Bản án số 01/2021/HS-ST ngày 12/01/2021 của TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2021/HS-ST ngày 12/01/2021 của TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hàm Tân (TAND tỉnh Bình Thuận) |
| Số hiệu: | 01/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/01/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN HÀM TÂN Độc lập –Tự do –Hạnh phúc
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 01/2021/HS-ST
Ngày: 12/01/2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọ và bà Vũ Thị Nữ
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Hàm Tân.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông
Lê Phi Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2020/TLST-HS ngày 30/11/2020
theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2020/QĐXXST-HS ngày 30/12/2020 đối với
bị cáo:
Trần Nguyễn Minh N, sinh năm 1998 tại Bình Thuận, Nơi cư trú: Thôn P, xã
H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân
tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông:
Trần Văn A và bà Nguyễn Thị T; tiền án: Không; Tiền sự: Tại Quyết định số 15/QĐ-
TA ngày 18/8/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam áp dụng biện pháp xử
lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 23/7/2018.; Bị
cáo đang tại ngoại, có mặt tại tòa;
- Người bị hại: Trần Thị B, sinh năm 1982, HKTT: Thôn H, xã T, huyện HT,
tỉnh Bình Thuận (Chết)
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Bảo Q, sinh năm 1985 là chồng của bị hại.
(có mặt)
Trú tại: Thôn H, xã T, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Trần Thị Kim P, sinh ngày 07/4/2010
Trú tại: Thôn H, xã T, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Bảo Q, sinh năm 1985 là cha ruột. (có mặt)
Trú tại: Thôn H, xã T, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.
2
2. Trần Thị Ánh T1, sinh năm 1988 (có mặt)
Trú tại: Thôn H, xã T, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.
3. Nguyễn Ngọc Kim Ngân, sinh ngày 24/11/2013
Trú tại: Thôn H, xã T, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 và bà Trần Thị
Ánh T1 sinh năm 1988 là cha, mẹ ruột. (có mặt)
Trú tại: Thôn H, xã T, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.
4. Phan Thị Diệu A, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn H, xã T, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.
5. Lê Tuấn A1, sinh ngày 14/02/2010
Trú tại: Thôn H, xã T, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện hợp pháp: Bà Phan Thị Diệu A sinh năm 1969 là bà ngoại ruột.
(vắng mặt)
Trú tại: Thôn H, xã T, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.
6. Trần Văn Ph, sinh năm 1988 (có mặt)
Trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Mặc dù chưa có giấy phép lái xe ô tô theo quy định nhưng sáng ngày 25/5/2020,
Trần Nguyễn Minh N điều khiển xe ô tô hiệu TOYOTA FORTUNER biển kiểm soát
86A-065.06 chở anh ruột là Trần Văn Ph (ngồi bên ghế phụ) lưu thông trên Quốc lộ 55
hướng thị xã La Gi đi Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu). Khoảng 06 giờ 20 phút cùng ngày
đến đoạn Km 54+380-QL55 thuộc thôn Trú tại: Thôn H, xã T, huyện HT, tỉnh Bình
Thuận, đây là đoạn đường cong cua về bên phải theo hướng La Gi đi Xuyên Mộc, có cắm
biển báo nguy hiểm “đường cong”. Lúc này trời đang mưa to, N điều khiển xe với tốc độ
khoảng 60 Km/h (theo lời khai của N) lưu thông trên phần đường bên phải hướng La Gi đi
Xuyên Mộc. Do không không làm chủ được tay lái, đã để xe ô tô 86A-065.06 do mình
điều khiển lao sang phần đường bên trái tông va liên tiếp vào 03 xe mô tô đang lưu thông
theo chiều ngược lại gây tai nạn giao thông gồm: xe mô tô biển kiểm soát 86B5-161.48
do chị Trần Thị B, sinh năm 1982 điều khiển chở con ruột là Trần Thị Kim P, sinh năm
2010; xe mô tô biển kiểm soát 86B5-308.10 do chị Trần Thị Ánh T1, sinh năm 1988
điều khiển chở con ruột là Nguyễn Ngọc Kim Ngân, sinh năm 2013 và xe mô tô không
có biển kiểm soát do bà Phan Thị Diệu A, sinh năm 1969 điều khiển chở cháu ngoại là
Lê Tuấn A1, sinh năm 2010. Hậu quả chị Trần Thị B tử vong tại hiện trường, năm
người còn lại đi trên ba xe mô tô bị thương tích nhưng từ chối giám định thương tích.
3
Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 134/2020/TT ngày 05/6/2020 của
Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận, kết luận nguyên nhân chết của Trần Thị B: Choáng
không phục hồi sau đa chấn thương dẫn đến tử vong.
Vật chứng vụ án đã thu giữ gồm 01 xe ô tô 86A-065.06 đã trả lại cho chủ sở
hữu là bà Lê Trần Diễm Lệ; xe mô tô 86B5- 308.10 đã trả lại cho chủ sở hữu là ông
Nguyễn Văn T; xe mô tô 86B5- 161.48 đã trả lại cho đại điện chủ sở hữu là ông Trần
Phi Cường; xe mô tô không biển kiểm soát đã trả lại cho bà Phan Thị Diệu A.
Về phần dân sự: Sau tai nạn, Trần Nguyễn Minh N và gia đình đã bồi thường
thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại Trần Thị B số tiền 155.000.000 đồng và
cam kết hỗ trợ tiền cấp dưỡng cho cháu Trần Thị Kim P số tiền là 144.000.000 đồng; đã
bồi thường cho bà Phan Thị Diệu A số tiền 8.000.000 đồng. Hiện đại diện gia đình bị
hại và bà Ánh đã làm đơn bãi nại. Bà Ánh không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự.
Ông Trần Bảo Q là đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường
144.000.000đồng tiền cấp dưỡng; chị Trần Thị Ánh T1 yêu cầu bồi thường 80.000.000
đồng bao gồm chi phí chữa trị vết thương và chi phí sửa chữa xe mô tô, đến nay Trần
Nguyễn Minh N đã bồi thường 50.000.000 đồng và cam kết sẽ khắc phục 30.000.000
đồng còn lại. Hiện Trần Nguyễn Minh N vẫn chưa bồi thường.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo
trạng của VKS đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKS viện dẫn trong cáo
trạng.
Đại diện hợp pháp của người bị hại nhất trí với cáo trạng và đề nghị HĐXX
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 25/11/2020 của VKSND huyện Hàm
Tân đã truy tố bị cáo Trần Nguyễn Minh N về tội “Vi phạm Quy định về tham gia giao
thông đường bộ” theo điểm a, khoản 2 Điều 260 BLHS;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sat giữ quyền công tố luận tội và tranh luận
đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, qua đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định
truy tố.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và những người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đại diện gia đình bị
hại đã xin giảm nhẹ cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại
điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, qua đó VKS đề nghị HĐXX:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật hình sự để xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Minh N từ 03 năm đến 04 năm tù.
4
Về vật chứng: 01 xe ô tô 86A-065.06; xe mô tô 86B5- 308.10; xe mô tô 86B5-
161.48 và xe mô tô không biển kiểm soát Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đã
trả lại cho các chủ sở hữu.
Về phần dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ
luật dân sự, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị Trần Thị Ánh T1 số tiền
30.000.000đồng và gia đình anh Trần Bảo Q số tiền 144.000.000đồng. .
Tại phiên tòa, bị cáo trình bày lời nói sau cùng, qua đó, bị cáo đã nhận tội như
cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét
xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan công an huyện Hàm Tân, Điều tra viên,
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố
đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình
sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của
Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trần Nguyễn Minh N là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Mặc dù chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng khoảng 06 giờ 20 phút
ngày 25/5/2020, Trần Nguyễn Minh N vẫn điều khiển xe ô tô 86A-065.06 lưu thông
trên đường, khi đến đoạn Km 54+380-QL55 thuộc thôn Trú tại: Thôn H, xã T, huyện
HT, tỉnh Bình Thuận, đây là đoạn đường cong cua về bên phải nhưng N không giảm tốc
độ đến mức không còn nguy hiểm và không làm chủ được tay lái nên đã để xe ô tô do
mình điều khiển lấn sang phần đường bên trái tông va liên tiếp vào 03 xe mô tô đang di
chuyển theo chiều ngược lại gây tai nạn giao thông. Hậu quả chị Trần Thị B tử vong và
05 người khác bị thương.
Nguyên nhân gây tai nạn là do lỗi chủ quan của bị cáo đã không tuân thủ đúng
và đầy đủ các quy định của nhà nước về an toàn khi tham gia giao thông. Vi phạm vào
khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường; Điều 5 Thông tư số 91/2015/BGTVT ngày
31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải
Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định:
“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi
đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường
bộ.”

5
Điều 5 Thông tư số 91 quy định:
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ
thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường
hợp sau:
3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức
với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường mà mặt
đường không êm thuận.
11. Trời mưa; có sương mù, khói, bụi; mặt đường trơn trượt, lầy lội, có nhiều
đất đá, cát bụi rơi vãi.
Do những người bị thương đã từ chối giám định thương tích nên không có cơ
sở để xử lý bị cáo đối với việc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Với hậu quả
xảy ra làm chết một người thì bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 1
điều 260 BLHS. Tuy nhiên do bị có không có giấy phép lái xe theo quy định nên bị cáo
phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 260 BLHS.
[3] Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện H căn cứ vào hành vi vi phạm quy tắc
an toàn giao thông đường bộ của bị cáo và bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy
định; với hậu quả đã xảy ra làm chết một người để truy tố bị cáo Trần Nguyễn Minh N
về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 điều
260 BLHS là đúng người, đúng tội nên HĐXX chấp nhận.
[4] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xâm hại đến tính
mạng của người khác. Hành vi đó không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng
xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy HĐXX cần xử lý nghiêm để
góp phần răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị
cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã cùng với gia đình đã
bồi thường hại cho gia đình người bị hại và một phần thiệt hại cho những người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn bãi nại và xin
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Ngày
18/8/2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân Hàm Thuận Nam áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến ngày 23/7/2018 mới chấp hành xong và
đến ngày 25/5/2020, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên được coi đây là tiền sự. Vì
vậy, HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đối với Trần Văn Ph, mặc dù đã giao xe cho bị cáo điều khiển khi bị cáo chưa
có giấy phép lái xe, tuy nhên do bị cáo nói là đã thi sát hạch bằng lái xe hạng B2 tại
Thành phố Hồ Chí Minh và thấy bị cáo đã có giấy phép lái xe nên Phi mới giao cho N
điều khiển, vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân không xử lý đối với Trần
Minh Ph là có căn cứ.

6
Đối với giấy phép lái xe mà N sử dụng, do quá trình điều tra không thu giữ
được nên không có cơ sở để xem xét xử lý.
[6] Về vật chứng: 01 xe ô tô 86A-065.06; xe mô tô 86B5- 308.10; xe mô tô
86B5- 161.48 và xe mô tô không biển kiểm soát. Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm
Tân đã trả cho chủ sở hữu nên HĐXX không xem xét.
[7] Về dân sự: Bà Phan Thị Diệu A không yêu cầu bồi thường gì thêm nên
không xem xét. Bà Trần Thị Ánh T1 yêu cầu bị cáo bồi thường 30.000.000đồng tiền chi
phí đã điều trị cho chị Tuyết, riêng cháu Ngân chỉ bị thương tích nhẹ nên không yêu cầu
bồi thường; đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường
144.000.000đồng tiền cấp dưỡng cho cháu Trần Thị Kim P. Tại phiên tòa, bị cáo đã
đồng ý bồi thường số tiền trên cho bà Tuyết và anh Quốc. Việc bị cáo đồng ý bồi
thường là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đực
xã hội nên cần được ghi nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a, khoản 2 điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51
BLHS.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Nguyễn Minh N phạm tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ”.
Xử Phạt: Bị cáo Trần Nguyễn Minh N 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù được tính
từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Về dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều 468, Điều 584,
585, 586, Điều 590 và Điều 601 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Trần Nguyễn Minh N phải bồi thường tiền cấp dưỡng cho cháu
Trần Thị Kim P, sinh ngày 07/4/2010 do anh Trần Bảo Q làm đại diện số tiền là
144.000.000đồng (Một trăm bốn mươi bốn triệu đồng).
Buộc bị cáo Trần Nguyễn Minh N phải bồi thường cho bà Trần Thị Ánh T1 số
tiền là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
7
Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST và 8.700.000đồng án phí DSST.
Án xử công khai, báo cho bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai
theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
-VKSND tỉnh;
- VKSND, CA huyện Hàm Tân;
- Cơ quan THAHS tỉnh Bình Thuận
- Nhà tạm giữ CA huyện Hàm Tân
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ;
- Chi cục THADS Hàm Tân;
- UBND địa phương bị cáo cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Đã ký
Nguyễn Anh Dũng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm