Quyết định số 35/2025/DS-GĐT ngày 23/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Quyết định số 35/2025/DS-GĐT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Quyết định số 35/2025/DS-GĐT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Quyết định 35/2025/DS-GĐT
Tên Quyết định: | Quyết định số 35/2025/DS-GĐT ngày 23/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về thừa kế tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
Cấp xét xử: | Giám đốc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
Số hiệu: | 35/2025/DS-GĐT |
Loại văn bản: | Quyết định |
Ngày ban hành: | 23/06/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp thừa kế về tài sản |
Tóm tắt Quyết định
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Quyết định giám đốc thẩm
Số: 35/2025/DS-GĐT
Ngày: 23/6/2025
V/v “Tranh chấp thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường.
Các Thẩm phán: ông Đặng Kim Nhân và ông Nguyễn Tấn Long.
- Thư ký phiên tòa: bà Trịnh Thị Hằng - Thẩm tra viên chính.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: bà Phạm Thị Nguyệt Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 23/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên
tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản”, giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị C, sinh năm 1938.
Cư trú lại: Tổ 52. KV 6, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo ủy quyền của bà C: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm
1977; địa chỉ: số A N, thôn P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định (Văn bản ủy
quyền ngày 25/01/2021).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1941.
Cư trú tại: Xóm B, thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Anh Lê Thành N, sinh năm 1977;
địa chỉ: Xóm B, thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (Văn bản ủy quyền ngày
06/5/2021).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chị Lê Thị Thúy K, sinh năm 1988;
3.2. Anh Quách Toàn H, sinh năm 1981;
3.3. Anh Lê Thành N, sinh năm 1977;
Cùng cư trú tại: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Đình T trình bày:
Cha mẹ bà Phạm Thị C là cụ Phạm M (chết năm 1946), cụ Nguyễn Thị L1 (chết
năm 1996), cha mẹ bà có một người con duy nhất là bà. Năm 1947, cụ L1 nhận chuyển
nhượng của cụ Trương Hoàng T1 đất số 01, tờ bản đồ số 15, diện tích 629,2m
2
đất tọa
lạc tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
Năm 1949, cụ L1 kết hôn với cụ Nguyễn S và ở trên thửa đất khác do cụ S tạo
lập. Trước khi kết hôn với cụ L1, cụ S đã kết hôn với cụ Nguyễn Thị Kim A và có một
người con chung là bà Nguyễn Thị Ngọc L. Sau khi ly hôn, cụ A sống tại thôn C, thị
trấn T đến sau năm 1975, cụ A về sống tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Vì
cụ A muốn sống gần con gái là bà L nên năm 1985 cụ A có xin cụ L1 khoảnh đất trống
để ở.
Năm 1993 cụ S chết, cụ A sống một thời gian đến năm 1995 cụ A chết, cụ L1 lấy
lại đất. Đến năm 1996 cụ L1 chết. Trước khi chết cụ L1 đã giao lại thửa đất trên cho bà
C quản lý, sử dụng. Năm 2003, bà L nói với bà C để bà L sử dụng thửa đất trên, bà L
sẽ nộp thuế cho Nhà nước khi nào bà C cần thì bà L trả lại. Đến năm 2019, bà C về
thăm nhà thì được biết bà L đã cho con xây dựng nhà ở trên thửa đất trên. Nay bà C
khởi kiện yêu cầu chia thừa kế toàn bộ thửa đất số 01, tờ bản đồ số 15, diện tích
629,2m
2
; yêu cầu vợ chồng chị Lê Thị Thúy K, anh Quách Toàn H tháo dỡ nhà tự xây
năm 2019 và yêu cầu bà L tháo dỡ ngôi nhà do cụ A xây dựng. Đối với yêu cầu phản
tố của bà L thì bà C không đồng ý.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lê Thành N trình bày:
Bà Nguyễn Thị Ngọc L thống nhất với lời trình bày của của người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn về mối quan hệ gia đình và nguồn gốc nhà đất tại thửa đất số
01, tờ bản đồ số 15, diện tích 629,2m
2
.
Bà L công nhận khu vườn tranh chấp của cụ L1 có từ năm 1947, trước khi cụ L1
tái hôn với cụ S năm 1949. Cụ L1 và cụ S cho cụ A ở nhờ chỉ cho miệng chứ không có
giấy tờ gì. Sau khi cụ A chết năm 1995, bà Liên tiếp T2 sinh sống tại nhà, đất của thửa
đất nêu trên. Nay bà C yêu cầu chia thừa kế toàn bộ thửa đất nêu trên thì bà L không
đồng ý; bà L cũng không đồng ý tháo dỡ ngôi nhà do cụ A xây dựng. Bà L phản tố yêu
cầu chia thừa kế phần của cụ A và cụ S đối với thửa đất số 01, tờ bản đồ số 15, diện
tích 629,2m
2
nêu trên, đồng thời yêu cầu được hoàn trả lại tiền thuế, tiền trông coi, giá
trị bồi trúc khu vườn theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án,
bà L đã rút yêu cầu về việc được hoàn trả lại tiền thuế, tiền trông coi, giá trị bồi trúc
đối với diện tích đất tranh chấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2021/DS-ST ngày 06/9/2021, Tòa án nhân
dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định quyết định:
1. Thửa đất số 01, tờ bản đồ số 15, diện tích 629,2m² tọa lạc tại thôn T, xã
P, huyện T là tài sản chung vợ chồng cụ Nguyễn Thị L1 và cụ Nguyễn Siêu .
2. Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Phạm Thị C được thừa kế quyền sử
dụng đất của cụ Nguyễn Thị L1 471,7m² (133
㎡
đất ở, 338,7m² đất
vườn)/630,3m
2
thuộc thửa đất số 01, tờ bản đồ số 15, diện tích 629,2m² tọa lạc
tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Ngọc L được
thừa kế quyền sử dụng đất của cụ Nguyễn S 158,6m
2
(66,6m² đất ở, 92m² đất
vườn)/630,3m
2
thuộc thửa đất số 01, tờ bản đồ số 15, diện tích 629,2m
2
tọa lạc
tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
3
Về vị trí cụ thể: Có sơ đồ kèm theo.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Ngọc L được
thừa kế tài sản của cụ Nguyễn Thị Kim A ngôi nhà 36,2m² do cụ A xây dựng
năm 1986 nằm trong phạm vi đất được chia cho bà C và buộc bà C hoàn trả lại
cho bà L giả trị 21.025.000 đồng
5. Bác yêu cầu của bà Phạm Thị C đối với bà L phải tháo dỡ ngôi nhà
36,2m² do cụ A xây dựng năm 1986, giá trị 21.025.000 đồng, thuộc trong phạm
vi đất được chia cho bà C.
6. Bác yêu cầu của bà L được thừa kế phần tài sản cụ L1.
7. Bác yêu cầu của bà Phạm Thị C đối chị Lê Thị Thúy K và anh Quách
Toàn H phải thảo dỡ ngôi nhà 86,2m², giá trị 208.280.000 đồng xây dựng năm
2019 vì ngôi nhà không thuộc phạm vi đất chia cho bà C mà thuộc trong phạm
vi đất được chia cho bà L.
8. Đối với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 15 tọa lạc tại thôn T, xã P, huyện T,
tỉnh Bình Định do anh Lê Thành N đứng tên kê khai, đăng ký nếu sau này đương
sự tranh chấp thì tách bằng vụ kiện khác.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, các chi phí tố tụng
và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 15/9/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc L kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự
sơ thẩm nêu trên.
Ngày 30/9/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định
kháng nghị Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên theo thủ tục phúc thẩm.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 113/2022/DS-PT ngày 16/6/2022, Tòa án
nhân dân tỉnh Bình Định quyết định:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L và chấp nhận
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định. Sửa bản án
sơ thẩm số 50/2021/DS-ST ngày 06/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy
Phước, tỉnh Bình Định.
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm
Thị C được thừa kế toàn bộ thửa đất số 01, tờ bản đồ số 15, diện tích 629,2m²
(trong đó 200m² đất ở và 429,2m² đất vườn) tọa lạc tại thôn T, xã P, huyện T,
tỉnh Bình Định.
Ngày 25/10/2023, bà Phạm Thị C có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tối cao
xem theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị số 06/2025/KN-DS ngày 22/5/2025, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với Bản án dân sự phúc thẩm số
113/2022/DS-PT ngày 16/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; đề nghị
Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm,
hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Định xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm, đúng quy định pháp luật.
- Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại
Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp
nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Thửa đất số 01, tờ bản đồ số 15, diện tích 629,2m² tọa lạc tại thôn T, xã
P, huyện T, tỉnh Bình Định (hiện đang tranh chấp) có nguồn gốc do cụ Nguyễn
Thị L1 (mẹ của bà C) nhận chuyển nhượng của cụ Trương Hoàng T3 năm 1947.
Trước đó, cụ Trương H1 đã được đứng tên đối với thửa đất số 01 tại sổ bộ do
Đại N cấp, thuộc thửa số 188, tờ bản đồ số 02, diện tích 1 sào, 5 thước, 5 tấc.
Năm 1949, cụ L1 tái hôn với cụ Nguyễn Siêu . Thời điểm này, cụ Nguyễn Thị
Kim A đã ly hôn và không còn chung sống với cụ S nên cụ S và cụ A không còn
quan hệ hôn nhân. Theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân gia đình năm 1959:
“Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với
tài sản có trước và sau khi cưới", vì vậy toàn bộ thửa đất nêu trên là tài sản
chung vợ chồng của cụ L1, cụ S. Cụ S chết năm 1993, cụ L1 chết năm 1996 đều
không để lại di chúc, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất trên là di sản
thừa kế của hai cụ là có căn cứ.
[2]. Sau năm 1975, cụ A về lại thôn T và xin ở nhờ thửa đất nêu trên, năm
1980 cụ A tự kê khai quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân xã P ghi vào
Quyền đăng ký mục kê số 01 trang 41. Năm 1993, thực hiện Quy định về việc
giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục
đích sản xuất nông nghiệp ban hành kèm theo Nghị định số 64/CP ngày
27/9/1993 của Chính phủ thì thửa đất tranh chấp thuộc thửa số 466, tờ bản đồ số
3, có diện tích 592m², trong đó có 200m² đất ở, 392m² đất vườn do cụ A đứng
tên. Năm 1995, cụ A chết, bà Nguyễn Thị Ngọc L (là con chung của cụ A và cụ
S) tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất. Năm 2002, chính quyền địa phương thực
hiện đo đạc nhà ở và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân trên
địa bàn xã P, thửa đất nêu trên được chỉnh lý thành thửa số 718, tờ bản đồ số 3,
diện tích 535m² do anh Lê Thành N (con trai bà L) đứng tên kê khai đăng ký.
Tại Công văn số 04/UBND-ĐC ngày 11/01/2020, Ủy ban nhân dân xã P xác
nhận thời điểm thực hiện Chỉ thị số 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ thì tất cả
các gia đình, cá nhân thực tế đang sử dụng đất từ trước năm 1975 đến thời điểm
đăng ký kê khai thì đều được kê khai, cụ A đăng ký kê khai theo chủ trương
chung nhưng không cung cấp tài liệu, giấy tờ gì chứng mình cụ A có quyền sử
dụng đối với thửa đất này. Như vậy, thửa đất nêu trên là di sản của cụ S, cụ L1
nên bà L (con riêng của cụ S) được thừa kế tài sản của cụ S; bà C (con riêng của
cụ L1) được thừa kế tài sản của cụ L1 để lại như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là
đúng pháp luật.
[3]. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định từ sau năm 1975, điện tích đất tranh
chấp không ai quản lý, sử dụng. Cụ A trực tiếp sử dụng đất đã xây nhà, sinh
sống liên tục đến khi cụ A chết năm 1995, bà L và anh N tiếp tục quản lý, sử
dụng thửa đất không ai tranh chấp và nộp các khoản thuế đất đầy đủ theo quy
định đã hơn 40 năm và áp dụng Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015 để công
nhận cụ A có toàn bộ quyền sử dụng đối với thửa đất nêu trên, từ đó không chấp
nhận yêu cầu của bà C là không đúng, không phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ
vụ án.
5
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm thấy cần chấp
nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/2025/KN-DS ngày 22/5/2025
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 337 và khoản 3 Điều 343 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/2025/KN-DS
ngày 22/5/2025 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
2. Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 113/2022/DS-PT ngày 16/6/2022 của
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, về vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản”, giữa
nguyên đơn bà Phạm Thị C với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Thúy K, anh Quách Toàn H, anh Lê
Thành N.
3. Giao hồ sơ vụ án dân sự cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử
phúc thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.
4. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng
giám đốc thẩm ra quyết định.
Nơi nhận:
- TANDTC – Vụ giám đốc kiểm tra về dân sự;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Bình Định;
- TAND huyện Tuy Phước;
- Chi cục THADS huyện Tuy Phước;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu: Phòng lưu trữ; Vụ GĐT-TT và hồ sơ vụ án.
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Quốc Cường
6
7
8
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
2
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
3
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
4
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
5
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
6
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
7
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
8
Ban hành: 28/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
9
Ban hành: 27/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
10
Ban hành: 24/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
11
Ban hành: 17/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
12
Ban hành: 14/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
13
Ban hành: 12/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
14
Ban hành: 11/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
15
Ban hành: 08/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
16
Ban hành: 07/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
17
Ban hành: 05/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
18
Quyết định số 10/2025/QĐST-DS ngày 04/07/2025 của TAND tỉnh Nghệ An về tranh chấp về thừa kế tài sản
Ban hành: 04/07/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
19
Ban hành: 30/06/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
20
Ban hành: 30/06/2025
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm