Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 26/01/2024 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2024/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 26/01/2024 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Văn Lãng (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
| Số hiệu: | 01/2024/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/01/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Nguyễn Thị P và ông Trương Ký D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/12/1989 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-01-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lợi;
Bà Tô Thu Hoài;
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện V, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thu Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Lãng,
tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2023/TLST-HNGĐ
ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05
tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ
ngày 22/01/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn K, xã T,
huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trương Ký D, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn K, xã T,
huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai trong hồ sơ vụ án, bà Nguyễn
Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Trương Ký D kết hôn, có
đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang)
ngày 11/12/1989. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh
phúc. Đến tháng 06 năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không
hợp, không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra
2
tranh cãi nhau. Năm 2015 bà Nguyễn Thị P đã nộp đơn ly hôn đến Tòa án, tuy
nhiên sau đó vì muốn hàn gắn tình cảm nên hai vợ chồng đã thỏa thuận đoàn tụ.
Tuy nhiên, từ đó đến nay tình cảm vợ chồng không được cải thiện, ông Trương
Ký D vẫn thường xuyên uống rượu, đánh chửi bà Nguyễn Thị P gây mâu thuẫn
vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Xác
định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà
Nguyễn Thị P yêu cầu được ly hôn với ông Trương Ký D.
Về con chung: Có 04 con chung gồm Chương Thị H, sinh ngày
09/10/1990; Chương Thị H, sinh ngày 13/6/1996; Chương Thúy K, sinh ngày
12/6/2002; Chương Hồng V, sinh ngày 12/4/2011. Chị Chương Thị H, chị
Chương Thị H và chị Chương Thúy K đã đủ 18 tuổi, không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Bà Nguyễn Thị P yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục cháu Chương Hồng V, sinh ngày 12/4/2011 cho đến khi đủ 18
tuổi, không yêu cầu ông Trương Ký D cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Bà Nguyễn Thị P không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, tống đạt hợp lệ
văn bản tố tụng cho ông Trương Ký D nhưng ông không hợp tác, không đến Tòa
án để giải quyết vụ án.
Qua xác minh với Công an xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn xác nhận ông
Trương Ký D có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn,
vẫn sinh sống tại địa phương, chưa đăng ký tạm vắng hay cắt hộ khẩu tại địa
phương, chưa đăng ký tạm trú tại địa phương khác.
Tòa án đã tiến hành xác minh, làm việc với Ủy ban nhân dân xã T, huyện
V, tỉnh Lạng Sơn cho biết: Thời gian đầu bà Nguyễn Thị P và ông Trương Ký
D sống hòa thuận. Từ năm 2015 xảy ra mâu thuẫn thường xuyên cãi vã, ông
Trương Ký D đuổi bà Nguyễn Thị P ra khỏi nhà, bà Phương thuê nhà trọ tại
thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn ở, từ đó vợ chồng sống ly thân đến nay.
Mức thu nhập của ông Trương Ký D do không cung cấp thông tin nên Ủy ban
nhân dân xã không lấy được thông tin.
Do ông Trương Ký D không đến Tòa án để tham gia tố tụng, bà Nguyễn
Thị P đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nữa nên vụ án thuộc trường hợp
không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá
trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật
tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy
đủ quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ
theo quy định.
3
- Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51,
Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
Nguyễn Thị P về việc ly hôn với ông Trương Ký D. Về con chung: Có 04 con
chung là Chương Thị H, sinh ngày 09/10/1990; Chương Thị H, sinh ngày
13/6/1996; Chương Thúy K, sinh ngày 12/6/2002 (đều đã đủ 18 tuổi); Chương
Hồng V, sinh ngày 12/4/2011. Giao con chung là cháu Chương Hồng V cho bà
Nguyễn Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi đủ
18 tuổi. Ông Trương Ký D không phải cấp dưỡng nuôi con. Không xem xét
giải quyết về tài sản chung, nợ chung vì đương sự không có yêu cầu. Bà
Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; bà Nguyễn Thị P và ông
Trương Ký D được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn với bị đơn ông Trương
Ký D; cư trú tại thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Bà Nguyễn Thị P và ông
Trương Ký D có đăng ký kết hôn. Do đó xác định quan hệ pháp luật là “ly hôn”;
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh
Lạng Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đây là phiên tòa mở lần thứ hai, nguyên đơn bà
Nguyễn Thị P vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trương Ký
D mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả
các đương sự theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3
Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Trương Ký D kết hôn
trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/12/1989 tại Ủy ban nhân dân
xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị P
và ông Trương Ký D hợp pháp.
[4] Trong thời kỳ hôn nhân, theo lời khai của bà Nguyễn Thị P và qua xác
minh tại địa phương cho thấy, bà Nguyễn Thị P và ông Trương Ký D thường
xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau do không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan
điểm. Mặc dù năm 2015 bà Nguyễn Thị P đã yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn, sau
đó vợ chồng quay về đoàn thụ để hàn gắn tình cảm nhưng không có tiến triển.
Vợ chồng ly thân từ năm 2015 đến nay. Từ khi thụ lý vụ án đến nay, giữa bà
Nguyễn Thị P và ông Trương Ký D không có động thái gì để hàn gắn tình cảm
vợ chồng. Xét thấy, tình trạng của vợ chồng bà Nguyễn Thị P và ông Trương Ký
D đã trầm trọng, vợ chồng đã không còn sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn
nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, tình cảm vợ chồng không thể hàn
gắn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được nên yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị P là có căn cứ chấp nhận theo quy
định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

4
[5] Về con chung: Có 04 con chung:
+ Chương Thị H, sinh ngày 09/10/1990;
+ Chương Thị H, sinh ngày 13/6/1996;
+ Chương Thúy K, sinh ngày 12/6/2002;
+ Chương Hồng V, sinh ngày 12/4/2011.
Hiện nay 03 con chung là chị Chương Thị H, chị Chương Thị H, chị
Chương Thúy K đã đủ 18 tuổi, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên
Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Cháu Chương Hồng V đang ở với
bà Nguyễn Thị P. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị P yêu cầu được trực tiếp trông
nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Chương Hồng V đến khi đủ 18 tuổi,
không yêu cầu ông Trương Ký D cấp dưỡng nuôi con. Điều này phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh hiện nay của bà Nguyễn Thị P đang làm nghề lái taxi, có
nghề nghiệp và thu nhập từ 5.000.000 đồng – 6.000.000 đồng/tháng và cũng là
để đảm bảo sinh hoạt ổn định của cháu Chương Hồng V hiện nay đang ở với mẹ.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P được trực tiếp trông nom, nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là có cơ sở chấp nhận, bảo đảm quyền lợi
chính đáng của vợ và con theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia
đình. Ông Trương Ký D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được
cản trở theo quy định tại các Điều 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình và có
quyền yêu cầu thay đổi quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định tại
Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do bà Nguyễn Thị P không yêu cầu ông
Trương Ký D phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải
quyết.
[6] Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Do đương sự không yêu
cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị P là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản
1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều
271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83, 84
của Luật Hôn nhân và gia đình;

5
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều
228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P.
1. Về quan hệ hôn nhân
Xử cho bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Trương Ký D.
(Chứng nhận kết hôn ngày 11/12/1989 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện
Y, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang)).
2. Về con chung
Giao cháu Chương Hồng V, sinh ngày 12/4/2011 cho bà Nguyễn Thị P
trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Ông
Trương Ký D không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Trương Ký D có quyền,
nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí
Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân
sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước. Xác nhận bà Nguyễn Thị P đã nộp đủ
án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0002065
ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn.
4. Quyền kháng cáo
Bà Nguyễn Thị P, ông Trương Ký D có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
theo quy định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn (PKTNV&THA);
- VKSND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn;
- CCTHADS huyện V, tỉnh Lạng Sơn;
- UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang ;
- Đương sự ;
- Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Nguyễn Thị Hằng
6
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tô Thu Hoài
Nguyễn Thị Lợi
Nguyễn Thị Hằng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm