Bản án số 02/2019/KDTM-PT ngày 13/03/2019 của TAND tỉnh Lâm Đồng về kiện đòi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2019/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 02/2019/KDTM-PT ngày 13/03/2019 của TAND tỉnh Lâm Đồng về kiện đòi tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 02/2019/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/03/2019
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản giữa Công ty AM với Công ty THP
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số:02/2019/KDTM-PT
Ngày: 13-3-2019
V/v Kin đòi tài sn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Bùi Hữu Nhân
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Bà Vũ Thị Nguyệt
- Thư phiên tòa: Trần Thị Hương Trang Thư Tòa án nhân n
tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tư - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2019, tại trsở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2019/TLPT-KDTM ngày 14 tháng 01
m 2019 về Kin đòi tài sn.
Do Bn án Kinh doanh thương mi sơ thm số:10/2018/KDTM-ST
ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2019/QĐ-PT ngày 22/02/2019;
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Thương mi Dch v AM;
Tr s: S 68A NVC, phưng LS, Tp. BL, tnh Lâm Đng.
Đi din theo pháp lut: Bà Lê Th T L, sinh năm 1978. Chc v:
Giám đc.
Ngưi bo v quyn và li ích hp pháp ca nguyên đơn: Lut sư
Nguyễn Th Đ1 Văn phòng lut sư TĐ thuc Đoàn lut sư tnh Lâm
Đng
- B đơn: Công ty TNHH THP;
Tr s: S 396 - NLB, Phưng 2, thành ph ĐL;
Đi din theo pháp lut: Bà Đ Th Bích Th, sinh năm 1958. Chc
v: Giám đc;
2
Đi din theo y quyn: Bà Nguyn Th Tuyết H, sinh năm 1966.
Trú ti: S 69 TrL, phưng 4, Tp. ĐL (văn bn y quyn ngày
18/01/2019).
Ngưi bo v quyn và li ích hp pháp ca b đơn: Lut sư HHĐ
Văn phòng lut sư HHĐ thuc Đoàn lut sư tnh Lâm Đng.
- Ngưi có quyn li, nghĩa v liên quan:
Bà Nguyn Th Tuyết M;
Hin đang thi hành án ti T 10, phân tri 5, Tri giam XL, tnh
ĐN.
- Vin kim sát nhân dân Tp. ĐL kháng ngh.
- Ngưi kháng cáo: b đơn Công ty TNHH THP.
(Bà H, lut sư Đ1, lut sư Đ có mt; bà L có đơn xin xét x vng
mt; các đương s còn li vng mt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong h
sơ vụ án thì :
Vào năm 2011, giữa Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ AM ( viết tắt
Công ty AM) Công ty TNHH THP (viết tắt công ty THP) thỏa thuận
mua bán thép, không làm hợp đồng kinh tế. Theo thỏa thuận thì Công ty AM sẽ
mua của công ty THP 200 tấn thép. Công ty AM đã chuyển tiền mua thép như
sau:
Ngày 21/12/2011, bà Thị Tố L chuyển tiền tại Ngân Hàng TMCP Công
thương Việt Nam Chi nhánh BL với số tiền 999.500.000đ cho người nhận
Công ty THP; ngày 21/12/2011, Thị Tố L chuyển tiền tại Ngân Hàng
TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Lâm Đồng stiền 90.000.000đ cho
công ty THP; ngày 23/12/2011, Thị Tố L chuyển tiền tại Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Lâm Đồng số tiền 200.000.000đ cho
người nhận là Thị Kim Ph kế toán của Công ty THP; ngày 24/12/2011,
Thị Tố L chuyển tiền tại Ngân ng TMCP Sài gòn Thương Tín Chi
nhánh Lâm Đồng số tiền 300.000.000đ cho người nhận Thị Kim Ph
Kế toán của Công ty THP ngày 27/12/2011, Công ty AM chuyển tiền tại
Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Hòa
Ninh Lâm Đồng số tiền 1.390.000.000đ cho người nhận là công ty THP.
Tổng cộng, Công ty AM đã chuyển trả tiền mua hàng cho Công ty THP số
tiền 2.979.500.000đ.
Đối với 500.000.000đ Công ty AM chuyển cho Thị Kim Ph vào
các ngày 23 24 tháng 12 năm 2011 thì không yêu cầu giải quyết trong v án
này.
3
Sau khi Công ty AM chuyển tiền nhưng Công ty THP đã không chuyển
thép cho Công ty AM. Nay Công ty AM yêu cầu Công ty THP trả lại số tiền gốc
2.479.500.00tương đương với số tiền Công ty AM đã chuyển cho Công
Ty THP.
Theo bản tự khai của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông Phạm
Thiện Hồng V thì:
Trước đây, ng ty THP công ty hai thành viên. Tuy nhiên, khi
Nguyễn Thị Tuyết M người đại diện theo pháp luật bị kết án tù chung thân thì
từ ngày 19/5/2017 Đỗ Thị Bích Th người đại diện theo pháp luật của
Công ty THP. Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty AM thì đến thời điểm hiện
tại Công ty THP không lưu giữ bất kỳ tài liệu nào liên quan đến việc mua bán
thép với Công ty AM. Khi làm việc tại Tòa án thì Công ty THP mới biết được
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo nguyên đơn trình bày thì hai bên chỉ
thỏa thuận miệng về việc mua bán thép, không chứng từ thể hiện việc mua
bán thép giữa hai bên.
Ngoài ra, giữa Công ty AM Công ty THP hai pháp nhân nhưng khi
chuyển tiền lại đứng tên nhân Th Tố L thì không sở để xem xét
về việc mua bán thép. Riêng việc L chuyển tiền cho Hà Thị Kim Ph thì bà
Phúc kế toán của Công ty Phước Đại chkhông liên quan đến Công ty THP.
Do vậy, Công ty THP không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty
AM.
Theo bản tự khai của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn
Thị Tuyết M trình bày thì:
Giữa Công ty THP Công ty AM Hợp đồng kinh tế vào năm 2011
(không nhớ số, ngày, tháng, năm ký), Công ty AM chuyển số tiền mua sắt
thép nhiều lần (không nhớ cụ thể số tiền chuyển bao nhiêu). Sau khi kí hợp đồng
mua bán sắt thép thì Công ty AM lúc nhận hàng, lúc hàng không thì
Công ty THP đã hoàn trả lại tiền cho Công ty AM. Năm 2011, Thị TL
đứng đại diện theo pháp luật của Công ty AM một Công ty M không nh
tên.
Nay bà L là người đại diện theo pháp luật của Công ty AM yêu cầu Công ty
THP tr lại số tiền 2.479.500.000đ thì không đồng ý, ng ty THP đã
chuyển trả lại cho bà L số tiền trên (bà là người ký séc ghi tên bà L là người trực
tiếp nhận tiền rút tiền, đi cùng bà ThKim Ph kế toán của công ty).
M người đại diện theo pháp luật ca hai công ty Công ty THP và công
ty Phước Đại, nếu công ty THP không xuất hóa đơn thì Công ty Phước Đại sẽ
xuất hóa đơn. Như vậy, mọi giao dịch giữa ng ty THP Công ty AM đã
hoàn thành, giữa hai công ty không còn nợ nhau. Phía Công ty THP không
đồng ý trả số tiền 2.479.500.000đ cho Công ty AM thì bà cũng đồng ý với ý
kiến của Công ty THP, đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
4
Tại Bản án kinh doanh thương mại số 10/2018/KDTM-ST ngày 30/11/2018
của Tòa án nhân dân thành ph ĐL đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH thương mai dịch vụ
AM về việc “Kiện đòi tài sản” đối với Công ty TNHH THP;
Buộc Công ty TNHH THP trách nhiệm trả cho Công ty TNHH thương
mai dịch vụ AM số tiền gốc là 2.479.500.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo trách nhiệm thi
hành án của các bên dân sự.
Sau khi xét xử thẩm, Viện kiểm sát nhân dân Tp. ĐL ra Quyết định
kháng nghị số 03/QĐKNPT-VKS-KDTM ngày 14/12/2018 yêu cầu Tòa án nhân
dân tỉnh Lâm Đồng hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ vụ án cho Tòa án nhân
dân Tp. ĐL giải quyết lại theo quy định.
Ngày 14/12/2018, ng ty TNHH THP kháng cáo yêu cầu hủy Bản án
Kinh doanh thương mại thẩm s10/2018/KDTM-ST ngày 30/11/2018 của
Tòa án nhân dân Tp. ĐL, đnghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công
ty TNHH thương mại - dịch vụ AM.
Ngày 21/01/2019, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ AM đơn xin
rút đơn khởi kiện.
Tại phiên tòa hôm nay,
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu
cầu rút đơn khởi kiện của nguyên đơn đồng ý với kháng nghcủa Viện kiểm
sát nhân dân Tp. ĐL. Người đại diện theo ủy quyền của bđơn không đồng ý
việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị bác yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp
hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩmng như tại phiên
tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự. Đồng thời nêu quan điểm đề nghị căn cứ khoản 3 Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự hủy toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại số
10/2018/KDTM-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát tham gia phiên tòa. Hội đồngt xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
5
Nguyên đơn đơn xin t yêu cầu khởi kiện nhưng bđơn không đồng ý
việc rút yêu cầu khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nên vụ án được xét
xử theo quy định chung.
Nguyên đơn khởi kiện cho rằng đã chuyển số tiền 2.479.500.000đ đ
mua thép vào tài khoản của bị đơn nhưng bị đơn không chuyển hàng cho nguyên
đơn. Nay nguyên đơn khởi kiện và yêu cầu bị đơn trả lại số tiền trên. Phía bị đơn
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên phát sinh tranh chấp.
Cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Kiện đòi tài sản” là đúng pháp luật.
Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì thấy rằng:
Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ AM đã chấm dứt tồn tại tngày
01/8/2012 theo Thông báo số 3588/12 ngày 01/8/2012 của Phòng đăng ký kinh
doanh - Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Lâm Đồng. Như vậy, tại thời điểm khởi kiện
thì Công ty AM không còn tư cách pháp nhân để tham gia tố tụng. Tòa án cấp sơ
thẩm không làm tình trạng hoạt động của Công ty AM đã thụ vụ án vi
phạm quy định tại Điều 68, 85 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 86, 96, 137, 140 Bộ
luật Dân sự.
[2] Về nội dung:
Đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH THP thời điểm tháng 11/2011
Nguyễn Thị Tuyết M. Theo lời khai của Lê Thị Tố L thì vào năm 2011
L thỏa thuận làm việc trực tiếp với bà M về việc mua bán thép giữa hai công
ty. M đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xvề tội “lừa đảo chiếm
đoạt tài sản và đang chấp hành án tù chung thân tại Trại giam XL ĐN.
Ngày 27/11/2018, Tòa án cấp thẩm chỉ tiến hành lấy lời khai của M
về các giao dịch giữa Công ty THP và Công ty AM; ngày 30/11/2018, Tòa án
tiếp tục đưa vụ án ra xét xử đưa M tham gia tố tụng với cách người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan; M đơn xin hòa giải xét xử vắng mặt
được Trại giam XL xác nhận ngày 27/11/2018 hợp lệ. Song, do các chứng cứ
làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án được thu thập trong hồ còn thiếu và có
nhiều mâu thuẫn chưa được làm , nhưng Tòa án cấp thẩm vẫn xét x để
buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 2.479.500.000đ chưa
đúng các quy định của pháp luật.
Tại Bản án số 43/2016/HSST ngày 29/8/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng đã nhận định: trong thời gian từ tháng 8/2011 đến tháng 7/2012,
Nguyễn Thị Tuyết M cùng chồng là Hoàng Vũ Huy L1 đã sử dụng 04 pháp nhân
gồm Công ty TNHH THP, Công ty , Công ty HL, Công ty MH đưa ra thông
tin không thật để tạo niềm tin thông qua việc kết hợp đồng mua bán thép
xây dựng để chiếm đoạt tiền của Công ty HV Công ty NhT. Do bà Nguyễn
Thị Tuyết M Lê Thị Tố L thỏa thuận vviệc mua bán thép xây dựng vào
thời điểm năm 2011 cùng trong khoảng thời gian M thực hiện hành vi lừa
đảo chiếm đoạt tài sản của các chủ thể khác. Theo lời trình bày của bà Lê Thị Tố
L thì bà L M thỏa thuận về việc mua bán thép nhưng khi bà L chuyển tiền
thì M không giao thép cho L, hành vi này cũng tương tự như hành vi lừa
đảo chiếm đoạt tài sản của M với Công ty NhT Công ty HV nhưng hồ
6
vụ án chưa thu thập chứng cứ làm việc hay không dấu hiệu hình sự của bà
Nguyễn Thị Tuyết M.
Theo bản án s43/2016/HSST ngày 29/8/2016 thì bằng việc lợi dụng việc
điều hành chi phối 04 Công ty Công ty TNHH THP, Công ty , Công ty
HL, Công ty MH, M đã thực hiện việc chuyển tiền lòng vòng giữa các Công
ty trên để rút tiền sử dụng cho mục đích nhân các mục đích khác. Do đó,
cần phải xem xét trách nhiệm trả các khoản tiền trên là trách nhiệm của nhân
bà M hay trách nhiệm của Công ty TNHH THP.
Theo bà M trình bày thì giữa Công ty THP Công ty AM ký hợp đồng
kinh tế vào năm 2011 (M không nhớ số, ngày hợp đồng). Công ty AM
chuyển số tiền mua bán sắt thép nhiều lần. Sau khi ký hợp đồng thì lúc Công
ty AM nhận hàng, có lúc có những mặt hàng không có thì Công ty THP đã hoàn
trả lại tiền cho Công ty AM. Năm 2011, Lê Thị Tố L đứng đại diện theo pháp
luật của hai Công ty là Công ty TNHH TM-DV AM và một công ty M không
nhớ tên.
Nay L khởi kiện yêu cầu Công ty THP phải trả số tiền 2.479.500.000đ
thì bà M không đồng ý vì bà M đã chuyển trả cho L số tiền trên; M ký séc
ghi tên L người trực tiếp nhận tiền rút tiền Thị Kim Ph kế
toán của Công ty đi cùng; nhưng chứng cứ này cũng chưa được đối chất làm
để thể hiện việc M chuyển trả tiền cho Công ty AM. Hơn nữa, đại diện
Công ty THP là ông Phạm Thiện Hồng V cho rằng Công ty THP không biết các
thỏa thuận với Lê Thị Tố L. Khi tiếp nhận điều hành Công ty THP thì bà Đỗ
Thị Bích Th cũng không được bàn giao các khoản nợ trên. Như vậy, tất cả các
vấn đề trên chưa được thu thập chứng cứ đ làm rõ.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ pTòa án thì
mức án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm đương sự phải nộp
2.000.000đồng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ cho đương sự nộp số tiền
300.000đồng ( bút lục số 149) là không đúng pháp luật.
Xét thấy, Tòa án nhân dân thành phố ĐL vi phạm nghiêm trọng về tố tụng
nội dung vụ án còn nhiều vấn đchưa được làm rõ. Do đó, cần chấp nhận
kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, để hủy bản án sơ thẩm và
chuyn h sơ v án cho Tòa án cp sơ thm gii quyết li v án theo th
chung là có căn c.
[4] Về án phí: Án phí kinh doanh thương mại thẩm sẽ được quyết định
khi giải quyết lại vụ án, bị đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308 Blut Ttụng n sự;
7
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Hủy Bản án Kinh doanh thương mi sơ thm s 10/2018/KDTM-ST
ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL.
Chuyn h sơ v án cho Tòa án nhân dân thành ph ĐL gii quyết
li v án theo th tc sơ thm.
2. Về án phí:
Hoàn trả cho ng ty TNHH THP số tiền 300.000đ tạm ứng án pđã nộp
theo biên lai thu số 0011745 ngày 25/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố ĐL.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh LĐ;
- Phòng KTNV & THA;
- TAND Tp. ĐL;
- Chi cục THADS Tp. ĐL;
- Các đương sự;
- Lưu AV - HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Bùi Hữu Nhân
Tải về
Bản án số 02/2019/KDTM-PT Bản án số 02/2019/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất