Bản án số 02/2021/HNGĐ-PT ngày 11/01/2021 của TAND tỉnh Nghệ An về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 02/2021/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 02/2021/HNGĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 02/2021/HNGĐ-PT ngày 11/01/2021 của TAND tỉnh Nghệ An về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Nghệ An |
| Số hiệu: | 02/2021/HNGĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/01/2021 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 02/2021/HNGĐ-PT
Ngày: 11 - 01 - 2021
“V/v Tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng N Anh.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn
Bà Thái Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Nghệ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét
xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 44/2020/TLPT-
HNGĐ ngày 14/12/2020 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi
con sau khi ly hôn”. Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số
100/2020/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện
YT, tỉnh NA bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
48/2020/QĐ-PT ngày 21 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm 2, PT, xã
LT, huyện YT, tỉnh NA. Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Anh Lê Hồng T, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm QT, xã LT, huyện
YT, tỉnh NA. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI D VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:
Chị D và anh Lê Hồng T có 02 con chung là Lê Nguyễn HA, sinh ngày
16/02/2012 và Lê Nguyễn BN, sinh ngày 03/11/2014. Ngày 25 tháng 6 năm
2020, chị D và anh Lê Hồng T được Tòa án nhân dân huyện YT, tỉnh NA xử
không công nhận là vợ chồng; về con chung giao cháu Lê Nguyễn HA cho chị D
trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Lê Nguyễn BN cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.
2
Hai bên có quyền và nghĩa vụ thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai
được quyền cản trợ.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, anh T đưa cháu N về nuôi theo quyết
định của bản án. Chị D đề nghị được thăm gặp con thì anh T không đồng ý, cản
trở và che giấu địa chỉ, nơi sinh sống của cháu N. Sau một thời gian vừa tìm
kiếm vừa thuê người tìm kiếm chị D mới biết được anh T không cho cháu N
sinh sống, học tập tại địa phương mà đưa cháu N gửi tại anh trai và chị dâu của
anh T tại xã ML, huyện KS, tỉnh NA; nơi này cách trung tâm huyện KS khoảng
40 km, đi lại khó khăn, đường rừng cheo leo và cháu N nhập học tại Trường
Tiểu học ML1, thuộc xã ML, huyện KS. Bố mẹ anh T đều sinh sống cùng anh
em họ hàng tại xã LT, huyện YT, tỉnh NA, anh trai và chị dâu anh T lại gửi 2
con về ở với bố mẹ anh T để sinh sống và học tập tại xã LT, huyện YT, tỉnh NA.
Chị D cho rằng điều kiện ăn ở sinh hoạt, học tập và việc phát triển của cháu N
không đảm bảo; nơi cháu N ở thời tiết khắc nghiệt, là vùng kinh tế khó khăn,
trình độ dân trí thấp, xa trung tâm, suốt ngày chỉ quanh quẩn trong bản làng nên
sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển mọi mặt của cháu N.
Mặt khác, anh T hiện đang làm việc tại thành phố V và làm trong lĩnh vực
công trình giao thông nên thường xuyên phải đi theo công trình ở nhiều tỉnh
trong nước trong thời gian dài nên không đủ điều kiện, thời gian để nuôi dạy,
chăm sóc cháu N. Chị D cho rằng có đủ điều kiện về thời gian, kinh tế, nơi ở và
hàng ngày có mặt tại địa phương và cháu N hiện nay còn nhỏ, là con gái cần sự
chăm sóc của người mẹ, vì vậy chị D nuôi dạy cháu N sẽ thuận lợi hơn, đảm bảo
cho con phát triển về mọi mặt.
Chị D yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị D được nuôi con chung cháu Lê
Nguyễn BN và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Ý kiến của bị đơn anh Lê Hồng T:
Anh T thừa nhận vào ngày 25/6/2020, Tòa án nhân dân huyện YT đã xử
không công nhận vợ chồng giữa anh và chị Nguyễn Thị D, đồng thời giao cho
mỗi người nuôi 01 con chung như chị D trình bày. Sau khi bản án có hiệu lực
pháp luật, ngày 20/8/2020, anh T đón cháu N về nuôi. Do điều kiện công việc, bố
mẹ của anh T tuổi đã cao; anh chị em có 05 người thì có 02 người ở quê còn lại
làm ăn, sinh sống ở xa nên anh T gửi cháu N ăn ở, học tập tại nhà của anh trai và
chị dâu hiện đang trú tại xã ML, huyện KS, tỉnh NA và cháu N đang học tại
Trường Tiểu học ML1. Tuy là huyện miền núi nhưng anh T thấy điều kiện học
hành và sự phát triển của cháu N cũng tốt, anh T cũng thường lên thăm, gửi quà
và liên lạc với con qua điện thoại. Còn việc chị D thăm con, anh T không ngăn
cản mà vẫn tạo điều kiện để chị D được thăm con chứ không phải như chị D khai.
Mặt khác, khi điều kiện cho phép, anh T có thể thay đổi chỗ ở của con cho phù
hợp với hoàn cảnh thực tế. Hiện tại, công việc của anh T ổn định, thu nhập kinh tế
3
cũng khá cao, đảm bảo cho việc nuôi con nên anh T không đồng ý việc chị D yêu
cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Lê Nguyễn BN.
Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 100/2020/HNGĐ-ST ngày 13
tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện YT đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82,
Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xử: Giao con chung là Lê Nguyễn BN, sinh ngày 03 tháng 11 năm 2014
cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Tạm
hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lê Hồng T.
Anh T có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai
được quyền cản trở.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo
của các đương sự
Ngày 18/11/2020, bị đơn anh Lê Hồng T kháng cáo không đồng ý với bản
án sơ thẩm với nội D:
Sau khi anh đón cháu Lê Nguyễn BN về nuôi thì anh T đã đảm bảo mọi
điều kiện ăn học và yêu thương cháu. Tuy nhiên chưa đầy 1 tháng (từ 25/8/2020
đến 23/9/2020) chị D đã khởi kiện yêu cầu được nuôi cháu N; anh T cho rằng
không vi phạm gì về quyền nuôi con nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã tước đoạt đi
quyền nuôi con của anh T. Anh T đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn anh Lê Hồng T giữ nguyên nội D kháng
cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lê Nguyễn BN, sinh ngày 03 tháng 11
năm 2014 cho anh T trực tiếp nuôi cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Về
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh T không yêu cầu.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đề
nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh NA phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của những người T hành tố tụng: Trong quá
trình từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công
đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư
ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa.
- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã
chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 294 của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Quyền tranh tụng của các đương sự được bảo đảm.
4
- Về tố tụng: Bị đơn anh Lê Hồng T có đơn kháng cáo đúng thời hạn, anh T
đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên Tòa án nhân dân tỉnh NA thụ lý vụ án là
đúng quy định pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Xét về điều kiện nuôi con của chị Nguyễn Thị D: Theo xác nhận của Công
ty nơi chị Nguyễn Thị D làm việc thì thu nhập của chị D ổn định, bình quân mỗi
tháng 12.000.000 đồng. Hiện nay chị D sinh sống với cháu Lê Nguyễn HA (anh
trai cháu Lê Nguyễn BN) tại xóm Phan Thanh, xã LT, huyện YT, tỉnh NA.
Xét về điều kiện nuôi con của anh Lê Hồng T: Anh T thừa nhận hiện nay
anh T đang làm việc cho Ban quản lý dự án 85 và buôn bán cùng anh trai nên
thường xuyên vắng nhà. Chung cư của anh T tại thành phố V đang trong quá
trình hoàn thiện nên anh T chưa có nơi ở ổn định, bố mẹ anh T tại xã LT, huyện
YT, tỉnh NA tuổi cao sức yếu nên anh T phải gửi cháu N cho anh trai tại xã ML,
huyện KS, tỉnh NA. Trong khi đó, các con của anh trai anh T được gửi về sinh
sống và học tập tại xã LT, huyện YT, tỉnh NA. Anh T trình bày sẽ đón cháu N
về sống với anh khi anh ổn định và có gia đình mới.
Mặt khác, sau khi được giao con, anh T không tạo điều kiện cho cháu N
được sinh sống và học tập tại xã LT, huyện YT, tỉnh NA mà gửi con cho anh trai
tại xã ML, huyện KS, tỉnh NA. Đây là huyện miền núi xa xôi, hẻo lánh của tỉnh
Nghệ An, cháu N còn nhỏ nên việc sinh sống, đi lại, học tập cũng như việc du
nhập văn hóa sẽ gặp nhiều khó khăn. Anh T còn gây khó khăn đối với chị D khi
chị D đề nghị thăm gặp cháu N. Bên cạnh đó, cháu N, sinh ngày 03/11/2014, là
con gái, còn nhỏ nên cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Hiện nay chị
D sinh sống tại xã LT, huyện YT, tỉnh NA, có thu nhập ổn định nên đảm bảo
việc chăm sóc hai con là cháu Anh và cháu N.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm
anh T không có tài liệu căn cứ để chứng minh cho các nội D kháng cáo của
mình, cũng như chứng minh chị D không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. Anh T
đưa ra các giải pháp để nuôi con cũng như tạo môi trường sống tốt cho con
nhưng là ở tương lai còn hiện tại anh T nhận nuôi con nhưng chưa thể trực tiếp
nuôi mà giao lại cho anh trai trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì vậy, để cháu Lê Nguyễn BN được đảm bảo tốt nhất các điều kiện sống
và phát triển; được chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển toàn diện; đảm bảo quyền
được sống chung với cha mẹ theo quy định tại Điều 12, Điều 15, Điều 22 Luật
trẻ em năm 2016; đảm bảo sự phát triển mọi mặt của cháu N cần giao cháu N
cho chị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bản án dân sự sơ thẩm chấp nhận đơn
khởi kiện của chị Nguyễn Thị D là có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự
bác kháng cáo của anh Lê Hồng T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Người kháng cáo, nội D và hình thức đơn kháng cáo, thời
hạn kháng cáo của anh Lê Hồng T đúng theo quy định tại các Điều 271, 272,
273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên kháng cáo hợp lệ, được chấp nhận.
[2] Xét kháng cáo của anh Lê Hồng T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Ngày 25/6/2020, chị Nguyễn Thị D và anh Lê Hồng T được Tòa án nhân
dân huyện YT xét xử không công nhận là vợ chồng; về con chung, giao cháu Lê
Nguyễn HA, sinh ngày 16/02/2012 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê
Nguyễn BN, sinh ngày 03/11/2014 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Chị D khởi kiện yêu cầu thay đổi nuôi con, đề nghị Tòa án giao cháu N cho chị
D trực tiếp nuôi dưỡng. Việc nuôi con là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ. Anh T,
chị D đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con là hoàn toàn chính đáng, phù
hợp với quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 3 Điều 28 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh T trình bày hiện nay đang
làm việc cho Ban quản lý dự án 85 và buôn bán cùng anh trai nên thường xuyên
vắng nhà; anh T đã mua chung cư tại thành phố Vinh nhưng đang trong quá
trình hoàn thiện nên chưa có nơi ở ổn định; bố mẹ anh T ở xã LT, huyện YT
hiện nay tuổi cao, sức yếu nên anh T phải gửi cháu N cho anh trai tại xã ML,
huyện KS, tỉnh NA, hiện nay cháu đang học tại Trường Tiểu học ML 1, việc học
tập và sinh hoạt của cháu N vẫn diễn ra bình thường. Anh T trình bày sẽ đón cháu
N về sống với anh T khi ổn định cuộc sống.
Như vậy, sau khi được giao con, anh T không tạo điều kiện cho cháu N
được sinh sống và học tập tại xã LT, huyện YT, tỉnh NA mà gửi con cho anh trai
tại xã ML, huyện KS, tỉnh NA, trong khi đó, các con của anh trai anh T được gửi
về sinh sống và học tập tại xã LT, huyện YT, tỉnh NA. Tòa án đã giao cháu N
cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng nhưng anh T không trực tiếp nuôi cháu N mà gửi
cháu N cho người khác nhờ chăm sóc, nuôi dưỡng là không thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ của người được giao thực hiện việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con chưa thành niên; cháu N còn nhỏ nên việc sinh sống, đi lại, học tập
cũng như việc du nhập văn hóa sẽ gặp nhiều khó khăn.
Mặt khác nơi cháu N sinh sống và học tập là huyện miền núi xa xôi, hẻo
lánh sẽ không đảm bảo tốt nhất các điều kiện sống và phát triển như được chăm
sóc, nuôi dưỡng, phát triển toàn diện; quyền được sống chung với cha mẹ theo
quy định tại Điều 12, Điều 15, Điều 22 Luật trẻ em năm 2016.
Cháu Lê Nguyễn BN, sinh ngày 03/11/2014, là con gái, còn nhỏ nên cần có
sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ
án thể hiện chị D đang có công việc ổn định, thu nhập hàng tháng 12.000.000
đồng và hiện nay chị D sinh sống với cháu Lê Nguyễn HA (anh trai cháu Lê
6
Nguyễn BN) tại xóm PT, xã LT, huyện YT, tỉnh NA nên đảm bảo việc chăm sóc
cháu Lê Nguyễn HA và cháu Lê Nguyễn BN.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm
anh T không có tài liệu căn cứ để chứng minh yêu cầu của mình cũng như chứng
minh chị D không đủ điều kiện trực tiêp nuôi con; các giải pháp anh T đưa ra để
nuôi con cũng như tạo môi trường sống tốt cho con nhưng là ở tương lai. Hiện
tại anh T vẫn chưa thể trực tiếp nuôi cháu N mà vẫn giao cho anh trai, chị dâu
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N.
Xét thấy chị D có chỗ ở, có thu nhập ổn định, có điều kiện nuôi con nên
Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cho chị Nguyễn Thị D được trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc cháu Lê Nguyễn BN là có căn cứ. Vì vậy, không có cơ sở cứ chấp
nhận nội D kháng cáo của anh Lê Hồng T.
Về cấp dưỡng nuôi: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên “Tạm hoãn nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con cho anh Lê Hồng T” là chưa chính xác. Do đương sự chưa yêu
cầu nên tuyên là “Do đương sự chưa yêu cầu nên chưa giải quyết”.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Bị đơn anh Lê Hồng T kháng cáo không được chấp nhận nên
phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn anh Lê Hồng T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 3 Điều 28; Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81,
Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 12, Điều 15,
Điều 22 Luật trẻ em năm 2016. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D
Giao cháu Lê Nguyễn BN, sinh ngày 03 tháng 11 năm 2014 cho chị
Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng
thành. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con
chung không ai được cản trở.
Chị Nguyễn Thị D chưa yêu cầu anh Lê Hồng T cấp dưỡng nuôi con. Vì
quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của
pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay
đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
7
Cháu Lê Nguyễn BN hiện nay đang do anh Lê Hồng T trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng nên anh T là người phải có nghĩa vụ thi hành án.
Trươ
̀
ng hơ
̣
p bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luâ
̣
t Thi ha
̀
nh
án dân sự thì người được thi hành án dân sự , ngươ
̀
i pha
̉
i thi ha
̀
nh a
́
n dân sư
̣
co
́
quyền tho
̉
a thuâ
̣
n thi ha
̀
nh a
́
n, yêu cầu thi ha
̀
nh a
́
n, tư
̣
nguyê
̣
n thi hành án hoặc bị
cươ
̃
ng chế thi ha
̀
nh a
́
n theo quy đi
̣
nh ta
̣
i ca
́
c Điều 6, 7 và 9 Luâ
̣
t Thi ha
̀
nh a
́
n dân
sư
̣
; thơ
̀
i hiê
̣
u thi ha
̀
nh a
́
n đươ
̣
c thư
̣
c hiê
̣
n theo quy đi
̣
nh ta
̣
i Điều 30 Luâ
̣
t Thi ha
̀
nh
án dân sự.
2. Về án phí phúc thẩm: Anh Lê Hồng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) tiền án phí phúc thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện YT,
tỉnh NA theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0002764
ngày 26 tháng 11 năm 2020.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh NA;
- TAND huyện YT;
- Chi cục THADS huyện YT;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Hoàng Ngọc Anh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm