Bản án số 02/2021/HS-ST ngày 11/01/2021 của TAND huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang về tội tội cố ý làm hư hỏng tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 02/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 02/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 02/2021/HS-ST ngày 11/01/2021 của TAND huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang về tội tội cố ý làm hư hỏng tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Châu Thành A (TAND tỉnh Hậu Giang) |
| Số hiệu: | 02/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/01/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CHÂU THÀNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH HẬU GIANG
Bản án số: 02/2021/HS-ST
Ngày: 11 – 01 - 2021
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hoài Ẩn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Trường
2. Ông Phạm Hoàng Tấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành,
tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
59/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
60/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
- Nguyễn Văn K, sinh năm 1987 tại huyện Kế S, tỉnh S; đăng ký thường trú:
Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh S; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ văn hoá
(học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt
Nam; Cha: Ông Nguyễn Văn N; Mẹ: Bà Nguyễn Thị A; Vợ bị cáo Đỗ Thị Hồng Đ;
Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh 2017;
Tiền án: 01 (Ngày 20/6/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long
An xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về Tội Mua bán trái phép vũ khí quân dụng.
Chấp hành xong hình phạt ngày 10/11/2019);
Tiền sự: Không. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu:
- Ngày 09/11/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng ban hành Quyết định
số 1750/QĐHC-CTUBND quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời gian
12 tháng, chấp hành xong ngày 30/9/2007;
2
- Ngày 30/10/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng ban hành Quyết định
số 1156/QĐ-UB, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời gian 24 tháng,
chấp hành xong ngày 10/10/2010;
Ngày 30/9/2020 bị khởi tố và đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an
tỉnh Sóc Trăng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ngân hàng TMCP N.
Trụ sở: Số 198 T, phường L, quận H, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân T – Chủ tịch Hội đồng
quản trị Ngân hàng TMCP N.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Long G – Giám đốc Ngân hàng
TMCP N – Chi nhánh C.
Ông Trần Long G ủy quyền lại cho ông Ngô Nguyễn Quang Đ Trưởng
phòng hành chính nhân sự Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh C (vắng mặt, có đơn
xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 03-05-07 Hòa Bình, phường T, quận N, thành phố C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Phước Minh S, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số 61, Khu vực 1, phường L, thành phố NB, tỉnh H.
2. Anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 04/7/2020, Nguyễn Văn Kh điều khiển xe mô tô
83CA-008.64 đi đến tiệm game bắn cá gần khu vực Công ty TNHH giấy Lee&Man
Việt Nam, khi điều khiển xe ngang qua cổng khu nhà nghỉ công nhân Công ty
Lee&Man, thuộc ấp P, thị trấn M thì K có xảy ra mâu thuẫn cãi nhau với 02 thanh
niên (không xác định được nhân thân) là công nhân của công ty Lee&Man, sau đó
02 thanh niên này đi vào khu nhà nghỉ công nhân, K đứng bên ngoài cổng chửi một
lúc rồi bỏ đi đến tiệm game bắn cá do Huỳnh Văn N, quản lý. Một lúc sau, K tiếp
tục quay lại cổng khu nhà nghỉ công nhân thì gặp bảo vệ là Nguyễn Phước Minh S,
K kêu S ra nói chuyện rồi dùng tay đánh S 01 cái nên S đi vào chốt bảo vệ, K đi ra
lộ nhặt cục bê tông chọi vào cổng khu nhà ở nhưng không trúng ai. K quay trở lại
3
tiệm game bắn cá mục đích tìm cây để đánh 02 thanh niên đã cãi nhau trước đó với
K. K đi vòng ra bên hông tiệm game thì phát hiện cây búa, loại búa nhổ đinh (đóng
đinh) dài 33cm, cán bằng gỗ, đầu búa bằng kim loại, nên lấy cây búa và đi bộ đến
cổng khu nhà nghỉ công nhân công ty Lee&Man. Khi đến nơi, K đi vào trụ ATM
của Ngân hàng TMCP N, đặt trước cổng khu nhà nghỉ, dùng búa đập mạnh nhiều
cái vào máy ATM, làm hỏng 01 khoá nắp ngoài của két tiền, 01 thiết bị chống sao
chép dữ liệu ở khe đưa thẻ, 01 ổ khoá số bằng kim loại của két tiền có chìa định vị,
01 ổ khoá số của két tiền không có chìa định vị, đập phá xong K ném bỏ cây búa
vào cổng khu nhà nghỉ, rồi đi bộ về tiệm game bắn cá lấy xe về nhà.
Căn cứ Bản kết định giá tài sản số 23/KLĐG, ngày 03/9/2020 của Hội đồng
định giá trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Châu Thành, kết luận: 01 nắp
khoá ngoài của két tiền; 01 thiết bị chống sao chép dữ liệu ở khe đưa thẻ; 01 ổ khoá
số của két tiền có chìa định vị; 01 ổ khoá số của két tiền không có chìa định vị, có
tổng giá trị 39.959.550 đồng.
Tại Cáo trạng số 53/CT-VKS-HCT ngày 30/11/2020 Viện kiểm sát nhân dân
huyện Châu Thành truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về Tội cố ý làm hư hỏng tài sản
theo quy định khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng đã truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tại Tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố. Đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1,
Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn
phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn K bồi thường
cho Ngân hàng TMCP N 41.713.000 đồng. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng
và án phí của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của bị hại
và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Xét thấy đại diện
theo ủy quyền của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của bị hại
cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải
4
quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để
xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra,
Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
cũng không có ý kiến và tại phiên tòa bị cáo cũng không có khiếu nại hay ý kiến
gì.
[3] Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng
đã quy kết, lời thừa nhận đó là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra,
phù hợp lời khai người những người tham gia tố tụng trong vụ án, phù hợp với thời
gian, địa điểm và quá trình diễn biến phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác thu
thập được trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định: Vào
khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04/7/2020, bị cáo Nguyễn Văn K điều khiển xe mô tô
đi qua cổng khu nhà nghỉ công nhân Công ty Lee&Man thì xảy ra mâu thuẫn cãi
nhau với 02 thanh niên, sau đó 02 thanh niên này đi vào khu nhà nghỉ công nhân.
Do không tìm được hai thanh niên này nên K lấy cây búa dài 33cm, cán bằng gỗ,
đầu búa bằng kim loại ở tiệm game bắn cá của Huỳnh Văn N rồi đi vào đập phá trụ
ATM của Ngân hàng TMCP N, đặt trước cổng khu nhà nghỉ, với tổng giá trị tài sản
bị thiệt hại là 39.959.550 đồng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành
truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự là phù hợp.
[4] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã thực hiện
là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người
khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và làm bất bình
trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành có khả năng nhận thức
pháp luật nhưng do xem thường pháp luật nên có hành vi đập phá làm hư hỏng tài
sản của người khác, bất chấp hậu quả. Bị cáo cố tình thực hiện hành vi với lỗi cố ý.
Hậu quả là bị cáo đã làm hư hỏng tài sản của Ngân hàng TMCP N với tổng giá trị
thiệt hại là 39.959.550 đồng. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành
vi phạm tội của mình.
[5] Đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị Tòa án nhân dân
huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép
vũ khí quân dụng theo Bản án số 42/2019/HS-ST ngày 20/6/2019, bị cáo chấp hành
xong hình phạt ngày 10/11/2019, chưa được xóa án tích mà còn phạm tội. Nên đây
là tình tiết tăng nặng tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ
5
luật hình sự. Không những vậy, bị cáo còn đang bị tạm giam do liên quan đến 03 vụ
án khác đang được Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng chuẩn bị đưa ra
xét xử. Ngoài ra, bị cáo còn nhiều lần bị Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Điều đó cho thấy ý thức xem thường
pháp luật, không khắc phục sửa chữa bản thân để làm công dân tốt. Nên cần xử
phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe và phòng
ngừa chung.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại tòa bị
cáo thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình
phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Về vật chứng: 01 cây búa nhổ đinh dài 33cm, cán gỗ 30cm, đầu búa bằng
kim loại không còn giá trị sử dụng và chủ sở hữu không yêu cầu được nhận lại nên
cần tịch thu tiêu hủy; 01 khóa nắp ngoài của két tiền; 01 thiết bị chống sao chép dữ
liệu ở khe đưa thẻ; 01 ổ khóa số bằng kim loại của két tiền có chìa định vị; 01 ổ
khóa số bằng kim loại của két tiền không có chìa định vị không còn giá trị sử dụng
và chủ sở hữu không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền
41.713.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo thống nhất bồi thường theo yêu cầu của
người bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
[10] Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 2.085.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm Tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51
Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 02 (Hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ
ngày bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K bồi thường cho Ngân
hàng TMCP N 41.713.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền

6
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
dân sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố
tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây búa nhổ đinh dài 33cm, cán gỗ 30cm, đầu búa bằng
kim loại; Tịch thu tiêu hủy 01 khóa nắp ngoài của két tiền; 01 thiết bị chống sao
chép dữ liệu ở khe đưa thẻ; 01 ổ khóa số bằng kim loại của két tiền có chìa định vị;
01 ổ khóa số bằng kim loại của két tiền không có chìa định vị do không còn giá trị
sử dụng. Theo Phiếu nhập kho số PNK 2021/06 ngày 17/12/2020 của Chi cục thi
hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 2.085.000 đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Dƣơng Hoài Ẩn
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hậu Giang;
- VKSND huyện Châu Thành;
- CQĐT huyện Châu Thành;
- THA huyện Châu Thành;
- Người tham gia TT;
- Lưu HS.
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm