Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 28/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 28/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hạnh - Minh
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẬP
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số:28/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/6/2025
V/v tranh chấp
Hôn nhân và gia đình
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP - TỈNH PHÚ THỌ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Anh Đức;
2. Ông Trần Quốc Hùng.
- Thư phiên toà: Bùi Thị Giang - Thư Toà án nhân dân huyện
Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ tham gia
phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Thu, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Lập,
tỉnh Phú Thọ, xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 11/2025/TLST-HNGĐ
ngày 16/01/2025 về việc Tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số:27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/4/2025, Quyết định
hoãn phiên tòa ngày 29/4/2025, Quyết định tạm ngưng phiên tòa ngày
21/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hà Văn H, sinh năm 1967
Địa chỉ: Khu P, xã L, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
Người bo v quyn và li ích hp pháp ca bà M: Đỗ Thị Hồng Nhụng
- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1968
Địa chỉ: Khu T, xã L, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Người bo v quyn li ích hp pháp ca M: Nguyễn Thị Bích
Thủy - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú
Thọ.
(Ông H, bà M, bà Thủy, bà Nhung đều có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 25/11/2024, quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa Tòa án nguyên đơn ông Văn H trình bày: ông M tự do m
hiểu, tự nguyệt kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Lương, huyện Yên
Lập, tỉnh PThọ ngày 10/12/1986. Sau khi kết hôn vợ chồng chung với bố
mẹ đẻ ông được 15 năm thì ra ở riêng tại khu Trung Tâm, xã L, huyện Yên Lập.
Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2017 thì
xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vchồng bất đồng quan điểm sống, không
tiếng nói chung, vợ chồng không hòa hợp, cuộc sống hôn nhân không
hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay, không ai
quan tâm đến ai. Năm 2023 bà M cũng đã có đơn yêu cầu ly hôn, sau đó hai bên
tự thỏa thuận phân chia tài sản sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
xong, M lại rút đơn, hai người vẫn mỗi người một nơi, đều không biện
pháp gì khắc phục. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu
Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Hoàng Thị M.
Tại bản tự khai ngày 31/3/2025 tại phiên tòa M trình bày: ông
H tự do tìm hiểu, tự nguyệt kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND Mỹ
Lương, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, ngày 10/12/1986 như ông H trình bày
đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung với bố mẹ đẻ ông H khu Phú Thịnh,
xã L, huyện Yên Lập, 15 năm thì ra ở riêng tại khu Trung Tâm, xã L, huyện Yên
Lập. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2010 thì xảy
ra mâu thuẫn, khiến cho tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần, kinh tế gia đình sa
sút, gia đình xáo trộn. Nguyên nhân do ông H người phụ nữ khác, không
chung thủy với bà, hai vợ chồng đã cố gắng khắc phục nhưng không kết quả,
vợ chồng sống ly thân khoảng năm 2017 cho đến nay. Nay ông H xin ly hôn
không đồng ý ly hôn muốn ông H quay về đoàn tụ với bà xây dựng gia đình
như ban đầu.
- Về con chung: Hai bên đều trình bày vợ chồng 01 con chung
Trung Hiếu, sinh ngày 29/01/1997 hiện đã thành niên, hai bên không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Ông H không
yêu cầu Tòa án giải quyết;
Đối với M quá trình giải quyết tại bản tự khai cũng không ý kiến
gì, không yêu cầu giải quyết đối với tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản công
sức. Khi được Tòa án thông báo hai bên đương sự để hòa giải, nhưng M
không đến nên không tiến hành hòa giải được, Tòa án chỉ tiến hành mphiên
họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ với nguyên đơn, thông
báo cho bị đơn, bị đơn không ý kiến . Sau khi Tòa án ra quyết định xét xử
M đơn xin hoãn không đến phiên tòa, M yêu cầu giải quyết
theo bản tự khai ngày 16/5/2025 và tại phiên tòa bà M trình bày:
1. Về tài sản chung:M trình bày hiện tại có 01 ngôi nhà kiên cố có diện
tích 110 m2 đổ mái bằng, 01 ngôi nhà cấp 4, diện tích 70 m2, nhà bếp và nhà vệ
sinh khoảng 20 m2 chuồng trại chăn nuôi xây tường, nền đổ tông diện tích
300 m2, sân phơi 70 m2, các đồ gia dụng trong nhà đầy đủ. Các loại cây hoa
3
màu, cây nhiên liệu, cây lấy gỗ, hiện tại ông H đang sở hữu các tài sản trên vậy
không đề nghị chia. Năm 2024 ông bà đã t thỏa thuận với nhau cho ông H
phần nhiều hơn gồm: thửa đất số 30 tờ bản đồ số 66, diện tích 13.977,3 m2;
Thửa đất số 159, tờ bản đồ số 66, diện tích 3.425,2 m2 (trong đó 400 m2 đất
ở); thửa đất số 312, tờ bản đố số 66, diện tích 4.615,5 m2 và các thửa đất ruộng;
thửa 258, tờ bản đồ số 66 diện tích 285,4 m2; thửa 298, tờ bản đồ số 66 diện tích
558,8 m2; thửa 31, tờ bản đồ số 78 diện tích 445,9 m2; thửa 39, tờ bản đồ số 78,
diện tích 257,8 m2; thửa 41, tờ bản đồ s78, diện tích 342,2 m2; thửa 107, t
bản đồ số 78, diện tích 430,6 m2; được phần ít hơn gồm thửa đất số 317, tờ
bản đsố 47, diện tích 333,7 m2; các thửa đất ruộng là: thửa 45, tờ bản đồ số
78, diện tích 505,9 m2; thửa 46, tờ bản đồ số 78, diện tích 458,2 m2. không
đề nghị về chia tài sản chung.
2. Về công sức: bà M trình bày từ năm 1986 vợ chồng chung sống cùng với
bố mẹ, vợ chồng ăn kinh tế xây dựng gia đình, chăm c bố mẹ già. Đến năm
1997 thì bố chồng mất thọ 92 tuổi. Khoảng năm 2005 vợ chồng mua đất làm
nhà tại khu Trung tâm, L để làm ăn, kinh doanh phát triển kinh tế gia đình,
sau đó chuyển khẩu mẹ ông H và con ra ở cùng để thuận tiện cho việc chăm sóc.
Đến năm 2012 chuyển đổi công việc làm ăn vợ chồng đầu xây dựng chuồng
trại chăn nuôi lợn trên thửa đất số 159, diện tích chuồng trại khoảng 300 m2,
tường xây, nền đổ tông, mái lợp cọ ploximang, xây nhà ở, các công
trình phụ đầy đủ, sắm đẩy đủ các đồ vật sinh hoạt hàng ngày nhà cửa khang
trang. Thuê máy múc đất san lấp bằng phẳng, khai thác rừng rậm trồng cây
nguyên liệu cây ăn quả, cây lấy gỗ, đào đắp 01 con ao có diện tích khoảng
3.000 m2, tất cả tài sản trên ông H sở hữu không đề nghị chia cho .
Nhưng đnghị bồi thường công sức trong thời gian vợ chồng cùng chung
sống, đã bỏ công sức đ xây dựng vun đắp cho gia đình, nay gần 60 tuổi
không còn sức khỏe để chăm lo cho bản thân nữa, bà già yếu ông H mới đề nghị
ly hôn, bỏ bà không nhà, không chỗ ở, buộc phải làm lại t đầu. Vậy đề
nghị ông H đền công sức cho để tự chăm lo cho bản thân, cho đến hết
quãng đời còn lại, hiện nay đang làm thuê giúp việc với mức thu nhập
7.000.000đồng/tháng, đề nghị ông H đền cho bằng ½ mức lương
đang đi làm, tức 3.500.000đồng/tháng, tương đương với 30 năm, nhưng chỉ
tính 20 năm với tổng số tiền là 840.000.000đ (Tám trăm bốn mươi triệu đồng)
tiền công sức bà đã bỏ ra vun đắp, chăm sóc, xây dựng gia đình, xây dựng nhà
cửa, các công trình phụ; Khai phá đất hoang để trồng rừng diện tích 13.977m2 ở
khu Phú Thịnh, L, huyện Yên Lập; xây dựng chuồng trại chăn nuôi diện tích
300m2, đắp ao thả cá khoảng 3.000m2, san lấp mặt bằng đất ở diện tích
3.800m2, trồng cây ăn quả lấy gỗ trên thửa đất 159, tờ bản đồ số 66, địa chỉ: khu
Phú Thịnh, xã L, huyện Yên Lập.
Ngày 21/5/2025 M đơn đề nghị Tòa án xem xét thẩm định, định giá
tài sản chung của ông H trên các thửa đất đã phân chia năm 2023, Tòa án
cũng đã ra Thông báo nộp tiền chi phí tố tụng ngày 21/5/2025, đến ngày
04/6/2025 hết thời hạn nộp chi ptố tụng M xin ra hạn 10 ngày nhưng hết
thời gian ra hạn 10 ngày bà M vẫn không nộp chi phí.
4
Đối với nguyên đơn ông H quan điểm không đồng ý với yêu cầu của
M thanh toán công sức, vì ngày 27/6/2023 ông M đã biên bản thỏa
thuận phân chia tài sản như bà M đã nêu ở trên.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố
tụng trong quá trình giải quyết ván của Thẩm phán, Hội đồng xét xử việc
chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, cơ quan tiến hành tố tụng và người
tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn bị đơn
đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; của Luật
Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị
quyết s326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng
12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lphí Tán.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Văn H được ly hôn Hoàng Thị
M.
2. Về thanh toán công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân: không căn
cứ xem xét giải quyết đối với yêu cầu của M về việc ông H thanh toán công
sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân. Nếu sau này đương sự yêu cầu tsẽ
được giải quyết bằng một vụ án khác.
3. Về án phí: ông H được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra, xem
xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, bị đơn bà M có hộ khẩu thường
trú tại L, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, được quy định tại Điều 28,
Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2]. Về ý kiến và yêu cầu của đương sự:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông H và bà M đảm bảo các quy
định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định
của Luật hôn nhân và gia đình nên đó là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình trình gii quyết v án nguyên đơn xác đnh mâu thun ca v
chồng đã trầm trng, đã sng ly thân t năm 2017, không ai quan tâm đến ai,
nguyên đơn cho rằng đời sng chung th kéo dài, mục đích hôn nhân không đt
đưc nên yêu cu Tòa án gii quyết cho được ly hôn; Còn b đơn cũng xác định
v chng mâu thun như nguyên đơn trình bày, nhưng xác định do nguyên đơn
không chung thy và cũng xác định v chng sng ly thân t năm 2017 đến nay.
5
Qua xác minh ti địa phương L, huyn Yên Lp cũng th hin v chng ông
H, M mâu thun năm 2017, đến năm 2019 M đi làm ăn về xã M
Lương, huyn Yên Lp, tnh Phú Th sinh sng, mỗi người một nơi, không ai
quan tâm đến ai. Năm 2023 bà M đã làm đơn xin ly hôn, sau đó ti Tòa án bà M
rút đơn, về địa phương giải quyết chia tài sn chung. Nay ông H xin ly hôn bà M
địa phương đề ngh Tòa án gii quyết theo quy định ca pháp lut.
Như vậy, về việc mâu thuẫn của vợ chồng, về thời gian sống ly thân của vợ
chồng từ năm 2017 đến nay đã được hai người thừa nhận, nên không phải chứng
minh, điều đó thể hiện hai người
không n thương yêu, quý trọng, chăm sóc,
giúp đỡ nhau; hai bên bỏ mặc không quan tâm đến nhau
từ năm 2017 đến nay
và bị đơn còn cho rằng nguyên đơn không còn chung thủy, như vậy quan hệ h
ôn
nhân của hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cho hai người ly hôn theo
yêu của nguyên đơn phù hợp
. Hoàng Thị M
mặc không đồng ý ly hôn
nhưng trong thời gian dài cũng không biện pháp để vợ chồng đoàn tụ,
khắc phục những mâu thuẫn vợ chồng hai người vẫn sống ly thân mỗi người
một nơi,
nên không có căn cứ để chấp yêu cầu của bị đơn.
Do đó Hội đồng xét
xử cần xử cho ông H được ly hôn M, không chấp nhận yêu cầu đoàn tụ của
của bà M.
2.2. Về con chung: Hai bên trình bày 01 con chung nhưng đã thành niên,
nên không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
2.3 Về tài sản chung công sức: Bà M trình bày tại bản tự khai không yêu
cầu chia tài sản chung vợ chồng các tài sản này và ông H đã thỏa thuận
phân chia. Tuy nhiên yêu cầu ông H phải thanh toán công sức đóng góp cho
trong thời kỳ hôn nhân bằng tiền mặt số tiền 840.000.000 đồng tiền công
sức bà đã bỏ ra vun đắp, chăm c, xây dựng gia đình, xây dựng nhà cửa, các
công trình phụ. Khai phá đất hoang để trồng rừng diện tích 13.977m2 ở khu Phú
Thịnh, L, huyện Yên Lập; xây dựng chuồng trại chăn nuôi diện tích 300m2,
đắp ao thả khoảng 3.000m2, san lấp mặt bằng đất diện tích 3.800m2, trồng
cây ăn quả lấy gỗ trên thửa đất 159, tờ bản đồ số 66, địa chỉ: khu Phú Thịnh,
L, huyện Yên Lập. Do đó M đơn yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định tại
chỗ định giá tài sản để căn cứ yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy trong
suốt quá trình giải quyết vụ án M không có ý kiến về việc thanh toán công
sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân tuy nhiên sau khi Tòa án ra quyết định xét
xử M có đơn xin hoãn không đến phiên tòa, M yêu cầu nguyên
đơn thanh toán công sức trong thời k hôn nhân. Đối với yêu cầu của bị đơn
mặc dù sau khi có quyết định đưa ván ra xét xmới yêu cầu nhưng Tòa án
vẫn xem xét giải quyết để việc giải quyết vụ án được triệt để, khách quan đảm
bảo đúng quy định pháp luật.
Tòa án đã yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ nhưng M không cung
cấp được bất kỳ tài liệu nào chứng minh cho yêu cầu của mình cũng trình
bày tại biên bản lấy lời khai, ng như tại phiên tòa không tài liệu
chứng minh cho yêu cầu của mình.Tòa án đã thông báo nộp chi phí tố tụng,
6
nhưng hết thời hạn thông báo, Tòa án đã gia hạn thời hạn để M nộp, nhưng
M vẫn không nộp, nhưng cũng không đưa ra do về việc không nộp được
chi phí tố tụng vì sự kiện bất khả kháng trở ngại khách quan. Trong quá
trình giải quyết vụ án, tkhi bị đơn M yêu cầu Tòa án giải quyết về công
sức đóng trong thời kỳ hôn nhân, thẩm phán đã giải thích pháp luật, cho bị đơn
bà M biết được quyền, nghĩa vụ khi nộp chi phí tố tụng cũng như khi không nộp
chi phí tố tụng, M đã nghe nắm được nhưng vẫn không nộp nên không
thể tiến hành xem xét thẩm định, định giá tài sản. Đồng thời tại phiên tòa khi
được hỏi do không nộp chi phí ttụng M trình bày hiện nay chưa nộp
được, cũng tại phiên tòa M không đưa ra được tài liệu chứng cứ để chng
minh cho yêu cầu của mình căn cứ hợp pháp. vậy Tòa án không
căn cứ để xem xét các yêu cầu về thanh toán công sức đóng góp trong thời kỳ
hôn nhân của M, nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này M yêu cầu
thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Nguyên đơn ông H trình bày về yêu cầu thanh toán công sức trong thời kỳ
hôn nhân của bị đơn thì tài sản chung hai vợ chồng đã chia theo Biên bản thỏa
thuận ngày 27/6/2023 đã được UBND L, huyện Yên Lập chứng thực các
bên đã thực hiện việc chuyển quyền tài sản riêng, đến nay hai vợ chồng không
còn tài sản chung đchia; do đó việc bà M yêu cầu ông phải thanh toán công
sức cho số tiền 840.000.000đồng, quan điểm của ông không đồng ý thanh
toán công sức theo yêu cầu của M. Ông H cũng không yêu cầu Tòa án giải
quyết về phần tài sản chung và công sức, nên HĐXX không xem xét.
[5]. Về nghĩa vụ chung về tài sản: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải
quyết, nên HĐXX không xem xét.
[6]. Về án phí: Nguyên đơn người dân tộc tiểu số, sống vùng đặc biệt
khó khăn, đơn xin miễn án phí, nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án
phí.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
quan điểm đề nghị Tòa án xem xét cho chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn về việc xin ly hôn là phù hợp.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có quan
điểm đề nghị Tòa án xem xét cho không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn để cho hai bên cơ hội về đoàn tụ, nếu HĐXX cho hai bên ly hôn
thì đề nghị xem xét đến yêu cầu của M công sức và tài sản, yêu cầu là không
phù hợp với hiện trạng hôn nhân của hai bên, còn về yêu cầu công sức và tài sn
của bà M không có căn cứ nên không chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điu 56 ca Luật Hôn nhân gia đình, khoản 1 Điều 28; điểm a,
khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 của
Bộ luật T tụng n sự; Điểm đ khon 1 Điu 12 ca Ngh quyết s:
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hi quy
7
định v mc thu, min, gim, thu, np, qun và s dng án phí l phí Tòa
án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ông Hà Văn H được ly hôn Hoàng Thị M.
2. Về án phí: Miễn tin án phí ly hôn thẩm cho ông Văn H
người dân tộc tiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự mặt được quyền
kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Yên Lập;
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- UBND Mỹ Lương, huyện Yên Lập;
- Chi cục THADS huyện Yên Lập;
- Lưu HS;
- Lưu VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Lương Ngọc Dũng
Tải về
Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất