Bản án số 16/2018/HNGĐ-ST ngày 03/05/2018 của TAND huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2018/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 16/2018/HNGĐ-ST ngày 03/05/2018 của TAND huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về ly hôn
Quan hệ pháp luật: 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Châu Đức (TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
Số hiệu: 16/2018/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/05/2018
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA-NG TÀU
Bản án số: 16/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 03-5-2018
“V/v Ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Trọng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hạnh.
2. Ông Bùi Huy Xuân.
-Thư phiên tòa: Thị Hoài Nam - Thư Tòa án nhân dân huyện
Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Rịa - Vũng
Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét
xthẩm công khai vụ án thụ số 68/2018/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm
2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
19/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện
Châu Đức giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1974.
HKTT: Tổ 13, ấp BĐ, xã BB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Chỗ hiện nay: Tổ 04, kp 2, thị trấn NG, huyện Châu Đức, tỉnh Rịa-Vũng
Tàu.
- Bị đơn: Anh Phạm Hùng C, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Tổ 13, ấp BĐ, xã BB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
(Chị Ch anh C vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết, nguyên đơn, chị Nguyễn
Thị Ch, trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được khoảng 01 m thì chị Ch anh C
mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên sở tự nguyện, tổ chức lễ cưới đăng
kết hôn ngày 21 tháng 7 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn NG,
huyện Châu Đức, tỉnh Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống
với mẹ chồng được 03 tháng thì mẹ chồng cho ra sống riêng. Trong thời gian sống
chung với mẹ chồng thì cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng sau khi ra sống
riêng thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn
nhưng anh C lại không lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu rồi về kiếm cớ, gây gổ,
đánh đập chị Ch. Đến đầu năm 2015 không thể tiếp tục chịu đựng nên vợ chồng
ly thân. Trong thời gian này chị Ch cũng đã nhiều lần cho anh C hội đv
chồng đoàn tụ, lo cho con chung nhưng anh C vẫn sửa đổi. Nay, chị Ch yêu cầu
Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Chị Ch xin được ly hôn với anh C.
Về nuôi con chung: Chị Ch anh C 01 người con chung Phạm Hùng
D, sinh ngày 14-6-2012.
Chị Ch nguyện vọng xin được quyền nuôi cháu D không yêu cầu anh
C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết, bị đơn anh Phạm Hùng C, trình bày: Anh C
thống nhất với trình bày của chị Ch về thời gian, điều kiện kết hôn, con chung, tài
sản chung, nợ chung. Theo anh C nguyên nhân mâu thuẫn do anh C không
nghề nghiệp ổn định, thu nhập bấp bênh từ đó cuộc sống gia đình rất chật vật nên
vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh C thừa nhận có uống rượu nhưng vẫn cố
gắng làm việc để lo cho gia đình nhưng chị Ch không thông cảm, chia sẽ mà ngược
lại bỏ mặc anh C. Đến đầu năm 2015 thì chị Ch yêu cầu anh C phải ra ngoài thuê
nhà để sống nên từ đó vợ chồng ly thân cho đến nay. Anh C xét thấy tình cảm vợ
chồng vẫn còn hơn nữa anh C người theo đạo Công giáo nên không muốn ly
hôn. Trường hợp chị Ch vẫn cương quyết ly hôn thì anh C đồng ý theo yêu cầu của
chị Ch về quyền nuôi dưỡng con chung.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Tphiên tòa, nguyên đơn, bđơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng t xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
của nguyên đơn.
Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Hùng D, sinh ngày 14-6-2012 cho chị
Ch được quyền nuôi dưỡng; Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ch không yêu cầu anh
C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung: Chị Ch và anh C không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Ch anh C sống chung với nhau đăng kết hôn
nay chị Ch yêu cầu ly hôn nên đây tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi
trú của anh C BB, huyện Châu Đức, tỉnh Rịa-Vũng u n Tòa án nhân
dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản
1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Ch, anh C vắng mặt nhưng đã đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt
nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều
228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Ch anh C trên sở hoàn toàn tự
nguyện đăng kết hôn vào ngày 21 tháng 7 năm 2010 tại UBND thị trấn
NG, huyện Châu Đức, tỉnh Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung
sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do kinh tế
khó khăn, giữa vợ chồng không sự quan tâm, chia sẽ, thông cảm trong cuộc
sống. Ngoài ra, anh C thường hay uống rượu rồi kiếm cớ, gây gổ với chị Ch. Từ
đầu năm 2015 thì vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân thì chị
Ch anh C đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng kết quả. Sau khi thụ vụ án,
Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vchồng có hội hàn gắn tình cảm nhưng
chị Ch không đồng ý đoàn tụ tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy, tình trạng
hôn nhân giữa chị Ch anh C ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn
nhân và gia đình xử cho chị Ch được ly hôn với anh C.
[3] Về nuôi con chung: Chị Ch anh C 01 người con chung Phạm
Hùng D, sinh ngày 14-6-2012. Chị Ch và anh C thỏa thuận chị Ch người trực
tiếp nuôi con trong trường hợp vợ chồng phải ly hôn anh C không phải cấp
dưỡng nuôi con chung. Xét sthỏa thuận này không trái pháp luật, không trái đạo
đức hội nên cần áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình ghi nhận
sự thỏa thuận này của các đương sự.
[4] Về chia tài sản chung: Chị Ch và anh C không yêu cầu nên Tòa án không
xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Ch phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự
sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án.
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Hùng C.
2.Về nuôi con chung:
Chị Nguyễn Thị Ch anh Phạm Hùng C 01 người con chung là Phạm
Hùng D, sinh ngày 14-6-2012;
Giao con chung Phạm Hùng D, sinh ngày 14-6-2012 cho chị Nguyễn Thị Ch
trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Ch không yêu cầu anh Phạm
Hùng C cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Phạm Hùng C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không
trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định
tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình, Tòa án thể quyết định thay đổi
người trực tiếp nuôi con.
3.Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ch phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án
phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị Ch đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
TU/2017/0000869 ngày 14 tháng 3 năm 2018; Chị Nguyễn Thị Ch đã nộp xong án
phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.
Thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03-5-2018), đối với chị
chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Hùng C vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân
dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
-TAND tỉnh BR-VT;
-VKSND H.Châu Đức;
-Chi cục THA Dân sự H.Châu Đức;
-UBND TT NG;
-Các đương sự;
-Lưu HS.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Đào Trọng Hải
Tải về
Bản án số 16/2018/HNGĐ-ST Bản án số 16/2018/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất