Bản án số 636/2025/HNGĐ-ST ngày 25/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 636/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 636/2025/HNGĐ-ST ngày 25/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 636/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M đối với ông Trần Văn T. 2. Về quan hệ hôn nhân
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHUC VỰC 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 636/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 8 - 2025
V/v Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHUC VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Liên Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hồi.
2. Bà Lê Thị Khanh.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Thông - Thư Tòa án nhân dân
Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số:
1596/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025 và
Quyết định hoãn phiên tòa số: 85/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trần Thị M, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1972. Căn cước công
dân số: 079172040205; Địa chỉ: D ấp C, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1968. Chứng minh nhân dân số:
022188992; Địa chỉ: 4 ấp C, T, huyện H, Thành phố HChí Minh (nay H,
Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28/10/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Trần Thị M trình bày:
Sau một thời gian tìm hiểu, bà Trần Thị M và ông Trần Văn T đã tự nguyện tiến
đến hôn nhân vào năm 1990, đăng kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số
18/1990 do Ủy ban nhân dân T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày
28/02/1990.
Vợ chồng có một thời gian chung sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng sau đó xảy
ra nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân do cả hai không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn
nhân của vợ chồng không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo i, mục đích n
nhân không đạt được. Bà Trần Thị M nhận thấy tình cảm vợ chồng đã lạnh nhạt, không
2
còn yêu thương tôn trọng nhau, không thể hàn gắn chung sống với nhau được. Do đó,
Trần Thị M yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Trần Thị M và ông Trần Văn T
có 02 con chung tên Trần Mai Thùy T1 - sinh năm 1990 đã trưởng thành, có khả năng
lao động và Trần Ngọc Yến C - sinh ngày 27/7/2009. Sau ly hôn, bà Trần Thị M yêu
cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Ngọc Yến C; không yêu
cầu ông Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ trở về chung sống
với nhau nhưng chỉ có nguyên đơn bà Trần Thị M mặt theo giấy triệu tập của Tòa
án, ông Trần Văn T vắng mặt không do Trần ThM đơn yêu cầu không
tiếp tục tổ chức hòa giải nên vụ kiện không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, vụ án
được đưa ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để Hội đồng xét xử xem
xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa bà Trần Thị M và ông Trần Văn T
là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều
28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn cư trú
tại H, Thành phố Hồ CMinh nên Tòa án thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân
dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã niêm yết và tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý,
Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng
ông Trần Văn T vắng mặt không lý do và bà Trần Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt.
Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm
b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Trần Thị M ông Trần Văn T tự nguyện tiến
đến hôn nhân. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 18/1990 do Ủy ban nhân dân
xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/2/1990, đủ cơ sở xác định quan
hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị M ông Trần Văn T hôn nhân hợp pháp được
pháp luật bảo vệ.
[4] Trong quá trình ttụng, bị đơn không đến Tòa án đtrình bày ý kiến đối với
yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo
quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu
của nguyên đơn dựa trên sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp theo
quy định của pháp luật.
[5] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Theo đơn khởi kiện Trần Thị M
xác đnh đời sống hôn nhân giữa Trần Thị M ông Trần Văn T phát sinh nhiều
3
mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, không còn
quan tâm đến nhau, mặc ai nấy sống và tự lo cho bản thân.
[6] Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
1. Vợ chồng nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm
sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa
thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt
động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
[7] Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, vợ chồng Trần Thị
M ông Trần Văn T đã trải qua thời gian mâu thuẫn, không còn thương yêu, quý
trọng, chăm sóc, mỗi người mạnh ai nấy sống không quan tâm đến nhau đến đời
sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do
đó, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn căn cứ nên được Hội đồng xét xchấp
nhận.
[8] Vcon chung, cấp dưỡng: Trong thời gian chung sống, Trần Thị M
ông Trần Văn T 02 con chung tên Trần Mai Thùy T1 - sinh ngày 10/9/1990 đã
trưởng thành, có khả năng lao độngTrần Ngọc Yến C - sinh ngày 27/07/2009. Tại
bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị M yêu cầu được trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Ngọc Yến C; không yêu cầu ông Trần Văn
T cấp dưỡng nuôi con chung; Tại các bản tự khai, cháu Trần Ngọc Yến C xác định có
nguyện vọng được mẹ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
[9] Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi
bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết
định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;
nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
[10] Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử đủ căn cứ
chấp nhận yêu cầu của Trần Thị M, giao con chung Trần Ngọc Yến C - sinh ngày
27/07/2009 cho Trần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến
khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi là phợp với nguyện vọng của các cháu Trần
Ngọc Y C; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Trần Văn T, do
Trần Thị M chưa có yêu cầu, là phù hợp với quy định của pháp luật.
[11] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có và không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[12] Về án phí: Án phôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 147, Điều 203, Điều
227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;
4
Căn cứ vào các Điều 19, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều
84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M đối với ông Trần Văn T.
2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị M được ly hôn với ông Trần Văn T.
3. Về con chung: Bà Trần Thị M và ông Trần Văn T có 02 con chung tên Trần
Mai Thùy T1 - sinh ngày 10/9/1990 đã trưởng thành, khả năng lao động Trần
Ngọc Yến C - sinh ngày 27/07/2009. Giao Trần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng giáo dục con chung tên Trần Ngọc Yến C - sinh ngày 27/07/2009 cho đến
khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi cong chung đối
với ông Trần Văn T cho đến khi bà Trần Thị M đơn yêu cầu.
Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người
nuôi con cũng nviệc cấp dưỡng nuôi con; không bên nào được quyền ngăn cản việc
thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
5. Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình thẩm Trần Thị M phải chịu
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 12/11/2024, bà Trần Thị M đã nộp tiền tạm
ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0047437 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh được đối trừ.
Các đương scó quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, ktừ ngày nhận được bản
án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi nh án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND TP. Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS KV8 TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND KV8 - TP. Hồ Chí Minh;
- UBND xã Hóc Môn, TP. H Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Liên Quân
Tải về
Bản án số 636/2025/HNGĐ-ST Bản án số 636/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 636/2025/HNGĐ-ST Bản án số 636/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất