Bản án số 01/2021/DS-PT ngày 12/01/2021 của TAND tỉnh Kiên Giang về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 01/2021/DS-PT ngày 12/01/2021 của TAND tỉnh Kiên Giang về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Kiên Giang
Số hiệu: 01/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/01/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị L và Phạm T tranh chấp hợp đồng tăng cho quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KIÊN GIANG Độc lập – Tự do Hạnh phúc
Bản án số: 01/2020/DS-PT
Ngày: 12/01/2021
V/v Tranh chấp hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Lâm Sơn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tấn
Ông Nguyễn Như Tám
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên
Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Cao Phương Bình - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05 ngày 12 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân
dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai ván thụ số: 200/2020/TLPT-
DS ngày 18 tháng 11 năm 2020 về việc Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 28/2020/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2020 của
Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 199/2020/-PT ngày 22
tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1949 (Vắng mặt);
Ông Lê Chí V, sinh năm 1950 (Có mặt);
Cùng đa ch: T 6, p B, xã C, huyn P, Kiên Giang.
Bị đơn: Ông Phạm T, sinh năm 1960 (Có mặt);
Bà Văn Thị T, sinh năm 1958 (Có đơn xin vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Chị Phạm Thị Loan H, sinh năm
1988.
Theo văn bản ủy quyền ngày 08/12/2020.
Cùng địa chỉ: Tổ 1, ấp Xóm M, xã Bãi Th, huyện P, Kiên Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T, T: Luật sư Lại Hùng A
- Văn phòng Luật sư Hùng A, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
Bà Lê Thị Th, sinh năm 1949 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã C, huyện P, Kiên Giang.
Vườn Q P (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số 1 Nguyễn Chí Th, khu phố 5, thị trấn D, huyện P, Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20-4-2017 c lời khai trong hồ vụ án, nguyên
đơn ông Chí V Bùi Thị L trình bày: Năm 1993, gia đình ông gia
đình ông Phạm T trao tặng qua lại đất cho nhau. Gia đình ông bà được nhận đất
của ông T với diện tích 3000m
2
, tọa lạc tại ấp Xóm M, Bãi Th, huyện P, Kiên
Giang, đất vị trí giáp ranh như sau: Phía đông giáp lộ - Bãi Th; Phía tây
giáp đất ông Đỗ Th; Phía bắc dài 201m giáp rừng q; Phía nam giáp đất còn lại của
ông T L 201m.
Ông bà cũng cho tặng ông T lại đất của ông bà tổ 13, khu phố 5, thị trấn D,
huyện P, Kiên Giang.
Hai bên làm giấy tay cho tặng đất cho nhau, xác nhận của ban nhân
dân ấp Xóm M khu phố 5, thị trấn D. Đến tháng 10/2002, ông xin hợp thức
hóa QSD đất nên biên bản xác minh nguồn gốc sử dụng đất đề ngày
25/10/2002. Nhưng do thửa đất của ông nằm giáp ranh với Vườn Q chưa điều
chỉnh ranh giới nên hồ hợp thức a QSD đất của ông phải dừng lại, chờ điu
chnh ranh rng.
Do sự trao đổi đất qua lại cho nhau nên gia đình ông đã bcông sức
trồng dừa, tràm bông vàng... Đến năm 2006, đoàn đo đạc đo đại tnên đất ông
đất ông T được đo trong ngày. Tại sơ đồ 15 diện tích đất của ông 3.021m
2
thửa số 35, diện tích đất của ông T 5.856,6m
2
thửa số 37, đều thuộc tờ bản đồ số
26, tọa lạc tại ấp Xóm M, xã Bãi Th, huyện P. Vì thửa đất ông T cho ông bà nằm ở
phía ngoài giáp với Vườn Q hậu đất của ông nên ông bà mới mở rộng đất về
phía rừng. Cũng tại thời điểm này, ông T chỉ cho ông bà đến cái giếng tưới tiêu của
ông T đào vào năm 1998 nằm trong Vườn Q chứ không nằm trong đất của ông T.
Ông T nói cho ông cái giếng này kêu ông phát quang rộng ra xung quanh
giếng để trồng cây ăn trái dừa, đi lại lấy nước dễ dàng nên ông mới đất
phát sinh thêm. Đến năm 2009, nhà nước lấy đất của ông đất ông T đlàm
đường nên hai gia đình được bồi thường đất và cây trồng. Gia đình ông T được bồi
thường 149.000.000 đồng, gia đình ông bà được bồi thường đợt 1 34.169.000
đồng, đợt 2 21.000.000 đồng.
Do s bồi thường tiền đất cây trồng để làm đường - Bãi Th nên
ông T không cho ông ly s tiền này với do cho tôi 3000m
2
đất ch không
cho tiền nên hai bên đi đến tha thuận. hoàn cnh ông T b tàn phế nên ông
3
đồng ý cho ông T s tin bi thường và yêu cầu ông T viết cam kết, làm thêm biên
bn hợp đồng b sung trao tặng đất bằng hình thức mua bán đất giếng đề ngày
04/12/2009 (thuc phần đất phát sinh thêm trong đất này cái giếng ca ông T,
ông bà đã mua), phần đất này chính ông bà khai phá mở rng ti giếng, nay ông lại
bt ông bà phi tr tin ông bà cũng đồng ý. Ông bà đã trả đủ tiền đất và giếng cho
v chng ông T và đã ký nhận vào ngày 04/12/2009 và ngày 18/12/2009.
Cũng tháng 12/2009 đoàn b đội công binh về làm đoạn đường t ngã ba
ấp Xóm M lên Bãi Th, đến hỏi mượn ông đất để dựng láng trại cho công
nhân , xin ông cho sa m rng giếng đ lấy nước tưới đường, ông đồng ý
ch không phải gia đình ông T sa giếng ca ông bà. Thời gian này ông T cho ông
đưc s dng đất ổn định t năm 2002 đến 2011 không có tranh chp vi nhau.
Tháng 01/2012 do cơn sốt giá đất nên v chng ông T đã lt lng cho rng
v chồng ông xin thêm ông T 1000m
2
đất, hứa cho ông T 30.000.000
đồng nhưng đến nay ông không cho tin ông T, nên ông T m đơn thưa khiếu
ni ông bà lên UBND xã Bãi Th đòi hủy b hợp đồng giao kèo đề ngày 18/04/1993
cam kết của ông viết ra đề ngày 04/12/2009 đòi ông bà 30.000.000 đng, hp
đồng b sung trao tng bằng hình thức mua bán đất giếng đ ngày 04/12/2009
để đòi lấy lại toàn bộ thửa đất có tổng diện tích 5.664m
2
.
Năm 2009, ban nhân dân ấp Xóm M xét duyệt đại trà thửa đất s 35, t bn
đồ 26 diện tích 3.029,1m
2
, loại đất cây lâu năm đã ghi ngun gc thửa đất
thi gian ông T trao tng cho ông vào năm 2002 đất đã thành quả lao động,
hin trạng tràm bông vàng, đào, dừa. Gia đình ông đã quản , s dụng liên tục
cho đến năm 2011 không có s tranh chp vi ông T nên ý kiến thng nht ca ban
nhân dân ấp Xóm M 100% đồng ý cho cp giy CNQSD đất khi ranh rừng được
điu chnh.
T nhng chng c trên, ông yêu cầu Tòa án công nhn cho ông
nhng giy t giao dch hợp đồng trao tặng, đổi đất gia ông vi ông T đúng
quy trình pháp luật. Công nhận cho ông đưc s dng thửa đất vi diện tích
5.664m
2
, ta lc ti ấp Xóm M, Bãi Th, huyn P. Được xin đăng hp thc
hóa QSD đất vi diện tích đất này khi ranh rừng được điều chnh.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Phạm T và bà Văn Thị T
trình bày: Nguồn gốc đất của tôi do nhận chuyển nhượng của ông Trần Ph năm
1995. Khi chuyển nhượng trên đất căn n03 gian, cây trồng như tiêu, đào
hoa màu ngắn ngày khác. Sau khi nhận chuyển nhượng tôi tiếp tục đào 01 giếng
nước, trồng thêm tràm bông vàng, chuối và canh tác sử dụng liên tục đến nay.
Do quen biết tin tưởng nên tôi ông V thỏa thuận ông V đi làm cho
tôi giấy chứng nhận QSDĐ đất diện tích khoảng 8.500m
2
tọa lạc tại ấp Xóm M,
4
Bãi Th, huyện P, khi giấy CNQSD đất thì tôi sẽ tặng cho ông V ngang 10m, dài
100m (1000m
2
), nhưng ông V lợi dụng lòng tin của tôi đã làm giấy ủy quyền tặng
cho đất vườn ông lập thành văn bản ngày 18/4/1993 với nội dung ủy quyền
tặng cho ông 3598m
2
, đây văn bản giả mạo, tôi thỏa thuận với ông V tnăm
2006 không phải tngày 18/4/1993 năm 1995 tôi mới nhận chuyển nhượng của
ông Trần Ph. Ngược lại, ông V và vợ bà Th cũng thỏa thuận tặng cho lại tôi một
thửa đất ngang 6m, dài 18m (108m
2
) tại khu phố 5, thị trấn D lập văn bản ngày
15/5/1995 nhưng vợ chồng ông V không thực hiện.
Ngày 18/4/2002 tôi ông V lập hợp đồng trao tặng đất vườn, đến ngày
04/12/2009 làm thêm biên bản thỏa thuận hợp đồng bổ sung trao tặng QSD đất
nhưng thỏa thuận khi nào ông V làm xong giấy CNQSD đất cho tôi ttôi đồng
ý cho ông V một phần đất ngang 12m, dài 100m. Nhưng đến nay ông V không làm
được giấy CNQSD đất cho tôi, từ trước đến nay chỉ gia đình tôi canh tác trên
đất.
Từ những do trên tôi làm đơn phản tố không chấp nhận yêu cầu của ông
V và bà L, yêu cầu Tòa án hủy toàn bộ các giấy tờ sau: Giấy ủy quyền tặng cho đất
vườn lập ngày 18/4/1993; hợp đồng trao tặng đất vườn lập ngày 18/4/2002 biên
bản thỏa thuận hợp đồng bổ sung trao tặng quyền sử dụng đất lập ngày 04/12/2009
giữa vợ chồng tôi với vợ chồng ông V. Yêu cầu bác đơn khởi kiện của ông V, bà L
giữ nguyên hiện trạng công nhận quyền sử dụng đất cho tôi diện tích ngang
40m, dài 201m (diện tích khoảng hơn 8500m
2
), tọa lạc tại ấp Xóm M, Bãi Th,
huyện P, Kiên Giang.
Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Lê Thị Th
trình bày: Tôi vợ ông V, chúng tôi chung sống với nhau từ năm 1971 có đăng ký
kết hôn tại xã D, VT, VP. Vào năm nào tôi không nhớ thì ông Phạm T chỉ
cho ông V phát dọn phần đất khoảng 4.000m
2
giáp với phần đất ông T đang sử
dụng. Khi đó phần đất này đất rừng, sau đó ông V phát dọn, trồng dừa, mít và sử
dụng cho đến nay. Quá trình sử dụng ông V phát dọn dần về phía rừng nên diện
tích tăng lên khoảng 4.300m
2
.
Vào năm nào tôi không nhớ thì tôi ông V tặng cho lại ông T và T
diện tích đất 108m
2
tại khu phố 5, thị trấn D, P, làm giấy tờ tặng cho. Tại thời
điểm tặng cho đất đã có giấy CNQSD đất số CE 310522, thửa đất số 375, tờ bản đồ
số 120, diện tích 110,4m
2
. Ông T, T sử dụng phần đất này cất căn nhà
tạm. Mặc dù giấy tờ tặng cho phần đất theo giấy CNQSD đất đã được cấp nhưng
thực tế tôi và ông V lại giao phần đất kế bên cho ông T sử dụng. Phần đất theo giấy
CNQSD đất số CE 310522 thì chúng tôi chưa chuyển nhượng cho ai. Đối với phần
5
đất mà ông T đã cất nhà trước đây thì vợ chồng tôi đã chuyển nhượng cho bà
Huỳnh Thị Mỹ T năm 2017 và bà T1 đã được sang tên.
Phần đất tại Xóm M đang tranh chấp phần đất ông T chỉ cho ông V vào
phát dọn, sử dụng, còn phần đất tại khu phố 5, thị trấn D phần đất vợ chồng tôi
tự nguyện tặng cho ông T mà không phải trao đổi đất. Nay tôi không có tranh chấp
trong vụ án này. Đối với phần đất 108m
2
tôi tên cùng với ông V trao
tặng cho ông T, T trước đây ttôi vẫn không thay đổi ý kiến, tôi vẫn tặng cho,
khi nào ông T bà T cần thì tôi sẽ làm thủ tục sang tên cho ông T, bà T.
Các đương sự thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày
15/01/2018 thể hiện theo đồ trích đo hiện trạng thửa đất đang tranh chấp của
Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện P số 508/2018, ngày 11/9/2018 và kết
quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/4/2019 của Tòa án, thể hiện theo trích đo
địa chính thửa đất đang tranh chấp của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện
P số 116/2019, ngày 24/12/2019. Không yêu cầu đo đạc lại.
Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vườn Q P
ý kiến như sau:
Thời điểm năm 1993 thì Vườn Q P chưa được thành lập. Hiện nay theo ranh
giới, tọa độ mốc Vườn Q P cắm ngoài thực địa năm 2004 thì toàn bộ diện tích đất
4.191,8m
2
thuộc tiểu khu 66, phân khu phục hồi sinh thái Vườn Q P.
Căn cứ Quyết định số 633/QĐ-TTG ngày 11/5/2010 của Thủ tướng Chính
phủ về việc điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đảo P, tỉnh Kiên Giang đến năm
2030 thì diện tích 3.185,8m
2
được quy hoạch L đất rừng đặc dụng tại tiểu khu 58
thuộc phân khu phục hồi sinh thái Vườn Q P. Diện tích 1.006m
2
còn lại được định
hướng quy hoạch nằm ngoài ranh giới Vườn Q P.
Qua kiểm tra hồ vi phạm tại Hạt Kiểm m Vườn Q ttoàn bộ diện tích
4.191,8m
2
nêu trên không có trong hồ sơ xử lý vi phạm.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2020/DS-ST ngày 19/9/2020 của Tòa án
nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang quyết định:
[1]. Kng chp nhn yêu cu khi kin ca ông Chí V và Bùi ThL.
[2]. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T, bà T.
[3] Hủy Giấy ủy quyền tặng cho đất vườn lập ngày 18/4/1993; hợp đồng trao
tặng đất vườn lập ngày 18/4/2002 biên bản thỏa thuận hợp đồng bổ sung trao
tặng quyền sử dụng đất lập ngày 04/12/2009 xác lập giữa ông V, L với ông T,
T.
[4] Đình chỉ yêu cầu công nhận cho ông T, T sử dụng thửa đất diện tích
khoảng 8.500m
2
, tọa lạc tại ấp Xóm M, xã Bãi Th, P, Kiên Giang.
6
[5] Không chấp nhận yêu cầu phản tố sửa đổi, bổ sung của ông T, T về
việc yêu cầu tạm giao diện tích đất 4.191,8m
2
tọa lạc tại ấp Xóm M, Bãi Th,
huyện P hủy Biên bản tặng cho đất ngày 15/5/1995 và Biên bản hợp đồng trao
tặng QSDĐ ngày 02/3/2009 xác lập giữa ông V, bà L với ông T, bà T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí bản vẽ, án phí và báo quyền
kháng cáo theo hạn luật định.
* Ngày 02 tháng 10 năm 2020, đồng bị đơn ông Chí V, Bùi Thị L
kháng cáo bản án dân sự thẩm số 28/2020/DS-ST ngày 19/9/2020 của Tòa án
nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang.
Những vấn đề cụ thể mà bị đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
Đo đạc lại toàn bộ thửa đất của ông V, Tạo đang tranh chấp với ông
Phạm T;
Công nhận thửa đất của ông V, L đất ông T được đo đạc đại trà ngày
23/8//2006 đã được phân định ranh giới ràng, cố định theo tọa độ, bằng đồ
tả vtrí, kích thước giáp ranh, gọi L đồ 15, hai bên đã giáp ranh cho
nhau;
Công nhận tờ cam kết viết tay của ông Phạm T đề ngày 04/12/2002, vợ
chồng ông T đã ký giáp ranh, xác nhận nguồn gốc đất cho ông V, bà L;
Ông T cho ông V, bà L đất và lấy tiền đất diện tích đồ 15 L 3.021m
2
, còn
ông V, L khai thác riêng vào đất rừng được 2.643.5m
2
. Hiện nay hai phần đất
này được xác định nằm trong ranh giới Vườn Q P. Cho ông V, L được quản lý,
tạm sử dụng hai phần đất này với tổng diện tích 5.665,4m
2
tọa lạc tại ấp Xóm M,
xã Bãi Th, huyện P, tỉnh Kiên Giang, sau này nnước có chính sách cho Lm giấy
hoặc thu hồi gia đình ông bà chấp hành
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn xin tút yêu cầu khởi kiện, rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng ý yêu cầu rút đơn khởi kiện đơn
kháng cáo của nguyên đơn ông V.
Luật Lại Hùng A bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông T, T ý
kiến thống nhất theo ý kiến của các đương sự, nhưng đề nghị giữ nguyên nội dung
giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố của bị đơn.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang vviệc tuân
theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời
điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của B
luật tố tụng dân sự.
7
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc tút yêu cầu
khởi kiện, rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các
chứng cứ; ý kiến của phía nguyên đơn, bị đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp của bị đơn; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về trình t thủ tục tố tụng: Phía nguyên đơn bà Bùi Thị L đơn xin
vắng mặt, nhưng ông Lê Chí V kháng cáo có mặt, bị đơn bà Văn Thị T và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đơn kháng cáo đơn xin xét xử vắng
mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn
tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
[2] Xét tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, trong giai đoạn xét hỏi đương sự,
phía nguyên đơn ông V có ý kiến xin rút yêu cầu khởi kiện và rút toàn bộ nội dung
kháng cáo. Về phía bị đơn ý kiến đồng ý Luật Hùng A ý kiến thống
nhất theo ý kiến của các đương sự, nhưng đề nghị giữ nguyên nội dung giải quyết
của Tòa án cấp sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố của bị đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của các
đương sự.
[3] Hội đồng xét xử xét việc nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện rút đơn
kháng cáo tự nguyên được phía bị đơn đồng ý. Việc giải quyết yêu cầu phản
tố của bị đơn chỉ liên quan đến việc hủy các giấy tờ giao dịch thỏa thuận giữa các
bên, không giải quyết quyền sử dụng đất cho bên nào sử dụng. Do đó, Hội đồng
xét xử trong thảo luận nghị án thống nhất chấp nhận ý kiến của các bên đương
sự hủy đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các nội
dung còn lại của bản án sơ thẩm thì giữ nguyên.
[4] Phía ông V, bà L phải chịu mỗi người một nửa tiền án phí phúc thẩm
150.000 đồng, nhưng do ông V, bà L thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn
nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại
điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
8
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa
án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện rút đơn
kháng cáo.
2. Hủy và đình chỉ xét xử thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Chí V.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông T, bà T.
4. Hủy Giấy ủy quyền tặng cho đất vườn lập ngày 18/4/1993; hợp đồng
trao tặng đất vườn lập ngày 18/4/2002 biên bản thỏa thuận hợp đồng bổ sung
trao tặng quyền sử dụng đất lập ngày 04/12/2009 xác lập giữa ông V, bà L với ông
T, bà T.
5. Đình chỉ yêu cầu công nhận cho ông T, bà T sử dụng thửa đất diện tích
8459,2 m
2
, tọa lạc tại p Xóm M, Bãi Th, P, Kiên Giang (Theo trích đo địa
chính ngày 24/12/2019 của Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện P, tỉnh
Kiên Giang).
6. Không chấp nhận yêu cầu phản tố sửa đổi, bsung của ông T, T về
việc yêu cầu tạm giao diện tích đất 4.191,8m
2
tọa lạc tại ấp Xóm M, Bãi Th,
huyện P hủy Biên bản tặng cho đất ngày 15/5/1995 và Biên bản hợp đồng trao
tặng QSDĐ ngày 02/3/2009 xác lập giữa ông V, bà L với ông T, bà T.
7. Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự thẩm: Phía ông V, L thuộc diện người cao tuổi
đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng, án phí nên được miễn nộp tiền án phí.
Ông T, T thuộc diện người cao tuổi đơn xin miễn nộp tiền án phí.
Do ông T, T đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm, nên hoàn trả tiền tạm
ứng án phí dân sự thẩm 1.200.000 đồng cho ông T, T theo biên lai thu số
0003169 ngày 28/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Kiên
Giang.
- Án phí phúc thẩm: Phía ông V, L thuộc diện người cao tuổi và đơn
xin miễn nộp tiền tạm ứng, án phí nên được miễn nộp tiền án phí.
8. Về chi phí tố tụng: Stiền 5.204.000 đồng, phía ông V, L phải chịu
nộp và đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
9
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k t ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Kiên Giang;
- TAND huyện P;
- CCTHADS H. P;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Lâm Sơn
10
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11
Ngô Thị Minh Trang Trn Th Trâm Anh Lê Lâm Sơn
12
Tải về
Bản án số 01/2021/DS-PT Bản án số 01/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất