Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST ngày 22/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 31/2026/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST ngày 22/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 9 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An |
| Số hiệu: | 31/2026/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Về quan hệ hôn nhân |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 9 – TỈNH NGHỆ AN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 31/2026/ST-HNGĐ
Ngày 22/01/2026
“V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung.
Các hội thẩm nhân dân: Ông La Văn Liệu; Ông Trần Doãn Xuân.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh - Thư ký Toà án nhân dân khu
vực 9, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An tham gia phiên
toà: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh
Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2025/TLST-HNGĐ ngày
22 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 14 /2025/QĐXX-ST ngày 10 tháng 12 năm 2025 giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trọng S - sinh năm 1994 – CCCD
040094019696. Trú tại: Thôn L, xã Y, tỉnh N. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Phan Thị Y - sinh năm 1998 – CCCD 04019800026. Trú
tại: Thôn C, xã Y, tỉnh N. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại phiên tòa, anh Nguyễn Trọng S trình bày: Anh Nguyễn Trọng S và chị chị
Phan Thị Y kết hôn vào ngày 14/3/2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã, huyện A,
tỉnh Nghệ An (nay là xã Y, tỉnh N), việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi
kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh
mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, khiến cho cuộc
sống vợ chồng lúc nào cũng căng thẳng mệt mỏi, hai vợ chồng cũng đã cố gắng
hàn gắn tình cảm nhưng không thành, chị Y về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và ly thân
với anh S từ tháng 6 năm 2022 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm
2
sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, anh Nguyễn Trọng S làm đơn đề nghị
Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phan Thị Y.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Anh Nguyễn Trọng S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng anh S không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không
ai nợ vợ chồng anh.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm chị Phan Thị Y đều vắng
mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án
không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và
Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An
phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá
trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ
đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn
chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định
tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56
Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Phan
Trọng Sơn; Về con chung: Không có. Về tài sản chung của vợ chồng anh S không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí anh S phải chịu án phí ly
hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại Thôn
C, xã Y, tỉnh N nên Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An thụ lý, giải quyết là
đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39
của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của anh Nguyễn Trọng S và chị Phan Thị
Y tại Uỷ ban nhân dân xã Y, tỉnh N cho biết, sau khi kết hôn vợ chồng anh S sinh
sống tại Thôn L, tỉnh Nghệ An được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên
nhân cụ thể thì chính quyền địa phương không biết, hiện tại vợ chồng anh S đang
sống ly thân. Quá trình chung sống vợ chồng anh S không có con chung, hiện tại
chị Y không có mặt ở địa phương đi đâu, làm gì, địa chỉ cụ thể thì chính quyền, địa
phương không biết. Trước khi đi chị Y không khai báo thủ tục cắt thường trú. Tại
3
biên bản lấy lời khai bà Nguyễn Thị V - Trú tại thôn Cao Sơn 9, xã Yên Xuân, tỉnh
Nghệ An là mẹ đẻ của chị Phan Thị Y cho biết, sau khi chị chị Y và anh S kết hôn
thì sinh sống tại nhà anh S một thời gian thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ
chồng chị Y không có con chung, năm 2022 chị Y về nhà mẹ sinh sống và đi làm
ăn xa từ đó vợ chồng sống ly thân. Hiện tại chị Y đi làm ăn thỉnh thoảng có gọi
điện về thăm gia đình, còn địa chỉ cụ thể của chị Y thì bà V không biết. Bà Vui đã
nhận các văn bản tố tụng của Tòa án đến tống đạt cho chị Y và đã thông báo cho
chị Y biết việc anh S làm đơn khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án, chị Y cũng nhất trí
ly hôn, về con chung: không có; về tài sản chung chị Y không yêu cầu tòa án giải
quyết. Như vậy, bị đơn chị Phan Thị Y vắng mặt nơi cư trú mà không rõ thời điểm
trở về và cũng không xác định được nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40;
điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che
giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp
với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày
05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Phan Thị Y đã được Tòa án tống đạt
hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông
báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;
Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt
nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Phan Thị Y theo
quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Phan Thị
Y không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án
căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập
được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân
sự.
[2] Về nội dung:
Xét thấy anh Nguyễn Trọng S và chị Phan Thị Y đăng ký kết hôn vào ngày
14/3/2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã Lĩnh Sơn, huyện A, tỉnh Nghệ An ( nay
là xã Y, tỉnh Nghệ An), việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm quy
định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn
nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh S và chị Y là hợp pháp.Tuy
nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng anh S, chị Y phát sinh nhiều mâu thuẫn
và sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc
lẫn nhau, như vậy anh S và chị Y đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa chị Phan Thị Y vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua
xác minh tại địa phương và gia đình cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ
chồng anh S và chị Y có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho
đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại chị Y không có mặt ở địa
4
phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết. Xét thấy tình cảm vợ chồng
giữa anh Nguyễn Trọng S và chị Phan Thị Y không còn, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật
Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn
Trọng S, xét cho anh Nguyễn Trọng S được ly hôn với chị Phan Thị Y.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh S không có con chung.
Về tài sản chung: Anh Nguyễn Trọng S và chị Phan Thị Y không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội
đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Nguyễn Trọng S phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1
Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và
Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của
anh Nguyễn Trọng S.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trọng S được ly hôn với chị Phan Thị
Y và chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Anh Nguyễn Trọng S và chị Phan Thị Y không có con
chung.
- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Trọng S và chị Phan Thị Y không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản
5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, anh Nguyễn Trọng
S phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh
S đã nộp 300.000 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9, tỉnh N theo biên lai thu
tiền số 0001720 ngày 22/10/2025.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh N trong
hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh N; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND Khu vực 9;
- Cơ quan THADS tỉnh N;
- Nguyên đơn, bị đơn;
- UBND xã Y;
- Lưu hồ sơ -VP. Lữ Thị Dung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 27/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 22/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 20/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 17/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm