Bản án số 180/2019/HS-PT ngày 30/12/2019 của TAND tỉnh Bắc Giang về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 180/2019/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 180/2019/HS-PT ngày 30/12/2019 của TAND tỉnh Bắc Giang về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Giang
Số hiệu: 180/2019/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/12/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.
Các thm phán: Ông Hà Văn Nâu.
Trn Th Hà.
Thư Toà án ghi biên bản phiên toà: Thị Tố Hoa - Cán bộ Toà án
nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Dương Thị Hồng
Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 30/12/2019, tại trụ sở Toà án nhân n tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa
công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ số: 267/2019/TLPT-HS ngày
02/12/2019, đối với bị cáo Lưu Văn M, do có kháng cáo của bị cáo Lưu Văn M đối
với bản án hình sự thẩm số: 69/2019/HS-ST ngày 03/10/2019 của Tòa án nhân
dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Văn M, sinh năm 1987. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn K, xã T, huyện L, tỉnh B.
Dân tộc: Nùng. Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm
ruộng. Trình độ văn hoá: Lớp 01/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.
Bố đẻ: Lưu Văn T, sinh năm 1966.
Mẹ đẻ: Lăng Thị N, sinh năm 1967.
Vợ: Nịnh Thị Đ, sinh năm 1986.
Con: Bị cáo có 01 con (sinh năm 2009).
Anh, chị em ruột: Có 03 chị em, bị cáo là thứ 01.
Tiền án: Tại Bản án hình sự số 14/2018/HSST ngày 13/3/2018 của Tòa án
nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xphạt Lưu Văn M 06 tháng về tội
“Trộm cắp tài sản". Ngày 08/9/2018 Lưu Văn M chấp hành xong nh phạt tù về
địa phương. Tính đến thời điểm phạm tội mới Lưu Văn M chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú, hiện ti
ngoại ( Có mt tại phiên tòa).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 180 /2019/ HS - PT.
Ngày: 30 -12 - 2019.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
2
Trong vụ án còn 03 người bị hại 03 người quyền nghĩa vụ liên
quan không kháng o, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không
kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG V ÁN
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Bo Lưu Văn M, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã T, huyện L là người đã
01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Trong khoảng thời
gian từ ngày 08/03/2019 đến ngày 09/5/2019, M đã 03 lần thực hiện hành vi trộm
cắp tài sản ở thôn K, xã T, huyện L, cụ thể như sau:
Ln th nht: Khoảng 16 gi, ngày 08/03/2019, Lưu n M đi b mt
mình t tn P xã T v nhà mình. Khi đi v đến khu vc n anh Png Văn
Đ, sinh năm 1983 cùng thôn, quan sát thy n anh Đ cửa mở nhưng không
có ai n, M ny sinh ý đnh vào nhà anh Đ đ trm cp tài sn. M đi vào
nhà anh Đ, m ca bếp đi vào bên trong thy có 01 chiếc máy khoan bê tông
màu vàng, nn hiệu Dawer và 01 chiếc đầu nén của y phun thuc tr sâu
nhãn hiu AMAXGOLD, màu n xanh, bc trong bếp. M bê chiếc đu nén
phun thuc tr sâu và chiếc máy khoan v nhà mình ri ly xe mô tô ch
chiếc đầu nén và chiếc máy khoan trộm cp được đến cửa hàng mua bán đin
nưc của ch Trịnh Thị Sáu, sinh m 1978, trú tại thôn Tri Mi, xã Giáp
Sơn, huyn Lục Ngạn bán chiếc đầu nén và chiếc máy khoan tông cho chị
Sáu được s tiền 800.000 đồng. S tin bán tài sản trộm cắp được M đã chi
tiêu cá nhân hết. Sau khi mua chiếc đu nén phun thuc trsâu và chiếc máy
khoan bê tông của M, ch Sáu đã sa cha lại rồi bán cho mt người kng rõ
tên tuổi, đa ch.
Ln th 2: Khong 12 gi ngày 30/4/2019, Lưu n M điều khin xe
mô tô đến ca hàng bán tp hóa ca gia đình chị Nông Th T1, sinh năm 1990
thôn K, T, huyện L đ mua hàng. Khi đến qn của gia đình ch T1, lúc
này ch T1 đang bán hàng cho khách và có đ 01 chiếc đin thoi nhãn hiu
HUAWEI, màu ng bàn trong quầy n hàng đ sc pin. Lợi dụng c chị
T1 không đ ý, M đã đi đến ch đ đin thoi của chị T1 ri ng tay rút y
sc pin ra rồi cm chiếc đin thoi đút o túi qun sau đó ra xe máy đi v
nhà mình. Khi v đến nhà M cất chiếc đin thoi trm cp đưc vào trong t
ca gia đình.
Ln th 3: Khong 15 gi ngày 09/5/2019, Lưu Văn M đi b t nhà
đến khu vườn của anh Png Trung T2, sinh năm 1988, cùng tn mc đích
đ xem thy có tài sản sơ h t trm cắp. Khi đến i thấy ngôi nhà trong
3
vưn khóa cửa, không có ai đó. M đi đến chca s thấy có 01 chiếc ca
khóa đ đó. M lấy chiếc chìa khóa mca chính t m được. M đi vào bên
trong nhà thy có 01 chiếc máy phát c, nhãn hiu OSHIMA, màu đ, M bê
chiếc máy đó mang đến nhà anh Gp n Cn, sinh năm 1977, trú tại thôn
Mòng B, xã Tân Sơn gbán cho anh Chín nhưng anh Chín không mua. M gửi
chiếc máy pt ctrộm cắp được li n anh Chín và nh anh Chín xem có ai
mua t bán h. My ngày hôm sau anh Chín có đến nhà anh Giáp Văn Văn,
sinh năm 1989, trú tại thôn Mòng B, xã Tân Sơn, huyện Lục Ngn chơi.
Trong lúc ngi nói chuyn thì anh Chín có i chuyn vi anh n về vic M
có 01 chiếc máy phát cỏ gi n anh mun bán, nếu anh Văn muốn mua t
sang nhà anh xem. Sau đó anh Chín và anh Văn đi v n anh Chín đ xem
chiếc máy phát c mà M gi nhà anh Chín, xem xong thì anh Văn điện
thoi cho M đến nhà anh Chín đ tha thuận vic mua bán. Một lúc sau M
đến nhà anh Chín thỏa thun bán chiếc máy phát c cho anh Văn với giá
300.000 đng. Anh n đã trả cho M s tin 300.000 đồng gi li chiếc
máy phát c nhà anh Chín ri đi v nhà. Stiền trên M đã chi tu cá nhân
hết.
Tại c bản Kết luận định giá tài sản số 102, 103, 104/KL-HĐ cùng ngày
25/6/2019 của Hội đồng định gtài sản trong tố tụng huyện Lục Ngạn xác định trị
giá 01 chiếc máy nén của máy phun thuốc trừ sâu, nhãn hiệu AMAXGOLD; 01
máy khoan tông nhãn hiệu Dawer của gia đình anh Phùng Văn Đ thời điểm
chiếm đoạt 2.400.000 đồng; 01 chiếc máy phát cỏ nhãn hiệu OSHIMA, màu đỏ
của gia đình anh Phùng Trung T2 trị giá ở thời điểm chiếm đoạt là 1.820.000 đồng;
01 chiếc điện thoại nhãn hiệu HUAWEI của chị Nông Thị T1 trị giá thời điểm
chiếm đoạt là 800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 5.020.000đồng.
Cáo trạng số 80/CT-VKS-HS ngày 19/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Lưu Văn M, phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo
quy đinh khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự.
Bản án nh sự thẩm số: 69/2019/HS-ST ngày 03/10/2019 của Tòa án
nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Áp dụng khon 1 Điều 173; điểm s khon 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52;
Điều 38 Bluật hình s năm 2015.
Tuyên bố. Bcáo u Văn M phạm ti "Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lưun M 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày
bắt bị cáo để thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhim bồi thường dân sự, Truy thu số
tiền bị cáo M bán chiếc xe mô tô s dng đ vn chuyn tài sn trộm cp,
4
án phí, quyền yêu cầu Thi hành án, lãi suất chậm thi hành án quyền kháng cáo
theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 11 /10 /2019 bị o Lưu n M nộp đơn
kháng cáo với nội dung đề nghị Tphúc thẩm xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm bo Lưu n M vẫn ginguyên yêu cầu kháng
cáo với lý do: Toà sơ thẩm xét xử bị cáo mức hình phạt 18 tháng tù là nặng so với
hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau
khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội do bcáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhim hình sự đối với
bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo bị cáo nêu ra đề nghHội
đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật ttụng hình sự
không chấp nhận kháng cáo của bị cáo u Văn M, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị
cáo Lưu Văn M không phải chiu án phí hình sự phúc thẩm vì bị cáo là hộ nghèo.
Bị cáo Lưu Văn M tranh luận: Mức án Toà thẩm xử phạt bị cáo 18 tháng
tù là nặng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đối đáp của đại diện VKS: Toà cấp thẩm căn cứ vào tính chất, mức độ,
hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tách
nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 18 tháng căn cứ, tương xứng với hành vi
phạm tội không nặng đối với bị cáo.
Kết thúc tranh luận các bên giữ nguyên quan điểm của mình.
Bị cáo bị cáo Lưu Văn M nói lời sau cùng: không có ý kiến gì.
NHẬN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vnh hp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của b cáo u Văn
M đã đưc làm trong thi hn kháng cáo gửi đến Tòa án nhân dân huyn Lng
Giang, tnh Bắc Giang theo đúng quy định ti khoản 1 Điều 333 B lut t tng
hình s nên được coi đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhn xem xét gii
quyết đơn kháng cáo của b cáo theo trình t phúc thm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Lưu Văn M thì thấy: Trong khoảng thời gian t
ngày 08/03/2019 đến ngày 09/5/2019, bị cáo Lưu Văn M đã 03 lần thực hiện hành
vi trộm cắp i sản gồm: 01 chiếc máy khoan bê tông màu vàng, nhãn hiu
Dawer, 01 chiếc đu nén ca máy phun thuốc tr sâu nhãn hiu
AMAXGOLD, màun xanh bc tr giá 2.400.000 đồng ca gia đình anh
5
Phùng Văn Đ; 01 chiếc điện thoi nhãn hiu HUAWEI màu vàng, tr giá
800.000 đng ca chị Nông Thị L; 01 chiếc máy pt c, nhãn hiu
OSHIMA, màu đỏ, tr giá 1.820.000 đng ca gia đình anh Phùng Trung T2.
Tng g tr tài sản 03 ln bị cáo M trm cắp là 5.020.000 đng.
Như vậy hành vi của u Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài
sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ những nội dung tn
án thẩm t xử bị cáo Lưu Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều
173 của Bộ luật Hình s năm 2015, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
oan sai.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Lưu Văn M thấy: Tại phiên tòa, bị cáo
chỉ yêu cầu kháng cáo xin giảm nh phạt nên c vấn đề khác của án thẩm
có hiệu lc pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra giải quyết.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo tthấy: Án thẩm
xác định bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 2 lần trở lên và i phạm theo quy
định tại điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bluật hình sự năm 2015, là có căn cứ.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s: Án thẩm xác định trong quá
trình điều tra truy tố xét xử, bị cáo thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải,
nên được hưởng tình tiết giảm nhtch nhiệm nh sự quy định tại điểm s khoản 1
Điều 51 B luậtnh sm 2015, là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bcáo u Văn M nguy hiểm cho hội, xâm phạm
đến quyền shữu i sản đưc pháp luật bảo vệ. Chỉ lợi ích trước mt bcáo đã
lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây
hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải xử nghiêm bịo
bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Việc
truy tố, xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp i sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Án thẩm
xử phạt bị o M với mức án 18 ( Mười tám ) tháng tương xứng với hành vi
phạm tội, không nặng đối với bị cáo.
Tại quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được các tình tiết
mới, do vậy không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét đối với kháng cáo của b
cáo, cần giữ nguyên án thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên
toà là có căn cứ.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do bị cáo u Văn M thuộc diện hộ nghèo
nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ
ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Toà án.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
6
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
[1]. Không chấp nhận kháng o của bị cáo Lưu Văn M, giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Tuyên bố bo u Văn M phạm ti: "Trộm cắp i sản”.
Áp dụng khon 1 Điều 173; điểm s khon 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52;
Điều 38 Bluật hình s năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lưun M 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày
bắt bị cáo để thi hành án.
[2]. Án phí hình sự phúc thẩm: Miễn tiền án phí hình sự phúc thẩm cho b
cáo Lưu Văn M.
[3] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
- Cổng thông tin điện tử Tòa án;
- Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
- CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu HS, HCTP;
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Gia Lương
Tải về
Bản án số 180/2019/HS-PT Bản án số 180/2019/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất