Bản án số 12/2021/HS-ST ngày 15/01/2021 của TAND TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 12/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 12/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 12/2021/HS-ST ngày 15/01/2021 của TAND TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Tây Ninh (TAND tỉnh Tây Ninh) |
| Số hiệu: | 12/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/01/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 12/2021/HS - ST.
Ngày: 15-01-2021.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ánh Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Tấn Phát;
2. Bà Đào Thị Duyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Vinh, Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây
Ninh tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Oanh, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số
172/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 181/2020/QĐXXST-HS ngày31 tháng 12 năm 2020 đối
với:
- Bị cáo:
Nguyễn Ngọc T, tên gọi khác: Tý, sinh năm 1986, tại Tây Ninh. Nơi
đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp G, xã B, T phố T,
tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không. Con
ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960, trú tại:
ấp G, xã B, T phố T, tỉnh Tây Ninh. Anh, chị, em ruột: 03 người. Vợ, con:
Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân:
+ Tại Bản án số 03/STHS ngày 03.01.2002 của Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 4 Điều 112, điểm g khoản 1 khoản 2 Điều
46, Điều 47, Điều 69 và Điều 74 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 07
năm tù về tội: “Hiếp dâm trẻ em”, thời hạn thụ hình tính từ này 20-9-2001;
đến nay bị cáo đã được xóa án tích.
+ Tại Bản án số 106/2008/HSST ngày 26-8-2008 của Tòa án nhân
dân thị xã Tây Ninh (nay là T phố Tây Ninh), tỉnh Tây Ninh áp dụng
khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều
2
48 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T (tự Tý) 15 tháng tù
về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời hạn thụ hình tính từ ngày 03-6-2008; đến
nay bị cáo đã được xóa án tích.
+ Tại Bản án số 78/2009/HSST ngày 26-11-2009 của Tòa án nhân
dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138,
điểm g, p khoản 1Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn
Ngọc T (tự Tý) 30 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời hạn thụ hình
tính từ ngày 25-8-2009; đến nay bị cáo đã được xóa án tích.
+ Tại Bản án số 42/2014/HSST ngày 24-4-2014 của Tòa án nhân
dân T phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh áp dụng Điều 20, 33, 45, 53; điểm c
khoản 2 Điều 138, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự,
xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T (tự Tý) 03 năm tù giam về tội: “Trộm cắp
tài sản”, thời hạn thụ hình tính từ ngày 12-01-2014; đến nay bị cáo đã
được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 25-10-2020, chuyển tạm giam từ ngày 31-
10-2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Đỗ Ngọc C, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp G, xã B, T phố
T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 13/8/2020 Nguyễn Ngọc T đến nhà anh
Nguyễn Văn L, sinh năm 1982, ngụ ấp G, xã B, T phố T, tỉnh Tây Ninh
nhậu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T đi về. Khi đi ngang nhà chị Đỗ
Ngọc C, sinh năm 1983, ngụ ấp G, xã B, T phố T, tỉnh Tây Ninh, T nhìn
thấy trước cửa nhà chị Chi có 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số
70D1-571.50 không có người trông coi, có sẵn chìa khóa trên xe nên nảy
sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. T đến đẩy xe mô tô trên
ra đường khoảng 03m rồi nổ máy chạy đi. Khi đi đến khu vực nghĩa trang
thuộc xã Bình Minh, T phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh thì bị anh Nguyễn
Văn L, sinh năm 1976 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; cùng ngụ ấp
Thanh Đông, xã Thanh Điền, huyện Châu T, tỉnh Tây Ninh phát hiện, T
bỏ xe lại và chạy bộ về nhà, đến ngày 25/10/2020 thì bị Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an T phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bắt giữ.
Tại Kết luận định giá tài sản số 49/KLĐG-TTHS ngày 29/10/2020
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND T phố Tây
Ninh, tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 xe mô tô hai bánh hiệu Honda, số loại
Wave, dung tích 109,1 biển số 70D1- 571.00, đã qua sử dụng trị giá
11.500.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 173/CT-VKS.TPTN ngày 30 tháng 11 năm
2020 của Viện kiểm sát nhân dân T phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố bị

3
cáo Nguyễn Ngọc T về tội : “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1
Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát trình
bày luận tội, giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng
tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại chị Đỗ Ngọc C đã nhận
lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.
Bị cáo không tham gia tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ
hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án
đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T
phố Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân T phố Tây Ninh,
Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo
không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện
đều hợp pháp.
[2] Hành vi của bị cáo thể hiện: Để có tiền tiêu xài cá nhân, ngày
13-8-2020, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã lén lút lấy trộm của chị Đỗ Ngọc C
01 xe mô tô hiệu Honda, số loại Wave, dung tích 109,1 biển số 70D1-
571.00, đã qua sử dụng. Tại Kết luận định giá tài sản số 49/KLĐG-TTHS
ngày 29/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự -
UBND T phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 xe mô tô hai bánh hiệu
Honda, số loại Wave, dung tích 109,1 biển số 70D1- 571.00, đã qua sử
dụng trị giá 11.500.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào
tội: “Trộm cắp tài sản” , tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1
Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét thấy, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc T là nguy
hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của
người khác, bị cáo là người có đầy đủ sức khỏe, nhận thức được hành vi
của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã có 03
tiền án về trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không có ý thức sửa sai, không tu
chí làm ăn mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện thái độ
xem thường pháp luật, gây mất trật tự trị an địa phương nên cần xét xử
nghiêm, cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội

4
một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo
công tác phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp ổn
định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt
tiền đối với bị cáo.
[4] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc T thống nhất với tội danh mà
Viện kiểm sát truy tố, đồng ý với kết luận định giá tài sản và thừa nhận
hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị truy tố là không oan.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo T về
tội: “Trộm cắp tài tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là
có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã T khẩn khai
báo, ăn năn, hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được
quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo đã
từng có 01 tiền án về tội: “Hiếp dâm trẻ em” và 03 tiền án về tội: “Trộm
cắp tài sản”, tính đến nay bị cáo đã được xóa án tích.
[6] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 48 của Bộ luật
Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại chị Đỗ Ngọc C đã nhận lại
tài sản là 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 70D1- 571.00. Chị Đỗ
Ngọc C không yêu cầu gì thêm.
[7] Xét lời luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
T phố Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu
200.000 đồng;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T (Tý) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”,
xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày 25-10-2020 .
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 48 của Bộ luật Hình
sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại chị Đỗ Ngọc C đã nhận lại
tài sản là 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 70D1- 571.00. Chị Đỗ
Ngọc C không yêu cầu gì thêm.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
5
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Ngọc T (Tý) phải
chịu 200.000 đồng;
4. Về quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xử công khai, bị cáo có quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại
phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được
tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tây Ninh; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TPTN; (Đã ký)
- Đội ĐTTP về TTATXH;
- Phòng PV 06 CA tỉnh Tây Ninh;
- CC THADS TPTN, THAHS;
- Công an TPTN;
- Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh
- Trại tạm giam; Lê Thị Ánh Tuyết
- Bị cáo;
- Những người TGTT khác; Lưu.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng