Bản án số 02/2021/DS-ST ngày 19/01/2021 của TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng hợp tác

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2021/DS-ST ngày 19/01/2021 của TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng hợp tác
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Thuận An (TAND tỉnh Bình Dương)
Số hiệu: 02/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/01/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng thi công
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 02/2021/DS-ST
Ngày: 19 01 2021
V/v tranh chấp hợp đồng thi công
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Tâm;
2. Trần Ngọc Phương.
- Thư phiên tòa: Đoàn Phạm Thanh Trang Thư Tòa án nhân dân
thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Trần Thị Lý Loan Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An
xét xử thẩm vụ án dân sự thụ số 152/2020/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2020
về việc tranh chấp hợp đồng thi công, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
89/2020/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 12 m 2020 Quyết định hoãn phiên tòa số
01/2021/QĐST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2021, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Trương Thanh H, sinh năm 1985; trú tại: 83 đường số 1,
khu nhà ở TĐH, khu phố CL, phường TĐH, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Danh S, sinh năm
1992; trú tại: 19 HBT, phường ĐH, thành phố An, tỉnh Bình Dương, người đại
diện theo y quyền (theo văn bản y quyền ngày 26/5/2020), đơn đề nghị xét xử
vắng mặt.
2. Bị đơn: Công ty TNHH K thuật y dựng HPĐ; trụ sở: 119/4 đường 61
khu phố BP B, phường Bình BC, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Người đại
diện theo pháp luật: Bà Phạm Thị H1, chức vụ: Giám đốc, có đơn xin vắng mặt.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Thanh Ng, sinh năm 1980;
địa chỉ: Công trình y dựng trường trung học sở MT, Minh Tân, huyện Dầu
Tiếng, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn và nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 19/12/2018, ông Trương Thanh H Công ty TNHH Kỹ thuật
Xây dựng HPĐ ký hợp đồng giao khoán phần khung. Theo hợp đồng, ông H nhận thầu
thi công toàn bộ nhân công phần khung hạng mục khối lớp học thư viện của công
trình trường THCS Nguyễn Trung Trực đúng theo bản vẽ được duyệt được bên A
(bên giao thầu) toàn bnhân công phần khung, công trình thi công tọa lạc tại phường
Hưng Định, thị Thuận An (nay thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dương; giá trị
hợp đồng tạm tính 477.305.000 đồng; phương thức thanh toán: Tiền mặt hoặc
chuyển khoản; thời gian thi công 35 ngày. Sau khi kết hợp đồng, ông H đã tiến
hành thi công theo đúng hợp đồng phía Công ty TNHH K thuật Xây dựng
HPĐdo Phạm Thị H1 đại diện theo pháp luật đã thanh toán 02 lần tiền, một lần trả
trực tiếp 80.000.000 đồng quán cafe (không nhớ tên) tại phường Bình Chuẩn 01
lần chuyển khoản số tiền 80.000.000 đồng qua Ngân hàng BIDV vào tài khoản số
13010000813311 của ông Trương Thanh H nội dung Mr Ng thanh toán tiền công
NTT”. Đây công trình duy nhất hợp tác giữa hai bên. Ngoài ra, ông H không bất
cứ giao dịch nào khác với bà Phạm Thị H1 và ông Lê Thanh Ng. Khi bà H1 thanh toán
tiền thì ông H mới biết bà H1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty HPĐ
Ngày 24/6/2019 ông Ng cam kết thừa nhận còn nợ ông H số tiền
230.000.000 đồng từ tháng 3/2019 và sẽ hỗ trợ ông H 10.000.000 đồng để trả cho công
nhân. Sau đó ông Ng đã trả cho ông H 30.000.000 đồng còn n 200.000.000 đồng.
Nay nguyên đơn ông Trương Thanh H yêu cầu Công ty TNHH Kỹ thuật và y
dựng HPĐ trách nhiệm thanh toán số tiền 200.000.000 đồng tiền lãi chm trả từ
ngày 01/3/2019 đến ngày xét xử 19/01/2021 là 22 tháng 18 ngày với lãi suất 10%/năm,
thành tiền 37.666.666 đồng, tổng cộng nợ gốc lãi 237.666.666 đồng người
đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Các tài liệu, chứng cnguyên đơn cung cấp để chứng minh yêu cầu khởi kiện:
Hợp đồng giao khoán phần khung ngày 19/12/2018; giấy cam kết ngày 24/6/2019;
giấy cam kết ngày 03/4/2019; thông báo yêu cầu trả tiền thi công phần khung và vật
phụ thi công công trình trường THCS Nguyễn Trung Trực chưa trả; sao tài khoản
tiền gửi khách hàng ngày 11/11/2020, đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Quá trình tham gia tố tụng, tại bản tự khai ngày 25/6/2020 ngày 30/7/2020,
bà Phạm Thị H1 trình bày: Bà H1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH
Kỹ thuật và y dựng Hưng Phát Đạt. Bà H1 không phải là người đàm phán và ký hợp
đồng với ông H cũng không y quyền cho ông Thanh Ng để kết hợp đồng
này. Việc kết hợp đồng do ông Ng tự lấy mộc dấu của công ty đóng vào
hợp đồng giao khoán ngày 19/12/2018. ông Lê Thanh Ng trước đây là vợ chồng
đến năm 2016 ly hôn. Ông Ng biên bản cam kết với H1 về những sự việc liên
quan đến công ty, schịu trách nhiệm cho tất cả các hợp đồng, biên bản ông Ng
. Giữa H1 ông Ng thỏa thuận một số giấy tờ khống đã s dụng vào
việc làm hồ tạm ngưng hoạt động công ty, công ty đã tạm ngưng hoạt động vậy
không đồng ý trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu giải
quyết vắng mặt.
Tài liệu, chứng cứ do bị đơn giao nộp: Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, chứng
minh nhân dân, giấy xác nhận doanh nghiệp đăng tạm ngừng kinh doanh, bản cam
kết ngày 07/01/2019, giấy cam kết ngày 13/6/2020.
3
Quá trình tố tụng, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thanh Ng
trình bày:
H1 là đại diện theo pháp luật ông Ng Giám đốc điều hành của Công ty
TNHH Kỹ thuật Xây dựng Hưng Phát Đạt. Vào ngày 19/12/2018, giữa Công ty
TNHH K thuật y dựng HPĐdo ông Ng đại diện ông Trương Thanh H ký
hợp đồng giao khoán phần khung đối với ng trình trường trung học sở Nguyễn
Trung Trực, phường Hưng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Theo nội
dung hợp đồng thì ông H thi công đổ khung bê tông tầng 3,4 mái của công trình, giá
trị hợp đồng 477.305.000 đồng. Công ty TNHH Kỹ thuật y dựng HPĐ đã
thanh toán cho ông H được một phần tiền, n nợ lại 200.000.000 đồng. H1 không
trực tiếp hợp đồng là do trước đó ông Ng H1 vợ chồng, H1 đã ủy quyền
cho ông Ng giao dịch các hợp đồng về y dựng còn H1 người thực hiện
tất cả các giao dịch như đôn đốc công nhân tại công trình, thanh toán tiền lương cho
công nhân, các đội khoán, tiền mua vật như ván, khung, cotpha. H1 thanh
toán tiền cho ông H 02 lần ông Ng đã thanh toàn 01 lần tiền như đại diện nguyên
đơn trình y. Toàn b lợi nhuận thu được trong quá trình kinh doanh các đối tác
chuyển khoản cho Công ty HPĐ nhưng khi ông yêu cầu H1 đưa tiền để trả cho ông
H thì H1 không đồng ý. Ông Ng yêu cầu Công ty TNHH K thuật y dựng
HPĐ trách nhiệm thanh toán nợ cho ông Trương Thanh H và có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt.
Chứng cứ do người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp: Hợp đồng giao
khoán số HĐ: 04.2018/HPD-PC ngày 25/9/2018, tờ cam kết ngày 23/11/2019 đơn
đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ cho đến trước khi
Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử các đương sự đã
thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: Về quan hệ tranh chấp Tòa án xác định quan hệ tranh
chấp là tranh chấp hợp đồng thi công và thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền tại khoản 3
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số
3702649087 ngày 23/3/2018 cấp cho Công ty TNHH Kỹ thuật xây dựng HPĐ thể
hiện Phạm Thị H1 người đại diện theo pháp luật của công ty. Ông Thanh Ng
thành viên góp vốn của công ty. Nvậy, ông Ng lấy cách giám đốc để hợp
đồng với ông H chưa đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, theo sao tiền gửi
khách hàng ngày 11/11/2020 của Ngân hàng TMCP đầu phát triển Việt Nam
cung cấp vào lúc 10 giờ 03 phút ngày 28/01/2019, H1 chuyển cho ông H
80.000.000 đồng với nội dung “Mr Ng thanh toán tiền công NTT” đủ sở khẳng
định H1 biết việc Công ty TNHH K thuật y dựng HPĐông H kết
hợp đồng giao khoán ngày 19/12/2018 H1 thực hiện thanh toán tức đang thực
hiện hợp đồng. Do đó, việc H1 cho rằng không biết việc kết hợp đồng
Công ty TNHH kthuật y dựng HPĐkhông trách nhiệm trong việc thực hiện
hợp đồng không căn cứ. Từ nhận định trên căn cứ c định hợp đồng giao
khoán phần khung ngày 19/12/2018 đã được hai bên kết thực hiện trên thực tế,
ông H đã thực hiện xong công việc theo hợp đồng, bị đơn đã thanh toán một phần giá
trị hợp đồng, còn nợ 200.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
4
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với tiền lãi, theo giấy cam kết ngày 24/6/2019, ông
Ng thừa nhận số tiền chưa thanh toán từ tháng 3/2019. Như vậy, sở để xác định
việc bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ tháng 3/2019 mức lãi suất
10%/năm ông H yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu c tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, người đại diện
hợp pháp của bị đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn
đề nghị giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của
Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ pháp luật: Ông Trương Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng HPĐ thanh toán nợ đối với hợp
đồng giao khoán ngày 19/12/2018 nên quan hệ pháp luật trong vụ án y được c
định Tranh chấp hợp đồng thi công theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật ttụng dân
sự.
[3] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng
HPĐ trụ sở tại: 119/4 đường 61 khu phố nh Phước B, phường Bình Chuẩn, thành
phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình ơng theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 35điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về nội dung vụ án: Ông Trương Thanh H khởi kiện yêu cầu Công ty
TNHH Kỹ thuật Xây dựng H thanh toán tiền nợ theo hợp đồng giao khoán phần
khung ngày 19/12/2018, s tiền 200.000.000 đồng tiền lãi chậm trả từ ngày
01/3/2019 đến ngày 19/01/2021 22 tháng 18 ngày với lãi suất 10%/năm, thành tiền
37.666.666 đồng, tổng cộng 237.666.666 đồng. Bị đơn không đồng ý thanh toán
theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng hợp đồng trên không phải do người
đại diện theo pháp luật kết H1 không biết việc ông Ng kết hợp đồng với
ông H.
Xét hợp đồng giao khoán phần khung ngày 19/12/2018, vchủ thể giao kết hợp
đồng, phía bị đơn do ông Lê Thanh Ng là thành viên góp vốn và không được người đại
diện theo pháp luật của Công ty TNHH Kthuật y dựng HPĐ Phạm Thị
H1, chức vụ Giám đốc ủy quyền hợp lệ nhưng ghi cách giám đốc để kết hợp
đồng với ông Trương Thanh H sử dụng con dấu của công ty đóng dấu vào trong
hợp đồng không phù hợp theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, qtrình thực hiện
hợp đồng, ông Trương Thanh H ông Thanh Ng xác định chính Phạm Thị H1
đã mặt tại công trình xây dựng để đôn đốc công nhân, thanh toán tiền cho ông H 02
lần tiền, 1 lần trả trực tiếp 80.000.000 đồng 01 lần H1 chuyển khoản cho ông H
theo sao kê tiền gửi khách hàng ngày 11/11/2020 của Ngân hàng TMCP đầu tư và phát
triển Việt Nam cung cấp vào lúc 10 giờ 03 phút ngày 28/01/2019 H1 đã chuyển vào
số tài khoản 13010000813311 của ông Trương Thanh H 80.000.000 đồng với nội dung
“Mr Ng thanh toán tiền công NTT”. Ngoài hợp đồng giao khoáng phần khung ngày
19/12/2018 ra, ông Thanh Ng ông Trương Thanh H xác định không còn bất k
giao dịch nào khác. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định H1 đã biết và công nhận việc
5
kết hợp đồng giữa ông Thanh Ng nhân danh Công ty TNHH HPĐ với ông Trương
Thanh H không phản đối việc giao kết hợp đồng trên. Mặt khác, thông qua việc bà
H1 thanh toán tiền cho ông H chứng tỏ H1 đã thực hiện hợp đồng giao khoán ngày
19/12/2018 nêu trên. Việc H1 cho rằng bà không biết việc ký kết hợp đồng và Công
ty TNHH Kthuật và Xây dựng HPĐ không trách nhiệm trong việc thực hiện hợp
đồng không căn cứ. Từ nhận định trên, căn cứ xác định hợp đồng giao khoán
phần khung ngày 19/12/2018 đã được hai bên kết thực hiện trên thực tế, ông H
đã thực hiện xong công việc theo hợp đồng, bị đơn đã thanh toán một phần giá trị hợp
đồng, ông Trương Thanh H yêu cầu Công ty TNHH Kỹ thuật và Xây dựng HPĐ thanh
toán số tiền nợ còn lại 200.000.000 đồng căn cứ phù hợp khoản 3 Điều 139,
điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với tiền lãi chậm trả, tại hợp đồng giao khoán phần khung ngày
19/12/2018, các đương sự không thỏa thuận tiền lãi suất chậm trả. Tuy nhiên, theo
giấy cam kết ngày 24/6/2019, ông Ng thừa nhận số tiền chưa thanh toán từ tháng
3/2019 bị đơn không thực hiện việc thanh toán nợ đã xâm phạm đến quyền lợi ích
hợp pháp của nguyên đơn nên nguyên đơn yêu cầu tiền lãi chậm trả từ ngày 01/3/2019
đến ngày xét xử ngày 19/01/2021 là 22 tháng 18 ngày với lãi suất 10%/năm, thành tiền
37.666.666 đồng, tổng cộng nợ gốc lãi: 237.666.666 đồng phù hợp theo quy định
tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 nên chấp nhận.
Theo Công văn số 964/ĐKKD ngày 20/7/2020 của Phòng đăng ký kinh doanh
Sở kế hoạch đầu tỉnh Bình Dương cung cấp thông Công ty TNHH K thuật
Xây dựng HPĐ đã tạm ngừng kinh doanh từ ngày 02/7/2020 đến ngày 30/6/2020 theo
giấy xác nhận về việc doanh nghiệp đăng tạm ngừng kinh doanh ngày 25/6/2020.
Tuy nhiên, theo Điều 200 Luật doanh nghiệp, Công ty TNHH K thuật Xây dựng
HPĐ vẫn phải tiếp tục thanh toán các khoản nợ, hoàn thành việc thực hiện hợp đồng
đã ký với ông Trương Thanh H.
Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Thanh H đối với bị đơn Công ty
TNHH Kỹ thuật và Xây dựng HPĐ về việc tranh chấp hợp đồng thi công. Buộc bị đơn
phải thanh toán nợ cho nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng tiền lãi 37.666.666
đồng, tổng cộng nợ gốc và lãi là 237.666.666 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án
cơ sở phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[5] Án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266;
Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điu 139, Điều 142, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 200 Luật doanh nghiệp năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
6
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Thanh H
về việc Tranh chấp hợp đồng thi công với bị đơn Công ty TNHH Kỹ thuật y
dựng HPĐ.
Buộc ng ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng HPĐ trách nhiệm thanh toán
cho ông Trương Thanh H số tiền nợ 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) tiền lãi
37.666.666 đồng (ba mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi
sáu đồng, tổng cộng 237.666.666 đồng (hai trăm ba mươi bảy triệu sáu trăm sáu
mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
2. Về án phí dân sự thẩm: Công ty TNHH K thuật y dựng HPĐ phải
chịu 11.883.333 đồng (mười một triệu m trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi
ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại ông Trương Thanh H số tiền 6.465.555 đồng (sáu triệu bốn trăm sáu
mươi lăm nghìn m trăm năm mươi m đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai
thu tiền số 0046781 ngày 17/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận
An, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án y được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án
dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND thành phố Thuận An;
- Chi cục THADS thành phố Thuận An;
- Các đương sự;
- Lưu lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Hoàng Thị Khánh Linh
7
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
Tải về
Bản án số 02/2021/DS-ST Bản án số 02/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất