Bản án số 215/2025/KDTM-PT ngày 19/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 215/2025/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 215/2025/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 215/2025/KDTM-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 215/2025/KDTM-PT ngày 19/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về mua bán hàng hóa |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 215/2025/KDTM-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 215/2025/KDTM-PT
Ngày 21-7-2025
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hoá
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trí Dũng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tài
Bà Trần Thị Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nhân – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số
19/2025/TLPT-KDTM ngày 21 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 11/2025/KDTM–ST ngày 31
tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa
án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 06
năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 41/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 06 năm
2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S; địa chỉ: Số B, đường H, phường A, quận
B, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường A, thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1994;
địa chỉ liên hệ: Số B, đường H, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (nay
là phường A, thành phố Hồ Chí Minh) là nhân viên công ty, đại diện theo ủy
quyền của Công ty Cổ phần S theo Văn bản ủy quyền số 01/2024/UQ-DT1/PC
ngày 15/11/2024, có mặt.
2
2. Bị đơn: Công ty TNHH Một thành viên B; địa chỉ: K, tổ E, phường H,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1994;
địa chỉ: Số B, tổ B, khu B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là
phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) là người đại diện theo ủy quyền của Công
ty TNHH Một thành viên B theo Văn bản ủy quyền ngày 19/3/2025, có mặt
- Người kháng cáo: bị đơn Công ty TNHH Một thành viên B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty cổ
phần S trình bày:
Ngày 02/01/2023, Công ty cổ phần S (gọi tắt là Công ty S) và Công ty TNHH
Một thành viên B (gọi tắt là Công ty B) tiến hành ký kết Hợp đồng nguyên tắc số
0133/2023/HĐNT và các phụ lục 01, 02, 03, 04 về việc mua bán và phân phối sản
phẩm nhựa. Theo đó, nhân sự của hai bên sẽ kết nối với nhau thông qua hệ thống
DMS trên phần mềm SAP. Khi có nhu cầu đặt mua hàng, kế toán phụ trách của
Công ty B sẽ tải đơn hàng lên hệ thống, sau đó, nhân sự của Công ty S sẽ nhận
đơn hàng và tiến hành giao hàng cho Công ty B tại địa chỉ số D đường Đ, khu F,
phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do Công ty B là khách hàng lâu năm
của Công ty S nên Công ty S sẽ giao hàng trước và nhận thanh toán sau đó theo
mức định mức nợ tối đa là 2.800.000.000 đồng, tương đương với số ngày nợ là
30 ngày. Nếu công nợ phát sinh hơn định mức thì Công ty B phải thanh toán
chuyển khoản trước khi Công ty S giao hàng cho Công ty B. Nếu sau 15 ngày mà
Công ty B không tiếp tục nhập hàng thì Công ty S sẽ thu hết định mức nợ. Công
ty B sẽ thanh toán dần số công nợ phát sinh cho Công ty S và sẽ được trừ dần cho
các hóa đơn theo thứ tự thời gian, hóa đơn nào phát sinh trước thì thanh toán trước.
Đến ngày 06/5/2023, số công nợ vượt hạn mức khá nhiều nên Công ty S đã
yêu cầu Công ty B thanh toán một phần công nợ trước khi phát sinh đơn hàng
mới. Tuy nhiên, Công ty B chỉ thanh toán được một phần khoản nợ vào ngày
08/5/2023. Sau đó, đại diện Công ty S đã nhiều lần liên hệ nhưng đại diện Công
ty B liên tục trì hoãn và không thanh toán số công nợ vượt hạn mức.
Căn cứ vào sự thống nhất của hai bên, ngày 17/5/2023, Công ty S đã gửi
thông báo về việc thanh lý hợp đồng, kiểm tra hàng tồn kho và đối chiếu công nợ
cho Công ty B. Sau đó, hai bên đã tiến hành kiểm kê và trừ các khoản do hàng bể,
cùng với tiền hỗ trợ admin Nhà phân phối, tương ứng với số tiền 431.248.980
đồng. Ngày 27/6/2023, hai bên lập Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ, theo
đó, số tiền Công ty B còn nợ Công ty S là 2.713.903.031 đồng. Ngày 26/7/2023,
Công ty B có gửi công văn đề nghị được thanh toán phần công nợ còn lại thành
06 đợt, mỗi đợt cách nhau 02 tháng và số tiền phải thanh toán mỗi đợt là
3
500.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó, Công ty B cũng không thực hiện bất kỳ
khoản thanh toán nào theo như đề xuất.
Nay Công ty S khởi kiện yêu cầu Công ty B phải thanh toán số tiền nợ gốc
mua hàng là 2.713.903.031 đồng và tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm
tính từ ngày 28/6/2023 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm (ngày 31/3/2025) là
473.033.000 đồng. Tổng số tiền yêu cầu là 3.191.097.031 đồng.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty TNHH Một
thành viên B trình bày:
Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý, đề nghị
Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vẫn giữ các yêu cầu và ý kiến đã trình
bày. Về phía bị đơn đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền công nợ là
2.713.903.031 đồng với điều kiện nguyên đơn phải cử nhân viên giám sát hỗ trợ
cho bị đơn bán hàng; về tiền lãi chậm thanh toán thì bị đơn không chấp nhận.
Bản án sơ thẩm số 11/2025/KDTM–ST ngày 31/3/2025 của Tòa án nhân dân
thành phố T, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S với bị
đơn Công ty TNHH Một thành viên B về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa”.
Công ty TNHH Một thành viên B có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ
phần S tổng số tiền là 3.191.097.031 đồng (Ba tỷ một trăm chín mơi mốt triệu
không trăm chín mươi bảy nghìn không trăm ba mươi mốt đồng); trong đó: số tiền
nợ gốc là 2.713.903.031 đồng (Hai tỷ bảy trăm mười ba triệu chín trăm lẽ ba nghìn
không trăm ba mươi mốt đồng) và tiền lãi chậm thanh toán là 477.194.000 đồng
(Bốn trăm bảy mươi bảy triệu một trăm chín mươi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bên được thi hành án có đơn yêu
cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên thì còn
phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, kháng nghị.
Ngày 14/4/2025, bị đơn Công ty TNHH Một thành viên B kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ý kiến đại diện ủy quyền của bị đơn: Chấp nhận thanh toán số tiền nợ gốc là
2.713.903.031 đồng với điều kiện nguyên đơn phải thu hồi hàng tồn kho với tổng
giá trị 3.164.719.946 đồng để cấn trừ với công nợ của nguyên đơn hoặc đề nghị
trả dần số nợ gốc định kỳ hai tháng 500.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ. Về
tiền lãi chậm trả thì bị đơn không chấp nhận thanh toán.
Ý kiến đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Nguyên đơn không chấp nhận ý
kiến kháng cáo của bị đơn vì tại thời điểm hai bên đối chiếu công nợ thì bị đơn
4
không còn hàng tồn kho, bị đơn đã nợ quá lâu nên không chấp nhận gia hạn nợ,
đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan
điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người
tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
- Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện bị đơn thống nhất trả nợ gốc
cho nguyên đơn nhưng đề nghị thu hồi hàng tồn kho, khấu trừ lại nợ gốc và xin
gia hạn trả nợ, xin không trả lãi nhưng không được nguyên đơn chấp nhận nên
không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại
phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự,
ý kiến của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn Công ty S yêu cầu bị đơn Công ty B phải thanh toán số tiền
nợ mua hàng hóa là các sản phẩm nhựa với số tiền là 2.713.903.031 đồng. Nguyên
đơn cung cấp được chứng cứ chứng minh là Hợp đồng nguyên tắc ngày
02/01/2023, các phiếu xuất hàng được bị đơn xác nhận khối lượng hàng hóa đã
nhận các hóa đơn giá trị gia tăng; Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ ngày
27/6/2023; Công văn không đề ngày tháng của Công ty B về việc thanh toán công
nợ cho Công ty S.
Theo Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ ngày 27/6/2023 Công ty B do
bà Trần Thị N là người đại diện theo pháp luật, Chủ tịch Công ty xác nhận số tiền
còn nợ Công ty S tính đến ngày 27/6/2023 là 2.713.903.031 đồng. Đồng thời, theo
Công văn về việc thanh toán công nợ cho Công ty S thì Công ty TNHH Một thành
viên B xác nhận số tiền công nợ với Công ty S là 2.713.903.031 đồng và đề xuất
thanh toán tiền công nợ thành 06 đợt, cụ thể: tháng 11/2023; tháng 02/2024; tháng
04/2024; tháng 06/2024; tháng 09/2024 mỗi đợt thanh toán 500.000.000 đồng và
tháng 11/2024 thanh toán phần còn lại là 213.903.031 đồng. Tuy nhiên, sau đó,
Công ty B đã không thực hiện việc thanh toán theo cam kết cho Công ty S, dẫn
đến hai bên phát sinh tranh chấp. Đồng thời, khi lập Biên bản đối chiếu và xác
nhận công nợ ngày 27/6/2023 thì Công ty B xác định không có hàng tồn. Vì vậy,
bị đơn kháng cáo yêu cầu nguyên đơn phải phải thu hồi hàng tồn kho với tổng giá
trị 3.164.719.946 đồng để cấn trừ nợ hoặc trả dần số nợ gốc định kỳ hai tháng
500.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ mà không thoả thuận được với nguyên
đơn là không có cơ sở chấp nhận.
[2] Về tiền lãi chậm thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền
lãi chậm trả tính từ ngày 28/6/2023 (ngày đối chiếu công nợ) đến ngày Tòa án xét
5
xử sơ thẩm (ngày 31/3/2025), với mức lãi suất là 10%/năm. Cụ thể: từ ngày
28/6/2023 đến ngày 31/3/2025 là 21 tháng 03 ngày x 10%/năm x 2.713.903.031
đồng = 477.194.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là phù hợp
quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại; Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-
HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng
dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, thấp hơn
so với mức lãi trung bình theo kết quả xác minh các ngân hàng, có lợi cho bị đơn
nênkhông có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn về việc không thanh toán lãi
quá hạn.
[3] Từ những cơ sở nhận định nêu trên, xét kháng cáo của bị đơn là không
có căn cứ chấp nhận, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản
án sơ thẩm là phù hợp.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308, 313 của Bộ luật Tố tụng dân
sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Một thành viên
B.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/KDTM–ST ngày
21/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án
nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty TNHH Một thành viên
B phải chịu 2.000.000 đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp
2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0001787 ngày 21/4/2025 của Chi cục Thi hành án thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh
Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15;
- TAND khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí
Minh;
- Các đương sự (để thi hành);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
6
- Lưu: VT(1), Hồ sơ.
Phan Trí Dũng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm