Bản án số 69/2021/HS-ST ngày 13/04/2021 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 69/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 69/2021/HS-ST ngày 13/04/2021 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bình Chánh (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 69/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/04/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 69/2021/HS-ST
Ngày: 13-4-2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phan Hoàng Nam
2/ Ông Phạm Văn Tuyền
Thư phiên t: Châu Nguyễn Thanh Thảo Thư Toà án nhân
dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ C
Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hòa Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại Phòng xét xử Hình sự thuộc Trụ sở
Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét
xử thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 64/2021/TLST - HS ngày 10/3/2021 theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2021/QĐXXST HS ngày 16/3/2021 đối
với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Hoàng T; giới tính: Nam; sinh năm 1988, tại tỉnh Đ;
nơi ĐKHKTT: Ấp K, xã M, huyện T, tỉnh Đ; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định;
quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 4/12; nghề
nghiệp: m thuê; họ tên cha: Nguyễn Hoàng O, sinh năm 1959; họ tên mẹ:
Nguyễn Thị M, sinh năm 1960; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị
Thanh L, sinh năm 1995 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2011, con
nhỏ nhất sinh năm 2014.
Tiền án: Ngày 27/9/2011, bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đ xử phạt 02
năm về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án s58/2011/HSST); chấp hành xong
hình phạt vào ngày 30/3/2013, theo Giấy xác nhận chấp hành xong hình phạt
số 83/XN-TGCL ngày 03/12/2020 của Trại giam C; đóng án phí hình sự
thẩm và dân sự thẩm ngày 25/11/2011 theo Biên lai đóng án phí số 002299 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Đ; chưa bồi thường dân sự cho bị hại
số tiền 16.800.000 đồng.
2
Nhân thân: Ngày 14/11/2008, bị Tòa án nhân dân Quận X (nay Tòa án
nhân dân thành phố T), Thành phố H xử phạt 06 tháng về tội “Trộm cắp tài
sản” (theo Bản án số 151/2008/HSST); chấp hành xong hình phạt tù ngày
17/01/2009, theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 16/GCN ngày
17/01/2009 của Trại tạm giam B; đóng án phí ngày 26/12/2008, theo Biên lai số
019847 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận X (nay là Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố T), Thành phố H.
Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/11/2020, bị cáo có mặt
tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty Cổ phần C - Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn
Quốc M, sinh năm 1980.
Địa chỉ trụ sở chính: 101 103 TQK, phường T, Quận M, Thành phố H.
Người đại diện theo y quyền: Ông Đào Dương Nh, sinh năm 1991, theo
Giấy ủy quyền số 682-2020/UQ-CC ngày 25/11/2020 (vắng mặt).
Nơi cư trú: 724 ấp Đ, xã TH, huyện G, tỉnh A.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do không có tin tiêu xài nên Nguyn Hoàng T ny sinh ý đnh đi kiếm tài sn ca
người khác trm cp bán ly tiền tu xài. Vào khong 00 gi 30 phút ngày 25/11/2020,
Tây mang theo 02 cây tua vít, 01 cây km, 01 cây chìa khóa số 8, 01 cây chìa khóa s 10
01 cun dây thng đi b t nhà trọ thuc khu ph 4, thtrn T, huyn B ra đường kiếm
tài sản trm cp. Khi đến trưc ca hàng C ti địa ch 326A/13, p 1, xã A, thì T quan sát
thy không ngưi trông coi nên đi vòng ra phía sau leo lên nóc nhà ca ca hàng, dùng
chìa khóa số 8 m các c vít c đnh mái n. Sau khi mtôn, m la phong T nhy xung
bên trong ca hàng. Tại đây, T đến v trí quy thu ngân, m hc t ly khoảng hơn
1.000.000 đồng bỏ vào túi quần bên phải. T tiếp tục quay sang v trí đ két st đưc đt
bên cnh quy thu ngân dùng tua vít, kềm đcy két st nhưng không được thì T ly 02
thanh kim loi hình chJ đưc đ sn trong ca hàng và cy bung đưc ca két st ra
đ lấy s tiền khong hơn 10.000.000 đng b vô túi qun bên phi. Lúc này, bà Võ Th
Hng Ph là nhân viên giám sát camera ca chui h thng ca hàng C có tr sở tại Qun
B, Thành ph H phát hiện và gi đin thoi trình báo Công an xã A, huyn B. Nhn được
tin báo, lc ng Công an xã A đến hin trường tiến hành vây bt T. Biết mình đã b
phát hin nên T trèo qua nhà kho cp vách ca hàng C đtrốn. Đến khoảng 07 gi ngày
25/11/2020 thì Công an xã A, huyn B bt gi đưc T cùng s tin tang vt là 16.710.000
đồng. Công an xã A tiến hành lp bn bn bt ngưi có hành vi phm ti qu tang, thu
gi vt chng, lp h sơ ban đu chuyn đến Cơ quan Cnh sát điu tra Công an huyn
B đ điều tra, x lý theo thm quyn.
Kết luận định giá tài sản số 321/KL-HĐĐGTS ngày 08/02/2021 của Hội
đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận giá trị thiệt hại phần
ổ khóa két sắt do hành vi đập phá của Nguyễn Hoàng T gây ra là 960.000 đồng.
3
Vật chứng vụ án thu giữ được gồm:
- Số tiền tang vật 16.710.000 đồng; 01 cái két sắt nhãn hiệu GOLDBANK
Model KN541806112, đã hỏng phần cửa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện B đã trao trả lại cho chủ sở hữu là đại diện cửa hàng Con Cưng.
- 01 cái nón hình tròn màu đỏ; 01 nón lưỡi trai màu đỏ; 01 đôi dép nhựa
màu đen; 02 thanh kim loại hình chữ “J”, mỗi thanh dài khoảng 40cm; 02 chìa
khóa gồm 01 chìa khóa số 8 và 01 chìa khóa số 10; 02 y tua t gồm 01 cây màu
tím, dài khoảng 20cm 01 cây màu vàng, dài khoảng 15cm; 01 cây kềm màu
xanh dài khoảng 12cm; 01 sợi dây thừng bằng nhựa dài khoảng 05m.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thì bị cáo Nguyễn Hoàng
T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp lời khai của bị hại và các
tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 69/CT - VKS ngày 05 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm
sát nhân dân huyện B, Thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội
"Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng T đã thừa nhận hành vi phạm tội của
mình giống như lời khai tại quan điều tra các tài liệu, chứng cứ khác
trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng
xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giquyền công tố sau khi nêu tóm tắt
nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
và rút một phần truy tố đối với bị cáo từ điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xuống Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với do: Bản án số 151/2008/HSST
ngày 14/11/2008 của Tòa án nhân dân Quận X (này Tòa án nhân dân thành
phố T), Thành phố H xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bị cáo
đã chấp hành xong nh phạt đóng án phí) giá trị tài sản chiếm đoạt dưới
2.000.000 đồng (1.131.000 đồng) nên theo quy định pháp luật Bản án nêu trên
được xem là bị cáo đã xóa án tích. vậy, Viện kiểm sát đề nghị: Xử phạt bị cáo
Nguyễn Hoàng T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"
theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
bồi thường cho bị hại và xử lý vật chứng theo quy định.
Bị hại vắng mặt tại tòa, lời khai cùng các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện
bị hại yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 2.600.000
đồng chi phí sửa chữa két sắt.
NHẬN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B,
Điều tra viên, Viện kiểm t nhân dân huyện B, Kiểm t viên trong quá trình điều
4
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật
Ttụng hình sự. Qtrình điều tra và tại phiên tòa, bị o và những người tham gia
tố tụng không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành
tố tụng, người tiến nh tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo
trình y lời khai hoàn toàn t nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, c nh
vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hoàng T tại tòa hoàn toàn phù hợp
với lời khai tại quan điều tra (BL: 112 123, 132 - 135); phù hợp với các
chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án; vụ án còn được chứng minh qua
hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, Biên bắt bắt người có hành vi phạm
tội quả tang; Bản ảnh hiện trường, thu giữ vật chứng, kết quả định giá tài
sản…cùng các chứng cứ tài liệu thu thập trong hồ vụ án. Hội đồng xét xử
có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 25/11/2020, bị cáo Nguyễn Hoàng T đã hành vi lén lút trộm cắp
số tiền 16.710.000 đồng của Công ty Cổ phần Con Cưng tại chi nhánh địa chỉ
326A/13 ấp 1, xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Với những nh tiết được chứng minh trên, Hội đồng xét xử đủ sở
kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng T đã phạm tội “Trm cắp tài sản”, tội phạm
hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Thành
phồ H đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
[3] Bo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội muốn tiền tiêu
xài cho bản thân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là ngưi đã trưởng thành,
có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai
trái, là vi phạm pháp luật nhưng bản tính tham lam, biếng lười lao động nên bị
cáo cố ý phạm tội. Tội phạm bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không ch
xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật
bảo vệ còn gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, tạo tâm lý hoang mang
cho nhân dân. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị o phải chấp hành hình phạt tù
thời hạn một thời gian thì mới tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa
chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tính đến ngày phạm tội bị cáo
01 tiền án chưa được xóa: Ngày 27/9/2011, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh
Đ xử phạt 02 năm về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 58/2011/HSST)
(chưa bồi thường dân sự cho bị hại stiền 16.800.000 đồng), nên lần phạm tội
này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, Hội đồng xét xử áp dụng điểm h Khoản
1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo, khi lượng hình mức án nghiêm
khắc đối với bị cáo.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng t
xử cũng cân nhắc đến các nh tiết bị cáo thành khẩn khai báo đã tỏ ra ăn năn
5
hối cải về hành vi phạm tội của nh. Xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm
nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 B
luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[7] Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh rút một phần
quyết định truy tđối với bị o tđiểm g Khoản 2 Điều 173 Bluật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xuống Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Hội đồng xét xử chấp nhận bởi lý do sau:
Bản án số 151/2008/HSST ngày 14/11/2008 của Tòa án nhân dân Quận X (này là
Tòa án nhân dân thành phố T), Thành phố H xử phạt bị cáo 06 tháng về tội
“Trộm cắp tài sản” (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đóng án phí) giá trtài
sản chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng (1.131.000 đồng); căn cứ vào Nghị quyết số
41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội hưng dẫn về việc thi hành Bộ luật
Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
12/2017/QH14 theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì Bản án nêu trên bị cáo được
xem như đã xóa án tích. Do đó, việc rút một phần truy tố của Viện kiểm sát tại
phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Đối với hành vi đập phá két sắt của bị cáo, qua định giá tài sản xác định
thiệt hại phần ổ khóa của két sắt dưới 2.000.000 đồng nên hành vi này của bị cáo
chưa đủ căn cứ để quan Cảnh sát điều tra xvề tội “Hủy hoại tài sản hoặc
cố ý làm hư hỏng tài sản”, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với số tiền tang vật 16.710.000 đồng; 01 cái két sắt nhãn hiệu
GOLDBANK Model KN541806112, đã hư hỏng phần cửa. quan Cảnh sát
điều tra Công an huyện Bình Chánh đã làm thủ tục giao trả lại cho chủ shữu là
đại diện cửa hàng C theo Biên bản được lập vào hồi 08 giờ 20 phút ngày
17/12/2020, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với 01 cái nón hình tròn màu đỏ; 01 nón lưỡi trai màu đỏ; 01 đôi dép
nhựa màu đen; 02 thanh kim loại hình chữ “J”, mỗi thanh dài khoảng 40cm; 02
chìa khóa gồm 01 chìa khóa số 8 và 01 chìa khóa số 10; 02 cây tua vít gồm 01 y
màu tím, dài khoảng 20cm 01 cây màu vàng, dài khoảng 15cm; 01 cây kềm
màu xanh dài khoảng 12cm; 01 sợi dây thừng bằng nhựa dài khoảng 05m, xét
không giá trị stịch thu tiêu hủy theo điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015
[9] Về dân sự: Bị hại yêu cầu b cáo bồi thường số tiền 2.600.000 đồng chi
phí thay, sửa chữa khóa két sắt, bị o đồng ý bồi thường. Xét sự nguyện của bị
cáo là không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Về án phí: Bcáo phải chịu án phí theo quy định tại Khoản 2 Điều 136
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều
52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 42 B luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung
năm 2009); Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng về tội
“Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2020.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 cái nón hình tròn màu đỏ; 01 nón lưỡi trai màu đỏ; 01
đôi dép nhựa màu đen; 02 thanh kim loại hình chữ “J”, mỗi thanh dài khoảng
40cm; 02 chìa khóa gồm 01 chìa khóa số 8 và 01 chìa khóa s10; 02 cây tua vít
gồm 01 cây màu tím, dài khoảng 20cm và 01 cây màu vàng, dài khoảng 15cm; 01
cây kềm màu xanh dài khoảng 12cm; 01 sợi dây thừng bằng nhựa i khoảng
05m.
(vật chứng này hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Bình Chánh theo Biên bản giao nhận vật chứng được lập vào hồi 09 gi40 phút
ngày 22 tháng 3 năm 2021 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Bình Chánh).
Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải trách nhiệm bồi thường
thiệt hại cho Công ty cổ phần Con Cưng số tiền 2.600.000 đồng (hai triệu sáu trăm
ngàn đồng). Việc bồi thường phải thực hiện khi Bản án, quyết định của Toà án có
hiệu lực pháp luật tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể tngày Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thực hiện việc thi hành án
thì còn phải trả thêm tiền lãi cho người được thi hành án theo mức lãi suất được
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng)
án phí hình sự thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự
thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bcáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn
15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại tòa được
7
quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận
Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi nh án dân sự m 2008 được sa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được
thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ng chế thi hành án theo
quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa
đổi, bổ sungm 2014).
Nơi nhận:
- TAND TP. HCM;
- VKSND H.BC;
- CA H. BC;
- Chi cục THADS H.BC;
- Sở Tư pháp, TP. HCM;
- Phòng hồ sơ, CA TP. HCM PV06;
- Bị cáo;
- Đương sự;
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(đã ký tên và đóng dấu)
Nguyễn Hoàng Sơn
Tải về
Bản án số 69/2021/HS-ST Bản án số 69/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất