩm đã xét xử lại, theo đó có giải quyết chia tài sản chung của hai vợ chồng ông, ngoài
việc chia tài sản là tiền chênh lệch tài sản thì việc chia tài sản là quyền sử dụng đất trên
khu đất lúc đó hai vợ chồng ở là gần 596m
2
tại tổ 3, khu B, phường K, thị xã Đông
Triều. Tòa cấp phúc thẩm đã chia cho bà Đ 92,5m
2
còn lại là quyền sử dụng đất của ông.
Tuy nhiên, ông không đồng ý với cách chia của Tòa án trước đây là bởi vì toàn bộ thửa
đất gần 596m
2
này là thuộc quyền sử dụng của bố đẻ ông là ông Nguyễn Văn Mưu (đã
chết) và bố ông đã cho cá nhân ông 300m
2
đất, số diện tích đất còn lại bố ông dùng để
làm nhà thờ, sau đó ông có xây ngôi nhà nhỏ trên mảnh đất bố ông cho, xây xong ông
mới cưới bà Đ. Như vậy, bà Đ yêu cầu đòi 92,5m
2
đất như bản án phúc thẩm đã tuyên
là không đúng và không có quyền, sau khi bố ông cho thì chỉ mang tên một mình ông là
Nguyễn Văn H. Từ những lý do trên, ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà
Lưu Thị Đ về việc yêu cầu ông phải trả lại cho bà Đ 92,5m
2
đất như bản án đã tuyên.
Đối với diện tích đất 92,5m
2
này không có thay đổi gì về hiện trạng kể từ thời điểm xét
xử phúc thẩm năm 2016 đến nay.

4
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn H trình bày: từ khi bản án phúc thẩm
có hiệu lực cho đến nay ông đã nhiều lần làm đơn đề nghị xem xét bản án theo trình tự
giám đốc thẩm gửi Tòa án nhân dân tối cao theo đường bưu điện nhưng không được trả
lời.
Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã có Công văn số
62/2023/CV-TA ngày 13/4/2023 đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trả lời nội
dung về việc hiện có đang thụ lý giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm của ông Nguyễn
Văn H đối với bản án số 04/2016/HNGĐ-PT ngày 14/3/2016 hay không?
Tại công văn số 788/CV-TA ngày 12/6/2023, của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Nội có nội dung thể hiện: “Sau khi nhận được công văn của Tòa n nhân dân thị xã
Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Tòa n nhân dân cấp cao tại Hà Nội trả lời như sau: Hệ
thống phần mềm quản lý đơn của Tòa n nhân dân cấp cao tại Hà Nội hiện nay thể hiện
Tòa n nhân dân cấp cao tại Hà Nội không nhận được đơn của ông Nguyễn Văn H đề
nghị xem xét theo thủ tục gim đốc thẩm đối với bản n hôn nhân gia đình phúc thẩm
số 04/2016/HNGĐ-PT ngày 14/3/2016 của Tòa nhân dân tỉnh Quảng Ninh…”
Đến ngày 21/7/2023, Tòa án nhân dân tối cao có văn bản gửi cho ông Nguyễn
Văn H có nội dung thể hiện: Tòa n nhân dân tối cao nhận được đơn của một số công
dân, tổ chức có nội dung thuộc thẩm quyền xem xét, giải quyết của Tòa n nhân dân
cấp cao tại Hà Nội. Sau khi nghiên cứu đơn, Tòa n nhân dân tối cao chuyển cc đơn
thư nêu trên (có danh sch kèm theo) đến Tòa n nhân dân cấp cao tại Hà Nội xem xét
giải quyết theo quy định của php luật.
Tại Thông báo trả lại đơn số 1746/TB-TA ngày 19/8/2023 của Tòa án nhân dân
cấp cao tại Hà Nội có nội dung: Tòa n nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã nhận được đơn
gửi ngày 05/7/2023 của ông Nguyễn Văn H có nội dung đề nghị gim đốc thẩm đối với
bản n số 04/2016/HNGĐ-PT của Tòa n nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Căn cứ Điều 334
của Bộ luật Tố tụng dân sự, đơn đề nghị gim đốc thẩm của ông H đã qu 03 năm kể từ
ngày bản n có hiệu lực php luật Tòa n nhân dân cấp cao tại Hà Nội thông bo để
ông Nguyễn Văn H biết và trả lại đơn cùng cc tài liệu, chứng cứ kèm theo cho ông H.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn có quan điểm đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng Điều 221, Điều 235 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện,
giao tài sản cho bà Lưu Thị Đ và ông H không phải thi hành án số tiền 117.907.000đ
(một trăm mười bảy triệu chín trăm linh bảy nghìn đồng) theo bản án số
04/2016/HNGĐ-PT ngày 14/3/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã tuyên.

5
* Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/11/2022 đối với tài sản tranh
chấp là phần diện tích đất 92,5m
2
có vị trí tại tổ 3, khu B, phường K, thị xã Đông Triều,
tỉnh Quảng Ninh, được giới hạn bởi các điểm A, B, 3, 4, C, D, A theo Phiếu xác nhận
kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 25/11/2022 của Công ty cổ phần kỹ thuật môi
trường Thời Đại, biên bản xác minh ngày 01/03/2023, 02 biên bản xác minh cùng ngày
31/7/2023 và diễn biến tại phiên tòa thể hiện: tài sản tranh chấp là diện tích đất 92,5m
2
đã được giao cho bà Lưu Thị Đ theo bản án số 04/2016/HNGĐ-PT ngày 14/3/2016 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh vẫn giữ nguyên hiện trạng từ khi xét xử đến nay,
không có thay đổi gì và đất không có tranh chấp với các hộ liền kề. Tuy nhiên phần diện
tích đất trên theo sơ đồ đo vẽ theo bản án số 23/2015/HNGĐ-ST ngày 16/9/2015 của
Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều không chính xác như kết quả đo vẽ ngày 25/11/2022.
Cụ thể: cạnh thửa đất tiếp giáp với hộ ông Nguyễn Văn Mưu (nay là bà Vũ Thị Sinh)
thể hiện gấp khúc tại điểm C (theo sơ đồ năm 2015 đo vẽ là đường thẳng). Nguyên nhân
là do sơ đồ năm 2015 được đo vẽ thủ công bằng thước dây nên chưa chính xác. Đồng
thời, bà Lưu Thị Đ cũng có quan điểm nhất trí đòi lại diện tích đất 92,5m
2
theo sơ đồ đo
vẽ ngày 25/11/2022.
Với nội dung trên, tại bản án sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa
án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, đã tuyên:
Căn cứ vào: Khoản 2, 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1
Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, Điều 271 và Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158, khoản 2 Điều 164, khoản 1 Điều 166, khoản
2 Điều 221, Điều 235, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 7 Điều 166,
Điều 203 của Luật đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Án lệ số 50/2021/AL về “Tranh chấp đòi lại tài sản” được Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 và được công bố theo Quyết
định số 594/QĐ-CA ngày 31/12/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Đ về việc kiện đòi tài sản là quyền
sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn H.
Buộc ông Nguyễn Văn H phải trả lại cho bà Lưu Thị Đ tài sản là quyền sử dụng
đất diện tích 92,5m
2
được giới hạn bởi các điểm A, B, 3, 4, C, D, A theo Phiếu xác nhận
kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 25/11/2022 của Công ty cổ phần kỹ thuật môi

6
trường Thời Đại. Vị trí: phía Bắc giáp đường liên khu, phía Nam giáp phần đất của ông
Nguyễn Văn H, phía Đông giáp rãnh nước được giới hạn bởi các điểm 4, 5, 6, 7, D, C,
4 có chiều rộng 4, 5 = 6, C= 7, D = 20cm, có chiều dài 5, 6, 7 = 18,77m và 4, C, D =
18,51m, liền kề hộ bà Vũ Thị Sinh. Phía Tây giáp phần đất của ông Nguyễn Văn H (Có
sơ đồ kèm theo).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ và định
giá tài sản, về lãi suất chậm trả trong trường hợp chậm thi hành án, về án phí, về quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/10/2023 bị đơn ông Nguyễn Văn H kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm
số: 16/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, đề nghị xét
xử lại vụ án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Lưu Thị Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Nguyễn
Văn H giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thống nhất được với nhau
về giải quyết nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phát biểu quan điểm trong quá
trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
- Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự, đều chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: kháng cáo của ông Nguyễn Văn H được thực hiện trong thời hạn
luật định, nội dung kháng cáo trong phạm vi bản án sơ thẩm, nên hợp lệ và được xem
xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn H:
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Văn H giữ nguyên nội dung kháng cáo và
trình bày:
Ông không đồng ý với bản án sơ thẩm vì những lý do sau: ông H và bà Đ về
chung sống với nhau từ năm 1981, vì nhiều lý do lúc đó nên mãi đến năm 2013, ông và

7
bà Đ mới đi đăng ký kết hôn, cuối năm 2015 vợ chồng ông đã đề nghị giải quyết ly hôn
và chia tài sản chung tại Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, sau đó cấp phúc thẩm đã
xét xử lại, theo đó có giải quyết chia tài sản chung của hai vợ chồng ông, ngoài việc chia
tài sản là tiền chênh lệch tài sản thì việc chia tài sản là quyền sử dụng đất trên khu đất
lúc đó hai vợ chồng ở là gần 596m
2
tại tổ 3, khu B, phường K, thị xã Đông Triều. Tòa
cấp phúc thẩm đã chia cho bà Đ 92,5m
2
còn lại là quyền sử dụng đất của ông. Tuy nhiên
ông không đồng ý với cách chia của Tòa án trước đây là bởi vì toàn bộ thửa đất gần
596m
2
này là thuộc quyền sử dụng của bố đẻ ông là ông Nguyễn Văn Mưu (đã chết) và
bố ông đã cho cá nhân ông 300m2
2
đất, số diện tích đất còn lại bố ông dùng để làm nhà
thờ, sau đó ông có xây ngôi nhà nhỏ trên mảnh đất bố ông cho, xây xong ông mới cưới
bà Đ. Như vậy, bà Đ yêu cầu đòi 92,5m
2
đất như bản án phúc thẩm đã tuyên là không
đúng và không có quyền, sau khi bố ông cho thì chỉ mang tên một mình ông là Nguyễn
Văn H. Từ những lý do trên ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Đ
về việc yêu cầu ông phải trả lại cho bà Đ 92,5m2
2
đất như bản án đã tuyên. Đối với diện
tích đất 92,5m
2
này không có thay đổi gì về hiện trạng kể từ thời điểm xét xử phúc thẩm
năm 2016 đến nay.
Xét thấy, tại bản án dân sự phúc thẩm số 04/2016/HNGĐ-PT ngày 14/3/2016 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã tuyên giao cho bà Lưu Thị Đ được quyền sử dụng
diện tích 92,5m
2
đất, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó bà Lưu Thị Đ được xác lập
quyền quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, đây là tình
tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92, Điều
235 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Văn H trình bày: từ khi bản án phúc thẩm có hiệu lực cho đến nay
ông đã nhiều lần làm đơn đề nghị xem xét bản án theo trình tự giám đốc thẩm gửi Tòa
án nhân dân tối cao theo đường bưu điện nhưng không được trả lời.
Tại Thông báo trả lại đơn số 1746/TB-TA ngày 19/8/2023 của Tòa án nhân dân
cấp cao tại Hà Nội có nội dung: Tòa n nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã nhận được đơn
gửi ngày 05/7/2023 của ông Nguyễn Văn H có nội dung đề nghị gim đốc thẩm đối với
bản n số 04/2016/HNGĐ-PT của Tòa n nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Căn cứ Điều 334
của Bộ luật Tố tụng dân sự, đơn đề nghị gim đốc thẩm của ông H đã qu 03 năm kể từ
ngày bản n có hiệu lực php luật Tòa n nhân dân cấp cao tại Hà Nội thông bo để
ông Nguyễn Văn H biết và trả lại đơn cùng cc tài liệu, chứng cứ kèm theo cho ông H.

8
Bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Đ, buộc ông
Nguyễn Văn H phải trả lại cho bà Lưu Thị Đ tài sản là quyền sử dụng đất diện tích
92,5m
2
tại địa chỉ tổ 3, khu B, phường K, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là có căn
cứ, đúng pháp luật, phù hợp với Án lệ số 50/2021/AL về “Tranh chấp đòi lại tài sản”
được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 481/2012/DS-GĐT ngày 25-9-2012 của
Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao thông qua ngày 25/11/2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày
31/12/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Nội dung kháng cáo nêu trên của
ông Nguyễn Văn H không có cơ sở chấp nhận.
Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn H không đồng ý với Bản án sơ thẩm
tuyên buộc ông Bùng phải trả cho bà Lưu Thị Đ 11.700.000đ tiền chi phí tố tụng xem
xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng xem
xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản như sau:
Điều 157 quy định: “Trường hợp cc bên đương sự không có thoả thuận khc
hoặc php luật không có quy định khc thì nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ được xc định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ
không được Tòa n chấp nhận”.
Điều 165 quy định: “Trường hợp cc bên đương sự không có thoả thuận khc
hoặc php luật không có quy định khc thì nghĩa vụ chịu chi phí định gi tài sản, thẩm
định gi được xc định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí định gi tài sản nếu yêu cầu của họ không được
Tòa n chấp nhận”.
Điều 158 quy định: “1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì người phải chịu
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của Tòa n phải hoàn trả cho người
đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ”.
Điều 166 quy định: “1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định gi
tài sản không phải chịu chi phí định gi thì người phải chịu chi phí định gi theo quyết
định của Tòa n phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định gi”.
Yêu cầu khởi kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng diện tích 92,5m
2
đất của bà
Lưu Thị Đ được chấp nhận, vì vậy bản án sơ thẩm tuyên buộc ông H phải chịu tiền chi

9
phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản có căn cứ, đúng với quy định
tại khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Không có cơ sở chấp
nhận nội dung kháng cáo này của ông H.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Kháng cáo của ông Nguyễn Văn H không được chấp nhận, như do ông Nguyễn
Văn H là người cao tuổi và có đơn xin được miễn tiền án phí vì vậy xét cho ông H được
miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều
12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 16/2023/DS-ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân
dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Áp dụng khoản 2 và khoản 9 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166 Bộ
luật Tố tụng dân sự; Điều 158, khoản 2 Điều 164, khoản 1 Điều 166, khoản 2 Điều 221,
Điều 235, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 7 Điều 166, Điều 203 của
Luật đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Án lệ số 50/2021/AL về “Tranh chấp đòi lại tài sản” được Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 và được công bố theo Quyết
định số 594/QĐ-CA ngày 31/12/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Đ về việc kiện đòi tài sản là quyền
sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn H.
Buộc ông Nguyễn Văn H phải trả lại cho bà Lưu Thị Đ tài sản là quyền sử dụng
đất diện tích 92,5m
2
được giới hạn bởi các điểm A, B, 3, 4, C, D, A theo Phiếu xác nhận
kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 25/11/2022 của Công ty cổ phần kỹ thuật môi
trường Thời Đại. Vị trí: phía Bắc giáp đường liên khu, phía Nam giáp phần đất của ông

10
Nguyễn Văn H, phía Đông giáp rãnh nước được giới hạn bởi các điểm 4, 5, 6, 7, D, C,
4 có chiều rộng 4, 5 = 6, C= 7, D = 20cm, có chiều dài 5, 6, 7 = 18,77m và 4, C, D =
18,51m, liền kề hộ bà Vũ Thị Sinh. Phía Tây giáp phần đất của ông Nguyễn Văn H (Có
sơ đồ kèm theo).
2. Về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng: buộc ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ trả
lại cho bà Lưu Thị Đ số tiền là 11.700.000đ (mười một triệu bảy trăm nghìn đồng) chi
phí tố tụng trong đó chi phí xem xét thẩm định tài sản là 7.700.000đ (bảy triệu bảy trăm
nghìn đồng) và chi phí định giá tài sản là 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành n của người được thi hành n (đối với cc
khoản tiền phải trả cho người được thi hành n) cho đến khi thi hành xong, bên phải
thi hành n còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành n theo mức lãi
suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm cho ông
Nguyễn Văn H.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại cc Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án
dân sự, thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ninh.
- TAND TX Đông Triều;
- Chi cục THADS TX Đông Triều;
- Các đương sự.
- Luu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Ánh
11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 27/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 08/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 28/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm