Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT ngày 21/01/2026 của TAND TP. Cần Thơ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT ngày 21/01/2026 của TAND TP. Cần Thơ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 10/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/01/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả nợ chung, do nguyên đơn đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ trước cho bên thứ 3
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN T
Bản án số: 10/2026/HNGĐ - PT
Ngày 21 - 01 - 2026
“V/v Yêu cầu Tòa án không công
nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp
về nuôi con của nam, nữ chung
sống với nhau như vợ chồng
không đăng kết hôn tranh
chấp về chia tài sản chung”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng
Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Quốc
Bà Lê Thị Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Lưu Thị Kim
Chúc - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ số
68/2025/TLPT HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025 về việc V/v Yêu cầu Tòa
án không công nhận quan hvợ chồng, tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung
sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và tranh chấp về chia tài
sản chung”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình thẩm số 72/2025/HNGĐ - ST, ngày 23
tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1022/2025/QĐ-PT ngày
31 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc H, sinh ngày 01/01/1982; (Có mặt)
Căn cước công dân số: 094182009855; cấp ngày 08/7/2022; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: ấp T, xã A, thành phố Cần Thơ.
2
2. Bị đơn: Ông Trần Minh T, sinh ngày 01/01/1978; (Có mặt)
Căn cước công dân số: 094078017263; cấp ngày 12/02/2022; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: ấp P, xã C, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Minh T:
Ông Lý B Luật sư Văn phòng L, Đoàn Luật sư thành phố C. (Có mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã H, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Mai Kim V (Mai Thị Kim V). (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã C, thành phố Cần Thơ.
3.2. Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 01/01/1983; (Có mặt)
Căn cước công dân số: 094183001976; cấp ngày 26/04/2021: Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: ấp P, xã C, thành phố Cần Thơ.
3.3. Ngân hàng C1.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Trường G Chức vụ: Giám đốc
Phòng G1.
Địa chỉ phòng giao dịch: ấp P, xã A, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Huỳnh Thị Ngọc H; bị đơn ông Trần Minh
T; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm các tài liệu trong hồ thì nội dung vụ án như
sau:
Nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Ngọc H trình bày:
Về hôn nhân: Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận quan hệ giữa bà H
và ông Trần Minh T không phải là vợ chồng.
Về con chung: H yêu cầu được nuôi con chung tên Trần Huỳnh Minh T2,
sinh ngày 20/12/2009 cho đến khi Minh T2 thành niên, H yêu cầu ông T
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Trần Huỳnh Minh T2, sinh ngày
20/12/2009 cho đến khi Minh T2 thành niên, cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000
đồng. Còn Ngọc M đã thành niên không mắc bệnh tật gì nên bà H không yêu cầu
xem xét giải quyết.
Về i sản chung: H yêu cầu chia đôi phần tài sản chung phần đất
chiều ngang 16m, dài khoảng 54m và lối đi ra tỉnh lộ 933B, ngang 03m, dài 05m
3
có diện tích khoảng 879m
2
đất tọa lạc tại ấp P, C, thành phố Cần Thơ, ước tính
giá trị quyền sử dụng đất yêu cầu chia 100.000.000 đồng. Hiện nay tài sản do
ông T quản nên H yêu cầu ông T giao lại cho H 1/2 diện tích nêu trên
khoảng 439,5m
2
đất tọa lạc tại ấp P, xã C, thành phố Cần Thơ.
Về nợ chung: H yêu cầu chia đôi số nợ chung số tiền gốc còn nợ Chi
nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện C1 là 10.000.000 đồng.
Theo đơn khởi kiện bổ sung ngày 07/02/2025, bà Huỳnh Thị Ngọc H trình
bày như sau:
Tài sản chung: Trên phần đất tranh chấp còn có 01 căn nhà cột kê, kèo dừa,
mái xung quanh lộp cất (xây dựng) khoảng năm 2001, đến năm 2002 cất một
căn nhà khung cột sắt, mái lộp tôl, vách tớc dừng ván gỗ, vách hai bên sau
lưng lộp lá, 02 căn nhà này ông T đã tháo dỡ nên không còn nữa, căn nhà trên đất
khi Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ là do anh T tự xây dựng lại. Ngoài ra, còn
một số tài sản khác như: 01 (một) chiếc xe Dream không rõ nhãn hiệu, do mẹ
chồng và em chồng bán lại với giá 3.000.000 đồng. Mẹ chồng tên Thạch Thị H1,
em chồng tên Trần Minh C, cùng địa chỉ: ấp P, xã C, thành phố Cần Thơ; V1 đồng
hồ điện với số tiền khoảng 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng; 01 tivi trắng đen
không rõ nhãn hiệu; 01 thu băng (cassette) hiệu Sony; 01 đầu đĩa Calirornia; dàn
âm li, loa không rõ nhãn hiệu ông T vẫn sử dụng; 01 bộ ngựa (Đi văng) bằng gỗ
do mẹ chồng cho; 02 cái chõng (giường ngủ) bằng gỗ cây bạch đàn tự đóng; 01
bếp gas đôi không nhớ nhãn hiệu; 01 giếng khoan; đồ làm mộc (01 máy bào, 01
máy khoan điện mua khoảng năm 2000). H tạm tính số tài sản trên khoảng
30.000.000 đồng. Do tài sản ông T quản lý nên bà H tiếp tục giao tiếp cho ông T
quản lý, H yêu cầu chia đôi tài sản nêu trên. Bà H yêu cầu ông Trần Minh T có
nghĩa vụ trả lại cho H số tiền 15.000.000 đồng. Do 02 căn nhà ông T đã tự
tháo dỡ nên phải có nghĩa trả giá trị lại cho H đã tính trong số tiền yêu cầu
chia là 15.000.000 đồng).
Về nợ chung: Vào khoảng năm 2016 - 2017 khi ông T giao con cho H
nuôi mà ông T không có phụ cấp nên bà H có vay thêm của Ngân hàng C1 Chi
nhánh huyện C số tiền 20.000.000 đồng để nuôi con. Tổng cộng, nợ Ngân ng
số tiền là 30.000.000 đồng.
Nay bà H yêu cầu bổ sung như sau:
Về tài sản chung: H yêu cầu chia đôi tài sản chung khai bổ sung nêu
trên. Do tài sản ông T quản lý nên ông Trần Minh T tiếp tục giao tiếp cho ông T
quản lý, H yêu cầu ông Trần Minh T nghĩa vụ trả lại cho H số tiền
4
15.000.000 đồng. Do 02 căn nhà ông T đã tự tháo dỡ nên phải có nghĩa vụ trả lại
giá trị cho bà H đã tính trong số tiền yêu cầu chia là 15.000.000 đồng).
Về nợ chung: Bà H yêu cầu chia đôi nợ chung, H thống nhất trả ½ số tiền
vay gốc cho Ngân hàng C1 - Chi nhánh huyện C 15.000.000 đồng lãi suất
phát sinh trên số tiền đã chia. H yêu cầu ông Trần Minh T trả ½ số tiền vay
gốc cho Ngân hàng C1 - Chi nhánh huyện C 15.000.000 đồng và lãi phát sinh
trên số tiền đã chia.
Huỳnh Thị Ngọc H thống nhất theo kết quả đo đạc, xem xét thẩm định
tại chổ kết quả thẩm định giá Tòa án đã thực hiện, H không yêu cầu thực
hiện lại các thủ tục này.
Huỳnh Thị Ngọc H xác định, phần đất mà ông Trần Minh T mua của ông
Nguyễn Văn S (Xẻ) và ông Nguyễn Văn X (rể của ông Nguyễn Văn D) vào năm
nào thì bà H không biết, nhưng lúc đó bà H ông T không còn ở chung nữa, ông
T đã có vợ khác. Còn diện tích ông S (X1) ông X sang bán cho ông Trần Minh
T bao nhiêu thì bà H không rõ. Phần diện tích này không nằm trong phần đất mà
bà H và ông T đã mua từ trước.
Tại phiên tòa, H xin ý kiến về mức cấp dưỡng nuôi con, chỉ yêu cầu
ông T cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Minh T2 theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Trần Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông Trần Minh T đồng ý công nhận quan hệ giữa ông
Trần Minh T với bà Huỳnh Thị Ngọc H không phải là vợ chồng.
Về con chung: Con chung tên Trần Huỳnh Minh T2, sinh ngày 20/12/2009,
theo nguyện vọng của con muốn sống chung với ông Trần Minh T hay H
tùy cháu. Nếu cháu T2 chung sống với ông Trần Minh T, ông Trần Minh T không
yêu cầu H cấp dưỡng nuôi cháu T2 đến tròn 18 tuổi; cháu T2 muốn sống chung
với bà H thì ông Trần Minh T không đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu T2 đến tròn 18
tuổi. Còn Ngọc M đã thành niên không mắc bệnh tật nên không yêu cầu xem
xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Trong thời gian ông Trần Minh T và bà H sống
chung như vợ chồng thì ông Trần Minh T với H không tài sản chung, không
có nợ chung nên ông Trần Minh T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H
về phần chia tài sản chung, nợ chung.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm:
1/ Bà Mai Kim V (Mai Thị Kim V) (Vắng mặt).
2/ Nguyễn Thị Thanh T1: Thống nhất theo lời trình bày của ông Trần
5
Minh T, không bổ sung thêm.
3/ Ngân hàng C1 Chi nhánh C (Vắng mặt).
Tại Công văn số 77/CV-NHCS ngày 30/7/2025 Ngân hàng C1 có ý kiến:
Căn cứ Hợp đồng vay vốn vay vốn giữa NHCSXH gia đình Huỳnh Thị
Ngọc H số: 6600000710138098, ngày 24/4/2017, thời gian vay 60 tháng, lãi suất
vay 0,6875%/tháng, tương đương 8,25%/năm, số tiền vay 30.000.000 đồng, kỳ
hạn trả nợ được chia làm 05 kỳ trả, mỗi kỳ 6.000.000 đồng, mục đích xin vay:
trồng mía, lãi suất quá hạn 130% lãi suất vay.
Đến ngày 20/9/2024, bà H đã trả món vay theo Hợp đồng tín dụng nêu trên,
số tiền: 30.210.206 triệu đồng, trong đó: tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi
210.206 đồng.
Cũng trong ngày 20/9/2024, Huỳnh Thị Ngọc H tiếp tục vay vốn Ngân
hàng Chính sách hội theo Hợp đồng vay vốn số: 6600000729366757, ngày
20/9/2024, thời gian vay 60 tháng, lãi suất vay 8,25%/năm, số tiền vay 30.000.000
đồng, mục đích chăn nuôi heo; khạn trả nợ được chia làm 05 kỳ trả, mỗi kỳ
6.000.000 đồng, lãi suất quá hạn 130% lãi suất vay.
Đến ngày 31/7/2025, căn cứ Hợp đồng vay vốn, H còn nợ NHCSXH
30.074.319 đồng, trong đó: tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi 74.319 đồng.
Căn cứ Hợp đồng vay vốn số: 6600000729366757, ngày 20/9/2024, H
đang thực hiện đúng thỏa thuận với Ngân hàng C1, chưa đến hạn trả nợ.
Do đó, Ngân hàng C1 có yêu cầu xem xét giải quyết như sau:
Trường hợp 02 bên thỏa thuận, thống nhất H nhận khoản nợ vay Ngân
hàng Chính sách hội theo Hợp đồng vay vốn số: 6600000729366757, ngày
20/9/2024 thì Ngân hàng C1 Phòng G1 tiếp tục theo dõi, đôn đốc thực hiện theo
Hợp đồng và Ngân hàng chưa khởi kiện thu hồi.
Trường hợp 02 bên thỏa thuận, thống nhất H ông T chia đôi khoản
nợ vay Ngân hàng Chính sách hội theo Hợp đồng vay vốn số:
6600000729366757, ngày 20/9/2024 tNgân hàng C1 Phòng G1 đề nghị thu
hồi tất khoản vay trên, số tiền: 30.074.319 đồng, trong đó: tiền gốc 30.000.000
đồng, tiền lãi 74.319 đồng. Ngoài ra, H và ông T còn phải trả tiền lãi phát sinh
cho đến khi tất toán hết khoản vay theo lãi suất trên Hợp đồng vay vốn.
Tại Bản án số 72/2025/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân
dân Khu vực 9 – Cần Thơ, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh
Thị Ngọc H và ông Trần Minh T.
6
2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Huỳnh Minh T2, sinh ngày
20/12/2009 cho Huỳnh Thị Ngọc H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục cho đến tuổi thành niên (tròn 18 tuổi).
Ông Trần Minh T quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản
trở.
Riêng con chung tên Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 24/9/2001 do đã trưởng
thành, không có ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:
Buc ông Trn Minh T nghĩa v cấp dưỡng nuôi con chung tên Trần
Huỳnh Minh T2, sinh ngày 20/12/2009 vi mc cấp dưỡng 1.725.000
đồng/tháng, vic cp dưỡng thc hiện định k vào ngày 23 hàng tháng, bắt đầu t
ngày 23/9/2025 (dương lịch) cho đến khi con chung tên là Trần Huỳnh Minh T2,
sinh ngày 20/12/2009 đến tuổi thành niên (đủ 18 tui) hoặc khi nghĩa vụ cp
ng chm dứt theo quy định ca pháp lut;
Địa điểm cấp dưỡng ti Thi hành án dân s thành ph Cần Thơ.
Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
được thi hành ngay mặc thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị.
4. Về tài sản chung: Xác định tài sản sau đây: Quyền sử dụng đất tại thửa đất
số: 463, tờ bản đồ số: 8, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
695,9m
2
, (theo diện tích đo đạc thực tế: 695,9m
2
trong đó 140,4m
2
đất nằm
trong hành lang lộ giới), mục đích sử dụng: HNK, địa chỉ: Phạm Thành Hơn B,
xã C, thành phố Cần T.
tài sản chung của Huỳnh Thị Ngọc H ông Trần Minh T trong thời
kỳ sống chung với nhau như vợ chồng.
Cách chia cụ thể như sau:
4.1 Chia cho ông Trần Minh T toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số:
463, tờ bản đồ số: 8, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 695,9m
2
,
(theo diện tích đo đạc thực tế: 695,9m
2
trong đó 140,4m
2
đất nằm trong hành
lang lộ giới), mục đích sử dụng: HNK, địa chỉ: Phạm Thành Hơn B, xã C, thành
phố Cần Thơ. Phần đất có tứ cận như sau:
+ Hướng Đông Bắc giáp kênh thủy lợi (đã lấp) có số đo: 3,0m + 15,08m.
+ Hướng Tây Nam giáp thửa đất số 734 có số đo: 15,86m.
+ Hướng Tây Bắc giáp thửa đất số 464 có số đo: 31,26m + 3,07m + 5,66m.
+ Hướng Đông Nam giáp thửa đất số 949 số đo: 36,60m + 3,0m + 4,02m.
(có sơ đồ kèm theo).
7
Khi ông Trần Minh T yêu cầu, quan nhà nước thẩm quyền căn cứ
vào bản án này đđiều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật tại thửa đất nêu trên cho ông Trần Minh T.
4.2 Buộc ông Trần Minh T chịu trách nhiệm hoàn trả lại phần giá trị tài sản
chung cho bà Huỳnh Thị Ngọc H với số tiền là: 391.328.653 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo
quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử ngày 03 tháng 10 năm 2025 nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc
H đơn kháng cáo Bản án số 72/2025/HNGĐ-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 9 Cần Thơ. H yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, cụ thể: không đồng ý nhận tiền giá trị tài sản
là quyền sử dụng đất, yêu cầu Tòa án chia cho bà đất để bà cất nhà cho bà và con
của sinh sống.Yêu cầu bị đơn ông Trần Minh T cùng chịu trách nhiệm trả nợ
cho Ngân hàng C1 chi nhánh C và cấp dưỡng nuôi con chung.
Ngày 03/10/2025 bị đơn ông Trần Minh T kháng cáo không đồng ý chia giá
trị quyền sử dụng đất cho Huỳnh Thị Ngọc H tại thửa 463, diện tích 695 m
2
, tờ
bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp P, xã C, thành phố Cần Thơ. bà H không công
sức đóng góp tạo nên thửa đất.
Ngày 03/10/2025 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Th
Thanh T1, kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét công sức đóng góp
của vào thửa 463, diện tích 695 m
2
, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp P, C,
thành phố Cần Thơ. Vì bà và bị đơn ông Trần Minh T vợ chồng đăng kết
hôn hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn Huỳnh Thị Ngọc H rút một phần yêu
cầu kháng cáo, về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Minh T cấp dưỡng nuôi con
chung.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu kháng
cáo.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không bổ sung
thêm tài liệu chứng cứ mới.
Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn phát biểu quan điểm:
Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để tiến hành xem xét thẩm định
tại chỗ thẩm định giá lại đối với thửa đất số 463, diện tích 695 m
2
, tờ bản đồ
số 8, đất tọa lạc tại ấp P, C, thành phố Cần Thơ. Trong trường hợp Hội đồng
xét xử không chấp nhận đề nghị hoãn phiên tòa để thẩm định lại thì đề nghị Hội
8
đồng xét xử xem xét nguồn gốc chỉ có một mình bị đơn ông T đứng nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, nguyên đơn yêu cầu chia tài sản chung là không
sở. Luật đnghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên
đơn đối với món nợ vay Ngân hàng C1 chi nhánh C, nợ phát sinh sau khi nguyên
đơn không còn sống chung với bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa
nhận định: từ khi thụ vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán Hội đồng
xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung, Kiểm sát viên nhận định: thửa đất số 463, diện tích 695 m
2
, tờ
bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp P, C, thành phố Cần Thơ, nguồn gốc được
hình thành trong thời gian nguyên đơn bà H cùng sống chung với bị đơn ông T.
Nguyên đơn bị đơn sử dụng phần đất này cất nhà để cho cả vợ chồng các
con chung sống, sinh hoạt gia đình. Từ năm 2013 bà H đã không còn ở trên phần
đất này, ông T đã gia đình khác và xây nhà trên phần đất này. Ông T có công
gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm chia giá
trị quyền sử dụng đất cho bà H và chia cho bà 40%, ông T 60% và giao quyền sử
dụng đất cho ông T sở. Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng
cáo của H về việc yêu cầu chia cho bà đất chia cho tỉ lệ 50% ông T
50%.
Luật của bị đơn yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa để tiến hành xem xét
thẩm định tại chỗ định giá lại tài sản là quyền sử dụng đất là không sở.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Luật sư.
Đối với món nợ 10.000.000đồng H ông T vay năm 2010 để đóng cây
nước sinh hoạt mua xe. Mặc dù, H đã tất toán nợ xong, nhưng đây n
chung, H yêu cầu ông T chia đôi nợ chung sở, đề nghị Hội đồng t
xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Huỳnh Ngọc H, sửa
Bản án sơ thẩm về phần nợ chung, buộc bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho bà H số
tiền 5.000.000đồng.
Đối với việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu kháng cáo; người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 296; khoản 2 Điều 312 đình
9
chỉ xét xử phúc thẩm đối với một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; đình
chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
Về quan hệ pháp luật tranh chấp thẩm quyền: Xét đơn khởi kiện của
nguyên đơn về yêu cầu giải quyết việc không công nhận quan hệ vợ chồng, nuôi
con chung chia tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là Yêu
cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con của nam,
nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kết hôn tranh chấp
về chia tài sản chung”. Bị đơn Trần Minh T trú tại C, thành phố Cần Thơ,
nên Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm
quyền phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về thời hạn kháng cáo: Sau khi xét xử thẩm, nguyên đơn bà Huỳnh Thị
Ngọc H, bị đơn ông Trần Minh T, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị Thanh T1 đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272,
273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem
xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Huỳnh Thị Ngọc H rút một phần yêu cầu kháng
cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1 rút toàn bộ
yêu cầu kháng cáo. Hội đồng xét xcăn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 296;
khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ xét xử phúc thẩm
đối với một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc H; đình
chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Nguyễn Thị Thanh T1.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo về nợ chung tài sản chung; bị
đơn kháng cáo liên quan đến tài sản chung thửa đất 463, diện tích 695 m
2
, tờ
bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp P, xã C, thành phố Cần T.
[2.1] Nguyên đơn Huỳnh Thị Ngọc H kháng cáo yêu cầu bị đơn ông Trần
Minh T chia đôi ½ nợ chung vay tại Ngân hàng C1 chi nhánh C.
10
Nguyên đơn cho rằng món nợ 30.000.000 đồng lãi suất phát sinh tại Ngân
hàng C1 Phòng G1, là nợ chung của bà với ông Trần Minh T. Xét thấy, bị đơn
ông Trần Minh T không thừa nhận vay tiền tại Ngân hàng. Mặt khác, nvay
số tiền nợ gốc là 30.000.000đồng và lãi suất 210.206đồng theo Hợp đồng vay s
6600000710138098 ngày 24/4/2017, H đã trả tất món vay vào ngày 20/9/2024.
Và sau đó bà H đã vay lại số tiền nợ gốc là 30.000.000đồng, đến nay Ngân hàng
Chính sách Xã hội chưa có yêu cầu khởi kiện, nên không có căn cứ để Hội đồng
xét xử xem xét phân chia số nợ nêu trên. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc
yêu cầu chia đôi nợ chung 30.000.000 đồng và lãi suất phát sinh tại Ngân hàng
C1 không có n cnên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết trong
vụ án này. Tuy nhiên, nếu sau này Ngân hàng C1 có yêu cầu khởi kiện bằng một
vụ án khác thì sẽ được giải quyết và phân chia xác định trách nhiệm trả nợ.
Tuy nhiên, tại phiên tòa H xuất trình món nợ vay 10.000.000đồng tại Ngân
hàng C1 - Chi nhánh C vào năm 2010, để vô cây nước phục vụ sinh hoạt gia đình
đã tất toán nợ với Ngân hàng và vay lại món nợ 30.000.000đồng. Bị đơn ông
Trần Minh T không thừa nhận món vay này. Hội đồng xét xử, xét thấy H đã
tất toán món nợ vay và chỉ yêu cầu ông T trách nhiệm chia đôi nợ gốc, không
yêu cầu chịu lãi suất là có cơ sở nên được chấp nhận, buộc ông T có trách nhiệm
hoàn trả cho H số tiền 5.000.000đồng.
Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, về việc yêu cầu bị đơn chia cho
nguyên đơn đất để cất nhà. Hội đồng xét xử nhận thấy, theo hiện trạng sử dụng
đất thì bị đơn người vNguyễn Thị Thanh T1 đã xây dựng nhà ổn định,
việc nguyên đơn yêu cầu nhận diện tích đất là không phù hợp. Do đó, Tòa án cấp
thẩm quyết định chia tài sản chung quyền sử dụng đất bằng giá trị tiền cho
nguyên đơn là phù hợp với hiện trạng sử dụng đất và quy định của pháp luật.
Theo chứng thư thẩm định giá ngày 28/5/2025 xác định giá trị phần diện tích
695,9m
2
được quy đổi thành tiền là: 978.321.633 đồng. Do bị đơn công sức cải
tạo, tu bổ phần diện tích đất này trong quá trình canh tác, sử dụng đến nay nên
nguyên đơn được phân chia 40% giá trị quyền sử dụng đất tương ứng số tiền là:
391.328.653 đồng, phần còn lại tương ứng 60% giá trị quyền sử dụng đất với số
tiền 586.992.979 đồng sẽ được chia cho bị đơn, do bị đơn được giao toàn bộ
quyền sử dụng đất nên bị đơn phải nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn số
tiền 391.328.653 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.2] Bị đơn ông Trần Minh TNguyễn Thị Thanh T1 kháng cáo không
đồng ý chia quyền sử dụng đất cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc H.
11
Vào năm 2003, ông Nguyễn Văn D và vợ là bà Mai Thị Kim V (Mai Thị V)
sang nhượng đất cho ông Trần Minh T đúng sự thật. Tại thời điểm năm 2003,
giữa nguyên đơn bị đơn đang sống chung như vợ chồng, bị đơn vẫn chưa đăng
kết hôn với Nguyễn Thị Thanh T1 (bị đơn T1 đăng kết hôn vào
năm 2016). Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định quyền sử dụng tại thửa đất số 463,
diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 695,9m
2
, tờ bản đồ số 8, theo
kết quả đo đạc thực tế có diện tích 695,9m
2
, tọa lạc tại ấp P, xã C, thành phố Cần
Thơ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2021 là tài sản chung phát
sinh trong thời kỳ nguyên đơn bị đơn sống chung như vợ chồng. Bị đơn kháng
cáo không đồng ý chia giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là không có
sở, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ
thẩm định giá. Hội đồng xét xxét thấy, Tòa án cấp thẩm đã thực hiện trình
tự thủ tục xem xét thẩm định tại chỗ thẩm định giá đối với thửa đất số 463 đúng
theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong các phiên công khai chứng cứ
và hòa giải, các đương sự đã thống nhất với kết quả đo đạc và kết quả thẩm định
giá đất. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu hoãn phiên tòa của bị
đơn ông Trần Minh T để xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá lại.
[3] Các phần quyết định của Bản án sơ thẩm không bị Viện kiểm sát kháng
nghị, không bị đương sự kháng cáo, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát có căn cứ và phù hợp với quy
định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
phải chịu án p phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 296; khoản 2 Điều 312; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2025;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với một phần yêu cầu kháng o của nguyên
đơn Huỳnh Thị Ngọc H; đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1.
12
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc H.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Minh T.
Sửa một phần bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh
Thị Ngọc H và ông Trần Minh T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Huỳnh Minh T2 (giới tính:
Nam), sinh ngày 20/12/2009 cho Huỳnh Thị Ngọc H trực tiếp trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi thành niên (tròn 18 tuổi).
Ông Trần Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản
trở.
Riêng con chung tên Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 24/9/2001 do đã trưởng
thành, không có ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:
Buc ông Trn Minh T nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Trần
Huỳnh Minh T2, sinh ngày 20/12/2009 vi mc cấp dưỡng là 1.725.000
đồng/tháng (mt triu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đng mt tháng), vic cp
ng thc hiện định k vào ngày 23 hàng tháng, bắt đầu t ngày 23/9/2025
(dương lịch) cho đến khi con chung tên Trần Huỳnh Minh T2, sinh ngày
20/12/2009 đến tuổi thành niên (đủ 18 tui) hoặc khi nghĩa vụ cấp dưỡng chm
dứt theo quy định ca pháp lut;
Địa điểm cấp dưỡng ti Thi hành án dân s thành ph Cần Thơ.
Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị.
4. Về tài sản chung:
Xác định tài sản sau đây: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 463, tờ bản đồ
số 8, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 695,9m
2
, (theo diện tích
đo đạc thực tế: 695,9m
2
trong đó có 140,4m
2
đất nằm trong hành lang lộ giới),
mục đích sử dụng: HNK, địa chỉ: ấp P, C, thành phố Cần Thơ. tài sản chung
của Huỳnh Thị Ngọc H ông Trần Minh T trong thời kỳ sống chung với nhau
như vợ chồng.
4.1 Chia cho ông Trần Minh T toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số
463, tờ bản đồ số 8, diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là 695,9m
2
(theo diện tích đo đạc thực
13
tế: 695,9m
2
trong đó có 140,4m
2
đất nằm trong hành lang lộ giới), mục đích sử
dụng: HNK, địa chỉ: ấp P, xã C, thành phố Cần Thơ. Phần đất có tứ cận như sau:
+ Hướng Đông Bắc giáp kênh thủy lợi (đã lấp) có số đo: 3,0m + 15,08m.
+ Hướng Tây Nam giáp thửa đất số 734 có số đo: 15,86m.
+ Hướng Tây Bắc giáp thửa đất số 464 có số đo: 31,26m + 3,07m + 5,66m.
+ Hướng Đông Nam giáp thửa đất số 949 có sđo: 36,60m + 3,0m + 4,02m.
(có sơ đồ kèm theo).
Khi ông Trần Minh T yêu cầu, quan nhà nước thẩm quyền căn cứ
vào bản án này đđiều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật tại thửa đất nêu trên cho ông Trần Minh T.
4.2 Buộc ông Trần Minh T chịu trách nhiệm hoàn trả lại phần giá trị tài sản
chung cho Huỳnh Thị Ngọc H với số tiền là: 391.328.653 đồng (ba trăm chín
mươi mốt triệu ba trăm hai mươi tám nghìn sáu trăm năm mươi ba đồng).
5. Về nợ chung: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà
Huỳnh Thị Ngọc H, về việc chia đôi nợ gốc đối với số tiền 10.000.000đồng (mười
triệu đồng).
Buộc bị đơn ông Trần Minh T trách nhiệm hoàn trả cho bà Huỳnh Thị
Ngọc H số tiền 5.000.000đồng (năm triệu đồng).
6. Về chi ptố tụng: chi pxem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản
với tổng số tiền 20.796.895đồng (hai mươi triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn
tám trăm chín mươi lăm đồng).
Buộc Huỳnh Thị Ngọc H phải chịu 8.318.758đồng (tám triệu ba trăm
mười tám nghìn bảy trăm năm mươi tám đồng). Buộc ông Trần Minh T phải chịu
12.478.137đồng (mười hai triệu bốn trăm bảy mươi tám nghìn một trăm ba mươi
bảy đồng). H đã thực hiện xong, nên buộc ông Trần Minh T phải hoàn trả lại
cho Huỳnh Thị Ngọc H số tiền 12.478.137đồng (mười hai triệu bốn trăm bảy
mươi tám nghìn một trăm ba ơi bảy đồng) tại Phòng Thi hành án Khu vực 9 –
Cần Thơ.
7. Về án phí sơ thẩm:
Buộc bà Huỳnh Thị Ngọc H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án
phí hôn nhân sơ thẩm 19.566.433đồng (mười chín triệu năm trăm sáu mươi sáu
nghìn bốn trăm ba mươi ba đồng) án phí chia tài sản chung, cộng chung
19.866.433đồng (mười chín triệu tám trăm sáu ơi sáu nghìn bốn trăm ba mươi
ba đồng). H đã nộp 1.550.000đồng (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng)
tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011177 ngày 03/11/2023 375.000đồng
14
(ba trăm bảy mươi m nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số
0007000 ngày 07/3/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung nên
được khấu trừ, H phải tiếp tục nộp số tiền 17.941.433đồng (mười bảy triệu chín
trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm ba mươi ba đồng).
Buộc ông Trần Minh T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí
cấp dưỡng nuôi con. Ông Trần Minh T phải chịu 27.479.719đồng (hai ơi bảy
triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn bảy trăm mười chín đồng) án phí chia tài sản
chung và 250.000đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí nợ chung.
8. Về án phí phúc thẩm:
Hoàn trả cho nguyên đơn Huỳnh Thị Ngọc H số tiền 300.000đồng (ba
trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0004223, ngày 06
tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Buộc bị đơn ông Trần Minh T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).
Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) ông T đã nộp
tạm ứng theo Biên lai thu số 0004190, ngày 06 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành
án dân sự thành phố Cần Thơ.
Buộc Nguyễn Thị Thanh T1 phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).
Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) bà T1 đã nộp
tạm ứng theo Biên lai thu số 0004187, ngày 06 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành
án dân sự thành phố Cần Thơ.
9. Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các trường
hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ
ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản
tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
15
- Các đương sự;
- VKSND TP. Cần Thơ;
- TAND khu vực 9 - Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 9;
- THADS TP. Cần Thơ;
- Lưu HS-VT.
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Phượng
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN CHỦ TỌA
Trần Tuấn Q L Võ Thị P
Tải về
Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất