Bản án số 01/2021/DS-PT ngày 12/01/2021 của TAND tỉnh Nam Định về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 01/2021/DS-PT ngày 12/01/2021 của TAND tỉnh Nam Định về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Nam Định
Số hiệu: 01/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/01/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án số: 01/2021/DS-PT
Ngày 12-01- 2021
V/v tranh chấp hợp đồng bảo hiểm.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu
Các Thm phán: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Ông Lại Văn Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Phượng - Thư k Tòa án nhân dân
tnh Nam Đnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 11 ngày 12 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tnh
Nam Định xét xử phc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số 64/2020/TLPT-DS
ngày 06 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm.
Do bn án dân sự thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2020
của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tnh Nam Định bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phc thẩm số 159/2020/QĐ-PT ngày
02 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; sinh năm 1981; địa ch: Xóm 7, thôn B,
xã N, huyện N, tnh N.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H: Luật Nguyễn Minh
L; thuộc Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn D, đoàn luật sư thành phố H; địa
ch: Tầng 6, tầng 14, tòa V, Lô E9, đường P, quận C, thành phố H;
- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ A; địa ch: Tòa
nhà S, 67 L, phường B, thành phố H
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Wayne David B; chức vụ: Tổng
2
giám đốc, Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ A.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Trần K, chức vụ quản l cấp cao,
Phòng pháp lý Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ A. Theo văn bản
ủy quyền ngày 06-01-2021.
- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Ngô Thị M; sinh năm 1940
2. Cháu Vũ Thị G; sinh năm 2003
3. Cháu Vũ Đức A; sinh năm 2010
Cùng địa ch: Xóm 7, xã N, huyện N, tnh N.
- Người đại diện theo pháp luật của cháu Gvà cháu Đức A: Chị Nguyễn
Thị H (là mcháu G và cháu Đức A); sinh năm 1981; địa ch: Xóm 7, thôn B, xã
N, huyện N, tnh N.
- Nời đại diện theo ủy quyền của chị H M: Chị Bùi Thị M; sinh
năm 1991; địa ch: Số 24, ngõ 29, phố T, phường L, quận L, thành phố H. Theo
văn bản ủy quyền ngày 16-6-2020 và ngày 18-8-2020.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H; địa ch: H21/05/K856 T, huyện
H, Thành phố Đ.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Ngô Thị M.
Tại phiên a phc thẩm: Chị H, luật L, cháu G, cháu Đức A, chị M,
chị H, anh K có mặt. Vắng mặt bà M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17-6-2020 quá trình tố tụng tại Tòa án, chị
Bùi Thị M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H
đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Ngô Thị M. Chị M trình bày:
Chị Nguyễn Thị H chị Nguyễn Thị H chị em họ, chị H làm đại l
bảo hiểm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ A (sau đây viết
tắt là Công ty A). Năm 2016 anh Vũ Văn Cchị H đi du lịch tại Đ được chị H
vấn tham gia bảo hiểm nhân thọ, anh C đã tự nguyện đăng tham gia gói
bảo hiểm của Công ty A mức phí đóng 10.500.000 đồng/năm.
Ngày 15-11-2016 Công ty A phát hành thư chấp nhận bảo hiểm đối với
anh C mã số hợp đồng U907568577. Anh C đã đóng phí bảo hiểm đến ngày 15-
3
5-2018. Sau đó, anh C không đóng phí bảo hiểm kể cả trong thời gian gia hạn 60
ngày, nên Công ty A đã thông báo chấm dứt hợp đồng bảo hiểm số U907568577
đối với anh C. Sau đó, anh C nhận được phiếu khôi phục hiệu lực hợp đồng/sản
phẩm bổ sung (viết tắt là phiếu yêu cầu) do chị H gửi về, anh C đã viết nội dung
phía trên và k ghi rõ họ tên vào phiếu yêu cầu, nhưng anh C không tích vào các
câu hỏi về thông tin sức khỏe và gi vào cho chị H hoàn thiện hồ chuyển cho
Công ty A. Ngày 26-7-2018 Công ty A gửi thư phc đáp khôi phục hiệu lực của
hợp đồng cho anh C từ ngày 26-7-2018, anh C đã đóng phí bảo hiểm đến ngày
15-11-2019. Ngày 16-8-2019 anh C chết đột tử.
Ngày 04-9-2019 chị H vợ anh C gửi đơn yêu cầu Công ty A thanh toán
quyền lợi bảo hiểm cho anh C.Ngày 12-01-2020 chị H nhận được thư phc đáp
từ chối giải quyết quyền lợi bảo hiểm với l do anh C đã cung cấp thông tin
không trung thực khi khai Phiếu yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng/sản
phẩm bổ sung” và Công ty ch chi trả lại toàn bộ phí bảo hiểm đã đóng theo hợp
đồng kể từ ngày khôi phục là 15.795.000 đồng.
Chị H không đồng với thư phc đáp của Công ty A, với l do anh C
không trực tiếp ch vào toàn bộ các ô câu hỏi của phiếu yêu cầu, anh C ch
ghi thông tin và k vào phiếu rồi gửi lại cho chị H. Chị H thừa nhận chính chị là
người tích vào câu hỏi về thông tin sức khỏe "không". vậy, anh C không
khai báo gian dối nên chị H đề nghị Công ty A phải nghĩa vụ thanh toán
quyền lợi bảo hiểm cho anh C theo hợp đồng U907568577 gồm: Quyền lợi tử
vong 404.123.570 đồng; quyền lợi bảo hiểm đối với người bảo hiểm không
ht thuốc là: 40.000.000 đồng và lãi suất chậm trả theo quy định của luật dân
sự từ ngày 12-01-2020 tạm tính đến ngày xét xử thẩm 23-9-2020
444.123.570 đồng x 0,83% x 8 tháng, 11 ngày = 30.816.846 đồng. Tổng số tiền
là 474.940.416 đồng
Chị H: Nhất trí với trình bày của chị M và không có  kiến bổ sung
Tại bản trình bày ngày 03-8-2020 quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn
là Công ty A trình bày:
Ngày 15 tháng 11 năm 2016, Công ty A phát hành hợp đồng bảo hiểm mã
số U907568577 đối với anh Văn C. Anh C đã đóng phí bảo hiểm đến ngày
15-5-2018. Sau đó, anh C không đóng phí bảo hiểm đng thời hạn trong thời
gian gia hạn. Do vy, ngày 19-7-2018 Công ty A thông báo cho anh C biết về
việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm số U907568577.
Ngày 20-7-2018 anh C lập phiếu yêu cầu gửi đến Công ty A đề nghị khôi
phục hợp đồng bảo hiểm sU907568577, phiếu yêu cầu được lập theo mẫu của
4
Công ty A quy định. Theo đó, tại phần khai báo các thông tin về tình hình sức
khỏe của bản thân, anh C đã đánh vào các ô “không” thể hiện sức khỏe bình
thường, nên Công ty A đã phát hành txác nhận đồng khôi phục hiệu lực
hợp đồng bảo hiểm sU907568577 kể từ ngày 26-7-2018 anh C đã đóng phí
bảo hiểm đến ngày 15-11-2019.
Ngày 16-8-2019 anh C chết do đột tử. Ngày 04-9-2019, bà Nguyễn Thị H
vợ anh C đơn yêu cầu Công ty A đề nghị giải quyết quyền lợi bảo hiểm tử
vong cho anh C.Sau khi, nhận được yêu cầu, Công ty A tiến hành xác minh
thu thập các thông tin theo đng trình tự thủ tục, để làm sở giải quyết quyền
lợi bảo hiểm, theo quy định của pháp luật, tđược biết trước khi thực hiện thủ
tục yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng, anh C đã điều trị tại Bệnh viện Đa
khoa tnh N từ ngày 16-4-2018 đến ngày 23-4-2018 với chẩn đoán bệnh “Xơ
gan cổ trướng”. Nhưng khi lập hồ sơ yêu cầu anh C không cung cấp cho Công ty
thông tin này, điều đó thể hiện anh C không cung cấp thông tin đầy đủ trung
thực.
Đối với việc chị Nguyễn Thị H xác định người trực tiếp tích vào các
ô câu hỏi trong phiếu yêu cầu đề nghị khôi phục hiệu lực hợp đồng của anh C,
Công ty không đồng với kiến này. quan hệ giữa chị H với Công ty
quan hệ hợp đồng đại l, chị H ch được thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ trong
phạm vi Công ty ủy quyền theo quy định tại Điều 84, 85 Luật kinh doanh bảo
hiểm Điều 142, 143 của Bộ luật dân sự. Nếu chH thực hiện hành vi vượt
quá phạm vi đại diện, thì hành vi của chị H không làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ đối với ng ty, chị H phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình.
Do vậy, Công ty A không đồng với yêu cầu khởi kiện của chị H, giữ nguyên
thư phc đáp ngày 12-01-2020 thông báo về việc từ chối giải quyết quyền lợi
bảo hiểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm U907568577, đồng thời hoàn trả lại
toàn bộ khoản phí bảo hiểm anh C đã đóng kể từ ngày khôi phục hợp đồng
15.800.000 đồng.
Chị Nguyễn Thị H trình bày: Bố chị H anh trai bchị. Tháng 11 năm
2016 anh Văn C vào Đ chơi, chị vấn mua bảo hiểm. Ngày 15-11-2016
Công ty A phát hành thư chấp nhận bảo hiểm cho anh C.Từ ngày 15-11-2016
đến ngày 15-5-2018 anh C vẫn đóng phí bảo hiểm. Ngày 15-7-2018 là ngày
đóng phí cuối cùng anh C không đóng phí bảo hiểm quá hạn, nên chị H gửi
giấy khôi phục hợp đồng cho anh C.Ngày 20-7-2018 anh C nộp hồ sơ gồm phiếu
yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm bổ xung. Ngày 26-7-2018 Công
ty A chấp thuận, anh C đã đóng phí đến ngày 15-11-2019.
5
Tại phiếu yêu cầu khôi phục hợp đồng anh C đã k vào phần người yêu
cầu, còn các thông tin về sức khỏe thì bỏ trống, vì thực tế khi tư vấn khách hàng
không hiểu nội dung các câu hỏi, nên tư vấn viên trả lời thay khách hàng, do chị
xa không biết anh C nằm viện nghe giọng nói khỏe mạnh nên chị đánh
vào ô không. Anh C không hề gian dối hồ sơ. Ngày 16-8-2019 anh C chết đột
tử, với trách nhiệm của mình chị có hướng dẫn chị H mang hồ sơ bảo hiểm của
anh C đến Công ty A Nam Định để giải quyết quyền lợi bảo hiểm nhưng ng
ty A đã từ chối. Theo quan điểm của chị Công ty A phải trách nhiệm thanh
toán quyền lợi bảo hiểm cho anh C.Chị xin vắng mặt tại trong các buổi làm việc
tại Tòa án cho đến khi kết thc vụ kiện.
Tại bản án dân sự thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2020
của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tnh Nam Định đã quyết định. Căn cứ
khoản 3 Điều 26, 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127; khoản 2 Điều 405 Bộ
luật dân sự; các Điều 15, 18, 19, 22 Luật kinh doanh Bảo hiểm 2000 (sửa đổi bổ
sung năm 2010); điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 9 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ A phải nghĩa vụ thanh toán
quyền lợi bảo hiểm cho anh Văn Ctheo hợp đồng số U907568577 với tổng
số tiền là 474.940.416 đồng.
Ghi nhn s t nguyn ca Công ty A Vit Nam v vic hoàn trả lại toàn
bộ khoản phí bảo hiểm anh C đã đóng cho hợp đồng kể từ ngày khôi phục
15.800.000 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên án phí quyền kháng cáo của các
đương sự.
Ngày 24-9-2020 chị Nguyễn Thị H Ngô Thị M kháng cáo toàn bộ
bản án thẩm, yêu cầu cấp phc thẩm giải quyết các việc sau đây: Tuyên hủy
bản án thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực. Chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của chị H đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ
A.
Tại phiên tòa phc thẩm, chị Bùi Thị M người đại diện theo y quyền
của chị Nguyễn Thị H Ngô Thị M trình bày: Chị H M thay đổi nội
dung kháng cáo cụ thể ch yêu cầu cấp phc thẩm sửa bản án thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của chị H. Chị cho rằng cấp thẩm không triệu tập chị
Nguyễn Thị H đến phiên tòa. Chị H đã tích vào ô “không” tại mục khai báo về
6
thông tin sức khỏe trong phiếu yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng của anh C,
cấp thẩm không xem xét đến trách nhiệm của đại l Nguyễn Thị H, chị H đã
vi phạm quy định về hợp đồng đại l bảo hiểm quy định tại điểm a Điều 28
Điều 17, Điều 88 Luật kinh doanh bảo hiểm. Do vậy, Công ty A phải bồi thường
cho người mua bảo hiểm anh C, còn chị H sẽ trách nhiệm với Công ty A.
Điều khoản trong phiếu yêu cầu không ràng, đề nghị áp dụng án lệ số 22 và
chấp nhận khởi kiện của chị H riêng đối với khoản lãi suất đề nghị HĐXX tính
đến ngày xét xử phc thẩm.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H trình bày: Nhất trí với
kiến của chị M là người đại diện theo ủy quyền của chị HM. Công ty A
đã y quyền cho đại l nên Công ty phải chịu trách nhiệm thanh toán quyền lợi
bảo hiểm cho anh C theo quy định tại khoản 2 Điều 17, Điều 88 Luật kinh doanh
bảo hiểm; Điều 84, khoản 3, khoản 4 Điều 87 của văn bản số 24/2020 ngày 09-
12-2010. Do vậy, Công ty A phải bồi thường cho anh C và đại l có trách nhiệm
bồi hoàn cho Công ty số tiền đã bồi thường cho anh C, đề nghị XX căn cứ
Điều 309 BLTTDS, Điều 88 Luật kinh doanh bảo hiểm, sửa bản án thẩm
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.
Chị H trình bày: Anh C nằm viện điều trị bệnh gan cổ trướng tại
Bệnh viện Đa khoa tnh Ntừ ngày 16-4 đến ngày 23-4-2018, chị xác định chữ
và chữ viết trong phiếu yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm/sản phẩm
bổ sung là của anh C, còn chị H người tích vào ô “không” tại mục khai báo về
thông tin sức khỏe của anh C.chị nhất tvới lời trình bày của luật sư lời
trình bày của chị M.
Cháu Thị G và cháu Đức A nhất trí với lời trình bày của chị H, chị
M và lời trình bày của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H.
Chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị làm đại l cho Công ty A từ năm 2016,
chị đã vấn cho anh C tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và đã được Công
ty k hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số U907568577, khi hợp đồng số
U907568577 bị chấm dứt chị đã vấn và gửi phiếu yêu cầu khôi phục hiệu lực
hợp đồng/sản phẩm bổ sung cho anh C chị nói với anh C viết vào
phiếu yêu cầu, còn chị là người tích vào ô “không” tại mục khai báo về thông tin
sức khỏe của anh C.Chị đề nghị Công ty A thanh toán quyền lợi bảo hiểm cho
anh C theo yêu cầu khởi kiện của chị H.
Kiểm sát viên - Viện kiểm sát tnh Nam Định phát biểu kiến: V t
tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phc thẩm, Thẩm phán Hội đồng xét
xử đã tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương schấp
hành đng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự
7
được bảo đảm. Về đường lối giải quyết vụ án không có căn cứ chấp nhận kháng
cáo của chị Nguyễn Thị H kháng cáo của Ngô Thị M, đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, ginguyên bản án thẩm. Án phí
dân sự giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chng c trong hồ sơ vụ án được xem
xét tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét
thấy:
[1] Về tố tụng: Chị M cho rằng cấp sơ thẩm không triệu tập chị Nguyễn Thị
H đến phiên tòa: Xét thấy tại bản tkhai ngày 18-8-2020 bt lục số 189 chị
Nguyễn Thị H yêu cầu xin được vắng mặt tại Tòa án cho đến khi kết thc vụ
án. Căn cứ Điều 229 BLTTDS cấp thẩm xét xử vắng mặt chị H phù hợp
quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Ngày 15-11-2016 Công ty Aanh Vũ Văn C kết
hợp đồng bảo hiểm sU907568577. Anh C đã đóng phí bảo hiểm đến ngày 15-
5-2018. Sau đó, anh C vi phạm nghĩa vụ đóng phí. Ngày 19-7-2018, Công ty A
đã thông báo về việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm số U907568577 đối với anh
C.
[3] Ngày 20-7-2018, anh C lập phiếu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng
bảo hiểm mẫu do Công ty A Việt Nam phát hành, đề nghị khôi phục lại hợp
đồng bảo hiểm số U907568577. Trong phiếu yêu cầu, phần khai báo thông
tin về sức khỏe tại thời điểm khôi phục hợp đồng, căn cứ vào phiếu yêu cầu do
anh C nộp cho Công ty A được lưu hồ vụ án, thì các thông tin vsức khỏe
đều được tích vào ô “không”. Tại mục điều quan trọng qu khách cần lưu
trong phiếu yêu cầu đã ghi: “ Theo quy định của pháp luật, bên mua bảo hiểm
trách nhiệm cung cấp thông tin một cách đầy đủchính xác. Các thông tin này
sẽ được sử dụng để khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm/sản phẩm bổ sung, vì
vậy việc khai không đầy đủ hoặc không chính xác thể dẫn đến tình trạng
hợp đồng bảo hiểm/sản phẩm bsung bị chấm dứt hoặc quyền lợi bảo hiểm
không được chi trả”.
[4] Như vậy, việc khai chính xác các thông tin về sức khỏe của bên mua
bảo hiểm là căn cứ để khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm/sản phẩm bổ sung.
Tuy nhiên, theo phiếu yêu cầu tại mục khai báo về thông tin sức khỏe người
được bảo hiểm là anh C đều được tích vào ô “không” điều đó thể hiện tình trạng
sức khỏe của anh C tại thời điểm yêu cầu phôi phục hợp đồng bảo hiểm bình
thường, nên ngày 26-7-2018 Công ty A thư xác nhận khôi phục hiệu lực hợp
8
đồng bảo hiểm nhân thọ số U907568577 anh C đã đóng phí bảo hiểm đến
ngày 15-11-2019, nhưng đến ngày 16-9-2019 anh C bị chết đột tử.
[5] Tại phiên tòa, chị H chị H đều xác nhận chữ viết chữ k trong
phiếu yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng/sản phẩm bổ sung là chữ viết chữ k
của anh C. Do vậy, anh C phải chịu trách nhiệm về chữ k và chữ viết của mình
trong phiếu yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng/sản phẩm bổ sung này.
[6] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị H đều khai nhận đã tích
vào ô “không” tại mc khai báo thông tin v sc khe trong phiếu yêu cu khôi
phc hiu lc hợp đồng bo hiểm, nhưng quan hệ gia ch H anh C quan
h anh em h, c th bchị H anh trai bố chị H, còn anh C đã chết nên
không căn cứ để xác định chị H tích vào các ô “không” khi khai báo về tình
trạng sức khỏe của anh C như chị H trình bày.
[7] Quá trình giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho anh C, Công ty A đã tiến
hành xác minh tại Bệnh viện Đa khoa tnh N phn ánh anh C đã điều tr bnh
“Xơ gan” t ngày 16-4-2018 đến ngày 23-4-2018. Như vậy, trước khi anh C yêu
cu khôi phc hiu lc hợp đồng bo him/sn phm b sung thì anh C đã nằm
điu tr bệnh gan ti Bệnh viện Đa khoa tnh N, trong khi đó ti mc khai
báo v thông tin sc khe trong phiếu cu đu th hin tình trng sc khe ca
anh C ti thời điểm khôi phc hợp đồng là bình thường, t đó xác định anh C đã
hành vi khai gian di v tình trng sc khe ca mình khi giao kết phc hi
li hợp đồng bo him s U907568577 nhằm được hưởng quyn li bo him.
[8] Vì vậy, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số U907568577 được khôi phục
hiệu lực ngày 26-7-2018 giữa Công ty A Việt Nam và anh C bị vô hiệu do bị lừa
dối theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 22 Luật kinh doanh bảo hiểm và Điều
127 Bộ luật dân sự. Theo quy định Điều 131 BLDS về giải quyết hậu quả pháp
l của giao dịch dân sự hiệu thì giao dịch dân sự hiệu không làm phát
sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vdân sự của các bên kể từ thời điểm
giao dịch được xác lập các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho
nhau những đã nhận. Do vậy, AIA phải hoàn lại cho pbảo hiểm anh C đã
đóng từ ngày 26-7-2018 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số U907568577 bị
chấm dứt. Về xác định mức độ lỗi, Hội đồng xét xử thấy anh C đã khai báo
không trung thực tình trạng sức khỏe tại phiếu khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo
hiểm, nên anh C phải chịu lỗi về hành vi gian dối của mình anh C không
được Công ty A thanh toán quyền lợi bảo hiểm như án sơ thẩm nhận định là phù
hợp.
[9] Tại phiên tòa, Luật sư và người đại diện theo ủy quyền của chị H và bà
M cho rằng: Chị H đã vi phạm hợp đồng đại l bảo hiểm nên căn cứ vào Điều
9
88 Luật kinh doanh bảo hiểm thì Công ty A phải bồi thường cho anh C, và chị H
sẽ có trách nhiệm bồi hoàn lại cho doanh nghiệp. Hội đồng xét xử xét thấy, theo
Điều 88 của Luật kinh doanh bảo hiểm quy định về trách nhiệm của đại l bảo
hiểm như sau: Trường hợp đại l bảo hiểm vi phạm hợp đồng bảo hiểm, y
thiệt hại đến quyền lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm thì doanh
nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm do đại l bảo
hiểm thu xếp giao kết; đại l trách nhiệm bồi hoàn cho doanh nghiệp bảo
hiểm các khoản tiền doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho người được
bảo hiểm”. Theo quy định của điều luật này, thì việc đại l vi phạm hợp đồng
bảo hiểm phải gây thiệt hại đến quyền lợi ích hợp pháp của người được bảo
hiểm, nhưng trong trường hợp của vụ án này, giả thiết nếu chị H có vi phạm hợp
đồng bảo hiểm tích vào các ô “không” về khai báo sức khỏe của anh C, thì
không gây thiệt hại cho anh C, bởi lẽ anh C đã nằm điều trị bệnh gan trước
khi yêu cầu khôi phục hợp đồng bảo hiểm số U907568577. Do vậy, không
căn cứ chấp nhận lời trình bày của Luật người đại diện theo ủy quyền của
chị H và bà M.
[10] Từ phân tích trên, Hội đồng xét x xét thấy không căn cứ chấp
nhận kháng cáo của chị H và bà M mà giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[11] Án phí dân sự phc thẩm: Do ginguyên bản án sơ thẩm nên người
kháng cáo phải chịu án pdân sự phc thẩm. Tuy nhiên, bà Ngô Thị M mẹ
đẻ anh C người cao tuổi chị Nguyễn Thị H thuộc hộ cận nghèo, căn cứ
điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử
dụng án phí lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phc thẩm
cho bà M và chị H.
[12] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị cấp phc
thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127; Điều 131 Bộ
luật dân sự; Điều 18, Điều 22 Luật kinh doanh bảo hiểm; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
10
Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị H kháng cáo của
Ngô Thị M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H v việc
buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ A phải nghĩa vụ thanh
toán quyền lợi bảo hiểm cho anh Văn C theo hợp đồng U907568577 với
tổng số tiền là 474.940.416 đồng.
2. Buc Công ty trách nhim hu hn bo him nhân th A phi hoàn lại
toàn bộ khoản phí bảo hiểm anh C đã đóng kể từ ngày khôi phục hiệu lực hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ số U907568577 15.800.000 đồng (mười lăm triệu,
tám trăm nghìn đồng).
3. Án phí dân s phúc thm: Min án phí dân s phúc thm cho ch
Nguyn Th H và bà Ngô Th M.
4. Án phí dân sự thẩm: Miễn án phí dân sự thẩm cho chị Nguyễn
Thị H.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7
và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tnh Nam Định;
- TAND huyện Nam Trực;
- Chi cục THADS huyện Nam Trực;
- Hồ sơ vụ án;
- Lưu VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHC THM
THM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Thị Thu
11
Tải về
Bản án số 01/2021/DS-PT Bản án số 01/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất