Bản án số 01/2023/LĐ-PT ngày 13/04/2023 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải và yêu cầu bồi thường thiệt hại

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2023/LĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 01/2023/LĐ-PT ngày 13/04/2023 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải và yêu cầu bồi thường thiệt hại
Quan hệ pháp luật: 128.Tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Giang
Số hiệu: 01/2023/LĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/04/2023
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khắc L và công ty cổ phần sơn Becker Ch tranh chấp xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải và yêu cầu bồi thường thiệt hại
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 01/2023/LĐ-PT.
Ngày: 13/4/2023
V/v: “Tranh chấp về xử lý kỷ luật
lao động theo hình thức sa thải và
yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Hiền.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Bà Nguyễn Thị Hương Giang.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Bắc
Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Giáp Thị Thủy
Kiểm sát viên.
Ngày 13/4/2023, tại trụ s T án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2022/TLPT- LĐ ngày16/11/2022 về việc:
“Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải và yêu cầu bồi thường
thiệt hại”.
Do bản án lao độngsơ thẩm số 01/2022/LĐ-ST ngày 21/6/2022của Toà án
nhân dân huyện Vbị kháng cáo và bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa v án ra xét x phúc thẩm số01/2023/QĐ-PT ngày
30/01/2023và Quyết định hoãn phiên tòa giữa:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Khắc L, sinh năm 1979, (có mặt).
Địa chỉ: Số 01, ngõ 84, tổ 3, đường Nguyễn Duy N, phường Thọ X, thành
phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn:Công ty Cổ phần sơn Becker Ch – Do ông Thân Quốc T – Tổng
giám đốc đại diện, (có mặt).
2
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Minh Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn Th, sinh năm 1959, (có mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã Tự L, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của bị đơn:Luật Đặng Văn Th -
Văn phòng Luật sư Đặng Văn Th, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang, (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bảo hiểm hội tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Quang Qlà người đại diện
theo ủy quyền, (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
1. Chị Đỗ Thị Th, sinh năm 1986, (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Minh Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
2. Chị Đào Thị Hi, sinh năm 1994, (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Hậu X, xã Hưng Đ, huyện Tiên L, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Khắc L trình bày: Ngày 05/08/2019, anh được
tuyển dụng vào Công ty Cổ phần sơn Becker Ch làm việc, đến ngày 01/02/2020
anh và Công ty ký Hợp đồnglàm việc không xác định thời hạn.Theo Hợp đồng làm
việc thì anh được phân công làm Gám đốc kinh doanh, với mức lương là 3.500.000
đồng/01 tháng và phụ cấp là 16.500.000 đồng/tháng (gồm lương trách nhiệm
10.000.000 đồng/tháng; tiền chi phí điện thoại 1.500.000 đồng/tháng; tiền công
tác phí 5.000.000 đồng/tháng. Tổng thu nhập 20.000.000/tháng). Trong thời
gian làm việc, anh luôn chấp hành nội quy quy định của Công ty, không sai
phạm anh luôn hoàn thành công việc được giao. Nhưng đến ngày 05/01/2021
thì anh nhận được Quyết định sa thải của Công ty đối với anh vì các lý do sau:
- Làm lộ bí mật kinh doanh và công nghệ của Công ty;
- Làm việc không đúng nhiệm vụ và quyền hạn của mình;
- Vi phạm nghiêm trọng quy định quản lý của Công ty;
- Làm việc vô kỷ luật, không làm tròn trách nhiệm được giao.
Theo anh thì việcCông tycó Quyết định sa thải đối với anh trái với quy
định của pháp luật, cả về nội dung hình thức. Việc Công ty không đóng bảo
hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đối với anh cũng trái pháp
luật.Những lý do mà Công ty đưa ra để sa thải anh hoàn toàn không đúng, hạ uy
tín, ảnh hưởng đến nhân phẩm danh dự của anh. Trong thời gian anh làm việc
3
tại Công ty anh không hề sai phạm, anh cũng không hề bịCông tyxử kỷ luật.
Việc Công tycó Quyết định sa thải đối với anh khi anh không bxử kỷ luậtlà vi
phạmnhững quy định tại Điều 122 của BLLD m 2019 Điều 70 Nghị định
145/2020/NĐ-CP của Chính phủ.
- Theo Điều 46 của luật việc làm năm 2013 quy định về hưởng trợ cấp thất
nghiệp như sau:
1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt Hợp đồng lao động hoặc
Hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung
tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.
- Căn cứ theo khoản 2 điểm a, khoản 3, điều 48 bộ luật lao động 2019,
trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt Hợp đồng lao động. Cụ thể:
2. Tiền lương, bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp
thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể,
Hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp
tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.
3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:
a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm
thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động
đã giữ của người lao động”.
Theo Điều 49 Luật việc làm m 2013 quy định: “Người lao động quy định
tại khoản 1, Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng
trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Chấm dứt Hợp đồng lao động hoặc Hợp đồng làm việc, trừ các trường
hợp sau đây:
a) Người lao động đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động, Hợp đồng làm
việc trái pháp luật;
b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24
tháng trước khi chấm dứt Hợp đồng lao động hoặc Hợp đồng làm việc đối với
trường hợp quy định tại điền a và điểm b, khoản 1, Điều 43 của Luật này, đã đóng
bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trlên trong thời gian 36 tháng trước khi
chấm chất Hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm e, khoản 1,
Điều 43 của Luật này.
3. Đã nộp hồ sở hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm
theo quy định tại khu 1, Điều 40 của Luật này.
4
4. Chưa tình được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ hưởng bảo
hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây
a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;
b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;
c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng,
sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;
đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo Hợp đồng;
e) Chết”.
Theo điều 50 của Luật việc làm năm 2013 quy định về mức, thời gian, thời
điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:
1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền
Tương thân đồng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp
nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương sở đổi với người lao động thuộc đối
tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần
mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao
động đóng bào hiềm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động
quyết định tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng lao động hoặc Hợp đồng làm việc.
2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo
hiểm thất nghiệp, đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng
trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01
tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.
3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày
nộp đủ hồ hưởng trcấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của
Luật này”.
Nay, anh yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
1) Yêu cầu tuyên bố Quyết định sa thải của Công ty đối vớianh trái pháp
luật và buộc Công ty phải hủy bỏ quyết định này;
2) Yêu cầu Công tyBồi thường thiệt hại cho anh theo các Điều 41, 46, 113
BLLĐ năm 2019 cụ thể là:
+ ng typhải trả lương cho anh trong những ngày anh không được làm
việcmỗi tháng 20.000.000 đồng,(theo Hợp đồng lao động)tính từ ngày 05/01/2021
đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm.
+ Ngoài ra Công ty phải trả cho anh những khoản tiền sau:
5
- Trả cho anh2 tháng lương với số tiền là: 20.000.000 × 2 = 40. 000.000
đồng.
- Trả cho anhtiền lương trong thời gian45 ngày, (1,5 tháng)là thời gian Công
ty không thông báo trước cho anh việc sa thải: 1,5 tháng × 20.000.000 đồng/tháng=
30.000.000 đồng.
- Trả cho anhtiền trợ cấp thôi việc trong thời gian 17 tháng với số tiền là:
15.000.000 đồng (theo quy định của Điều 46 BLLĐ năm 2019).
- Trả cho anhtiền lương tháng 12/2020 4 ngày của tháng 01/2021 với số
tiền là: 23.000.000 đồng.
- Trả cho anhtiền doanh số bán hàngtrong tháng 12/2020và tiền doanh số
bán hàngtrong tháng 11/2020do Công ty đã giữ lại của anh số tiền là: 554.311.000
đồng x 2%, (tiền doanh số của tháng 12/2020+ 6.700.000 đồng, (tiền doanh số gi
lại của tháng 11/2020) = 18.562.200 đồng.
- Trả cho anhtiền nghỉ phép 12 ngàytrong năm 2020 với số tiền là: 9.230.000
đồng,(theo quy định của Điều 113 BLLĐ năm 2019).
3) Yêu cầu Công tybồi thường thiệt hại cho anh theo Điều 275, khoản 1
Điều 584, khoản 1 Điều 585 BLDS năm 2015 cụ thể như sau:
+ Bồi thường thiệt hại trong 24 tháng,mỗi tháng 20.000.000 đồng tương
ứng với số tiền là: 24 tháng× 20.000.000 đồng = 480.000.000 đồng, do Hợp đồng
lao động của Công ty có quy định cản trở anh làm việc tại doanh nghiệp khác trong
thời gian anh nghỉ việc.
+ Bồi thường thiệt hại về tinh thần 10 tháng lương bản tương ứng với số
tiền là:10 tháng× 1.490.000 đồng/tháng = 14.900.000 đồng.
4) Theo Điều 168 BLLĐ năm 2019 và Điều 2 của Luật bảo hiểm xã hội năm
2014, khoản 26, Điều 1 của Thông tư số 06/2021/TT- BLĐTBXH của Bộ lao động
thương binh xã hội; khoản 2, Điều 17 nghị định 115/2015/NĐ – CP của Chính phủ;
điểm c, khoản 5, Điều 3 của Thông tư số 10/2020/TT- BLĐTBXH của Bộ lao động
thương binh xã hội buộc:Công ty phải truy đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn cho anh với mức đóng 13.800.000 đồng
phải truy đóng tiền bảo hiểm từ ngày 01/02/2020 cho đến ngày xét xử
thẩm.Do từ khi anh vào làm việc tại Công tythì Công tyvẫn không đóng bất kỳ một
loại bảo hiểm gì cho anh.
5) Yêu cầu Công ty phải trả cho anh tổng số tiền 43.726.100 đồng Công
ty đã tự ý trừ tiền lương của anh, cụ thể: Tháng 02/2020,Công tyđã trừ 9.732.000
đồng; tháng 07/2020,Công tyđãtrừ 7.477.500 đồng; tháng 08/2020,Công tyđã trừ
6
6.932.000 đồng; tháng 10/2020, Công tyđã trừ 7.670.000 đồng; tháng
11/2020,Công tyđãtrừ 1.530.000 đồng; tháng 12/2020,Công tyđã trừ 10.384.600
đồng. ViệcCông ty đã trừ các khoản tiền trên vào tiền lương của anh thì anh không
hề biết.
6) Yêu cầu Công ty phải bồi thường tiền trợ cấp thất nghiệp cho anh. Khoản
tiền đáng ra anh phải được hưởng, nếu Công ty đóng bảo hiểm bắt buộc cho anh
đúng thời hạn theo quy định của pháp luật với số tiền là 57.687.210 đồng
Theo Sổ bảo hiểm hội của anh thì thời gian anh đóng bảo hiểm thất
nghiệp chưa hưởng 7 năm 8 tháng.Mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm 7
tháng cuối của anh là: 13.735.050 đồng × 60% × 7 tháng = 57.687.210 đồng.
Công ty đóng bảo hiểm cho anh không đúng quy định của pháp luật nên anh không
đủ điều kiện để hưởng tiền trợ cấp thất nghiệp của Bảo hiểm hội.Việc Công ty
chấm dứt Hợp đồnglao động đối với anh ngày 05/01/2021, nhưng đến ngày
10/12/2021 Công ty mới truy đóngtiền bảo hiểm cho anh quá thời hạn quy định
03 tháng. Lỗi này của Công ty, nên Công ty phải trách nhiệm bồi thường
cho anh tiền bảo hiểm thất nghiệp 57.687.210 đồng, số tiền này lẽ ra anh phải
được hưởng của Bảo hiểm xã hội.
Công ty Cổ phần Sơn Becker Ch do ông Thân Quốc Tlà người đại diện
theo pháp luật đã trình bày:Anh Nguyễn Khắc L trước đây nhân viên Công
tyCổ phần Sơn Becker Ch, nhưng anh Lđã có vi phạm một số lỗi nên Công ty buộc
phải sa thải. Các lỗi vi phạm của anh L như sau:
Lần 1: Chiều ngày 27/10/2020 cho tới ngày 31/10/2020 anh Nguyễn Khắc L
đã rời vtrí làm việc, khách hàng gọi điện không được, Công ty m mọi cách liên
lạc với anh L nhưng cũng không liên lạc được.
Chiều ngày 31/10/2020,Công ty đã họp Hội đồng xử kỷ luật anh L và Hội
đồng đã nhất trí về việc vi phạm của anh L lần đầu nên anh L chỉ bị Cảnh cáo,
nếu lần sau anh Ltiếp tục tái phạm sẽ bị Công ty sa thải.
Lần 2: Ngày 4/1/2021, sau khi anh Lcãi nhau với nhân viên khác của Công
ty anh Nguyễn Quốc Đ thì anh L lại tiếp tục rời vị trí làm việc, khách hàng gọi
không được. Sau đóCông tyđã nhận được phản hồi của anh L là: “Anh Lkhông th
tiếp tục làm việc, buổi chiều anh L snộp đơn cho Công ty đxin nghỉ việc”, “Đề
nghị Công ty cho anh Lnghỉ việc càng nhanh càng tốt ". Anh L còn gửi Đơn xin
nghỉ việc tại Công ty gửi cho Đỗ Thị Thlà Giám đốcCông tyqua mạng hội
zalo.
7
Sau đó Công ty lấy lại số điện thoại Công ty đã cấp cho anh L trước
đó thì biết rất nhiều khách hàng gọi điện cho số điện thoại này để lấy Cứng
dung môi từ một Đại nào đó anh L lập ra. Trong thời gian làm việc hưởng
lương của Công ty đồng thời anh L lại lấy công thức sơncủa Công ty để làm Dung
môi để anh L tựbán cho khách hàng,anh Lbán cả“Cứng” của một hãng Sơn khác
cho khách hàng. Công ty hỏi anh Lvề việc: Tại saoanh Llại bán dung môi
bán “Cứng” của hãng Sơn khác thì anh L nói “Giá bên mình cao lắm, xăng lót
3.2 triệu đồng thôi”.
Trong quy định của Công ty, doanh số đạt 700.000.000 đồng trở lên đối với
khách hàng đại thì mới được hưởng mức chiết khấu 1%, nhưng trong quá
trình làm việc anh Lđã vấn với khách hàng không đúng sự thật đó là: khách
hàng bán hàng được doanh sốbao nhiêu cũng được anh L cho chiết khấu với mức
2%, 3%, hoặc 5% giá trị tiền hàng (tùy từng khách hàng). Điều này khiến cho
Công ty gặp kkhăn trong vấn đề thu công nợ, cũng như chịu mang tiếng về
không giữ đúng cam kết trong kinh doanh, ảnh hưởng tới thu nhập của Công ty
ảnh hưởng tới uy tín của Công ty.
Theo khoản 6.2 Phần V của Nội quy của Công tyquy định về trách nhiệm
của người lao động thì một nhân viên kinh doanh trong thời gian làm việc
hưởng lương tại Công ty đi cung cấp công thức tự bán sản phẩm tương tự
như sản phẩm của Công ty thì buộc phải sa thải.
Theo Hợp đồng lao động mà Công tyđã ký với anh Nguyễn Khắc L thì anh L
phải có trách nhiệm sau:
Chịu trách nhiệm trước cấp trên vkết quả hoạt động hàng tháng liên quan
đến chỉ tiêu doanh số đề ra: Q4/2020 phải đạt doanh sốtừ 8.5 đến 9 tỷ đồng
nhưng doanh số bán hàng quý 4/2020 của anh Lchưa đạt được được 1 tỷ đồng.
Theo dõi vấn đề công nợ của khác hàng đảm đúng yêu cầu thanh toán của
Công ty, chịu trách nhiệm trước Công ty về những khoản nợ khó thu hồi trong
trường hợp do lỗi của mình gây ra: Tổng số nợ khó thu hồi của khách hàng của anh
Llà 42.923.600 đồng, (có bảng kê đi kèm).
Trong thời gian hiệu lực của Hợp đồng trong vòng 24 tháng kể từ khi
nghỉ việc tại Công ty, nhân viên không được phép: Cung cấp thông tin, tiết lộ
mật kinh doanh của Công ty ra ngoài, không được phép hợp tác, sản xuất, làm đại
sử dụng, tiết lộ thông tin về khách hàng, mặt hàng, sản phẩm tương tự của Công
ty cho bất kỳ tổ chức nhân nào nhằm phục vụ công riêng của mình mà không
được sự đồng ý bằng văn bản từ phía Công ty. Nhưng ngay thời điểm này anh
8
Nguyễn Khắc Lđã đi làm việc cho Công ty CP J Việt Nam; Địa chỉ: C12
PANDORA, số 53 phố Triều Khúc, phương Thanh Xuân N, Quận Th, Thành phố
Nội,có số điện thoại 0989162636. Công tyCP J Việt Nam ngành nghề
xuất kinh doanh tương tự với Công tysơn Becker Ch, là đối thủ cạnh tranh trực tiếp
với Công tysơn Becker Ch.Anh Lcòn bán những sản phẩm tương tự như sản phẩm
của Công tysơn Becker Ch cho các khách hàng của Công tysơn Becker Ch.
Trong thời gian hiệu lực của Hợp đồnglao động, nếu nhân viên không thực
hiện đúng Hợp đồng lao động, nội quy lao động và cam kết của mình thì nhân viên
viên đó (hoặc người bảo lãnh) phải hoàn trả lại 100% lương trách nhiệm đã được
nhận cho Công ty và phải khắc phục bồi thường 100% tổn thất do mình gây ra theo
phán quyết của Công ty(kể cả trường hợp vi phạm đẫn đến bị sa thải).Như vậy,anh
L phải trả cho Công ty các khoản tiền cụ thể như sau:
- Lương trách nhiệm 10.000.000 đồng/tháng x 3 tháng= 30.000.000đồng.
- Tổn thất cho Công ty khi bán hàng của hãng khác không bán hàng cho
Công ty làm thụt giảm doanh số (9 tỷ-1 tỷ) x 10% lợi nhuận= 800.000.000 đồng.
- Theo Điều 16 nghị định số 75/2019/NĐ-CP của Chính phủ thì đối với hành
vi tiết lộ sử dụng thông tin mật trong kinh doanh mà không được phép chủa chủ sở
hữu thì sẽ bị phạt tiền từ 200.000.000đồng- 300.000.000 đồng
Công ty đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin anh Nguyễn Khắc Lyêu cầu anh Lvề
Công ty để giải trình các nội dung: Tại sao anh Llại bán “Cứng, dung môi cho bên
khác tại sao lại vấn cho khách hàng không đúng sự thật về việc chiết khấu
cuối năm cho khách hàng? Ban đầu thì anh Lcó nghe máy và trả lời vòng vo sau đó
anh L đã chặn tất cả các số điện thoại của những người gọi điện cho anh L nên
Công ty không yêu cầu anh Lgiải trình về những vấn đề này được.
Do vậy, ngày 05/01/2021,Công ty đã lập cuộc họp khẩn để xét kỷ luật anh
Nguyễn Khắc L với hình thức cao nhất là sa thải.
Nay, Công ty sơn Becker Chcó yêu cầu phản tố đề nghịanh Nguyễn Khắc L
phải trả cho Công ty những khoản tiền mà Công ty đã bị tổn thất cụ thể như sau:
- Tổng số nợ khó thu hồi là: 42.923.600 đồng
- Tiền lương trách nhiệm anh Lđã nhận trong khi anh Lkhông làm tròn trách
nhiệm số tiền là 10.000.000 đồng/tháng x 3 tháng= 30.000.000 đồng
- Tổn thất củaCông ty khi anh Lbán hàng của hãng khác không bán hàng cho
Công ty làm thụt giảm doanh số (9 tỷ-1 tỷ) x 10% lợi nhuận= 800.000.000 đồng;
Theo Điều 16 nghị định 75/2019/NĐ-CP của Chính phủ phạt tiền t
200.000.000đồng- 300.000.000 đồng
9
Như vậy, tổng số tiền anh L phải trả cho Công tysơn Becker Ch là:
1.172.923.600 đồng.
Trong vòng 24 tháng kể từ khi anh Lnghỉ việc tại Công ty, Công tyyêu cầu
anh L không được phép cung cấp thông tin, tiết lộ mật kinh doanh của Công ty
ra bên ngoài, không được phép hợp tác, sản xuất, kinh doanh, làm đại sử dụng,
tiết lộ thông tin về khách hàng, mặt hàng, sản phẩm tương tcủa Công ty cho bất
kỳ tổ chức cá nhân nào.
Trước khi xét xử thẩm v án, Công ty cổ phần sơn Becker Chdo ông
Thân Quốc Tuấn người đại diện của Công ty của đã rút toàn bộ yêu cầu phản tố
đối với anh Nguyễn Khắc L.
4. Đỗ Thị Th trình bày: Giám đốc của Công ty. Công ty
khoảng 06 đến 11 người làm việc thường xuyên nên Công tykhông thành lập tổ
chức công đoàn. Việc bảo vệ quyền lợi cho người lao động do bàĐào ThịHiền (là
nhân viên hành chínhcủa Công ty)phụ trách.Công tyđã Hợp đồng lao động với
anh Lnhư anh Lđã trình bày đúng. Nhưng Thơ người Hợp đồng lao
động với anh L không đúng thẩm quyền. Ông Tuấn mới thẩm quyền kýHợp
đồng lao động với anh L. Quá trình làm việc tại Công ty, anh L đã những vi
phạm như:
- Bán dung môi của đơn vị khác cho đại lý, thỏa thuận với các đại được
hưởng chiết khấu 3% trong khi quy định của Công ty là trên 700.000.000 đồng mới
được hưởng chiết khấu 1%;
- Anh Ltự ý nghỉ làm việc quá số ngày cho phép, các đại không liên lạc
được với anh L.
5. Đào Thị H trình bày:Bà là nhân viên hành chính của Công ty. Tháng
8/2019, anh Lđã m việc tại Công ty nhưng không Hợp đồng. Ngày
01/11/2020,anh L mới Hợp đồng lao động với Công ty. Từ ngày 27/10/2020
đến ngày 31/10/2020, anh L tự ý nghỉ việc tại Công ty, khách hàng không liên lạc
được với anh L. Ngày 05/01/2021, anh L tự ý rời vị trí làm việc, rời nhóm zalo,
gửi đơn xin nghỉ việc đến Công ty. Anh L còn yêu cầu được nghỉ việc càng nhanh
càng tốt. Công ty đã họp lập biên bản xét kỷ luật anh L.Trước khi họp lập biên
bản,Công ty không giấy thông báo cho anh L đến họp chỉ gọi điện cho anh
L, nhưng Công tykhông liên lạc được với anh L. Việc Công ty kỷ luậtanh L
đúng quy định của pháp luật.
6. Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Quang Q là người đại
diện theo ủy quyền đã trình bầy:Ông Nguyễn Khắc L thuộc đối tượng bắt buộc
10
phải đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp ttháng 11/2019 đến tháng 4/2020; từ tháng 6/2020
đến tháng 8/2020 và từ tháng 10/2020 đến tháng 12/2020. Bảo hiểm hội tỉnh đã
yêu cầu Công ty lập hồ sơ, thủ tục đóng các khoản bảo hiểm, chốt, trả sổ bảo hiểm
cho ông Lĩnh theo quy định. Theo sổ bảo hiểm thìCông ty đã đóng đầy đcho anh
L vào tháng 10/2021.
Do nội dung trên, bản án bản án lao động sơ thẩm số 01/2022/LĐ-ST,
ngày 21/6/2022 của Toà án nhân dân huyện V đã áp dụng điểm a, khoản 1, Điều
32, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, 217, 218, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân
sự; Điều 41, Điều 122 Bộ luật lao động 2019, Điều 30 Nghị định số 05/2015/NĐ-
CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Khắc L.
- Hủy Quyết định về việc cho thôi việc, (với hình thức sa thải) ngày
05/01/2021 của Công ty cổ phần sơn Becker Ch đối với anh Nguyễn Khắc L.
- Buộc Công ty cổ phần sơn Becker Ch phải bồi thường cho anh Nguyễn
Khắc L số tiền là 464.306.672 đồng.
- Công ty cổ phần sơn Becker Ch không phải nhận lại anh Nguyễn Khắc L
về làm việc.
- Đình chỉ yêu cầu phản tố của Công tycổ phần sơn BeckerChem đối với anh
Nguyễn Khắc L. Hoàn trả Công tycổ phần sơn Becker Ch số tiền 13.700.000 đồng
đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006224 ngày 09/02/2022 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện V.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9
Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2. Về án phí: Buộc Công ty cổ phần sơn Becker Ch phải chịu 13.286.133
đồng án phí lao động thẩm. Anh Nguyễn Khắc L không phải chịu án phí lao
động sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
11
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/7/2022, nguyên đơn là anh Lnộp đơn kháng
cáo;ngày 02/7/2022, bị đơn làCông ty cổ phần sơn Becker Chnộp đơn kháng cáo.
Ngày 06/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện V có Quyết định kháng nghị
số 03/QĐ-VKS-LĐ đề nghị sửa bản án lao động sơ thẩm đã xử.
Ngày 16/9/2022, Toà án nhân dân huyện V có Thông báo sửa chữa bản án.
Ngày 16/11/2022, Công ty cổ phần sơn Becker Ch đơn khiếu nại về việc
sửa chữa, bổ sung bẩn án thẩm số 01/2022/LĐ-ST của Tòa án nhân dân huyện
V.
Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 01/2022/QĐ-KN ngày 15/12/2022 đã
chấp nhận khiếu nại của Công ty cổ phần sơn Becker Ch về việc Tòa án cấp
thẩm đã ban hành Thông báo, sửa chữa, bổ sung bản án thẩm không theo quy
định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lvẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu
cầu kháng cáo.Bị đơn Công ty cổ phần sơn Becker Chvẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo. Các đương s không thỏa thuận được với nhau về việc gii quyết vụ án.
*Anh Lđã trình bầy:Bản án thẩm đã không xem xét buộc Công ty phải trả
cho anh Lnhững khoản tiền sau:
- Tiền lương trong thời gian1,5 thánglà những ngày Công ty không thông
báo trước cho anh L về việc sa thải: 1,5 tháng × 20.000.000 đồng/tháng=
30.000.000 đồng.
-Tiền trợ cấp thôi việc trong thời gian 17 tháng là: 15.000.000 đồng, (theo
quy định của Điều 46 BLLĐ năm 2019).
- Tiền lương tháng 12/2020 và 4 ngày của tháng 01/2021 với tổng số tiền là:
23.000.000 đồng.
- Tiền doanh số trong tháng 12/2020 và tiền doanh số trong tháng 11/2020do
anh Lđã bị Công ty giữ lại là: 554.311.000 đồng x 2% (tiền doanh số của tháng
12/2020) + 6.700.000 đồng, (tiền doanh số giữ lại ca tháng 11/2020) =
18.562.200 đồng.
- Tiền nghỉ phép 12 ngàytrong năm 2020 với số tiền là: 9.230.000 đồng(theo
quy định của Điều 113 BLLĐ năm 2019).
Ngoài ra anh yêu cầu Công typhải trả cho anh các khoản tiền cụ thể gồm:
bồi thường thiệt hại cho anh L cụ thể như sau:
- Bồi thường thiệt hại vật chất trong 24 tháng mỗi tháng 20.000.000 đồng
tương ứng với số tiền là480.000.000 đồng do Công ty không cho anh L được làm
việc trong thời gian nghỉ việc ở Công ty.
12
- Bồi thường thiệt hại về tinh thần 10 tháng lương bản tương ứng với số
tiền là:10 tháng× 1.490.000 đồng/tháng = 14.900.000 đồng.
-BuộcCông ty phải truy đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm tai nạn với mức đóng là 13.800.000 đồng/tháng và phải truy đóng
từ ngày 01/02/2020 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.
-Trả cho anh Ltổng số tiền 43.726.100 đồng mà Công ty đã tự ý trừ tiền
lương của anh L, cụ thể: Tháng 02/2020 Công tyđã trừ 9.732.000 đồng; tháng
07/2020 ng tyđã trừ 7.477.500 đồng; tháng 08/2020 Công tyđã trừ 6.932.000
đồng; tháng 10/2020 Công tyđã trừ 7.670.000 đồng; tháng 11/2020 Công tyđã trừ
1.530.000 đồng; tháng 12/2020Công tyđã trừ 10.384.600 đồng.
-Bồi thường tiền trợ cấp thất nghiệp cho anh L tổng số tiền 57.687.210
đồng.
Nay, anh kháng cáo đề ngh Hội đồng xét xử buộc Công ty cổ phần sơn
Becker Ch phải trả cho anh các khoản tiền nêu trên.
*Bị đơn Công ty cổ phần sơn Becker Chdo ông T người đại diện theo
pháp luật Luật Đặng Văn Th người đại diện theo ủy quyền người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bđơnđều trình by: Việc ng ty bannh Quyết
đnh sa thi đối với anh L đúng quy định của pháp lut. Đnghị Hội đng xét xử
không chp nhận kháng cáo yêu cầu khi kiện ca anh L.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành
đầy đủ các trình tự, thủ tục ca BLTTDS.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân
tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 2, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn kháng cáo của bị đơn; chấp nhận kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân huyện V, sửa bản án thẩm đã xử theo nội dung kháng
nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Ngày 05/08/2019, anh Nguyễn Khắc Lđược tuyển dụng vào Công ty Cổ
phần sơn Becker Ch làm việc. Ngày 01/02/2020, anh Lvà Công ty Hợp
đồnglàm việc không xác định thời hạn, theo nội dung của Hợp đồng làm việc thì
13
anh L được phân công làm Giám đốc kinh doanh, với mức lương 3.500.000
đồng/01 tháng và phụ cấp là 16.500.000 đồng/tháng (gồm lương trách nhiệm
10.000.000 đồng/tháng; tiền điện thoại là 1.500.000đồng/tháng; tiền công tác phí là
5.000.000 đồng/tháng. Tổng thu nhập là 20.000.000/tháng). Ngày 05/01/2021,
Công tycó Quyết định sa thải anh L.
Cho rằng Quyết định sa thảicủa Công tylà không đúng, anh L làm đơn khởi
kiện đến Tòa án yêu cầu các vấn đề sau:
1) Yêu cầu tuyên bố Quyết định sa thải của Công ty đối với anh Llà trái pháp
luật;
2) Yêu cầu Công ty phải trả tiền lương trong những ngày anh Lkhông được
làm việc mỗi tháng 20.000.000 đồngtính từ ngày 05/01/2021 đến ngày Tòa án xét
xử sơ thẩm;
3) Ngoài ra Công ty phải trả cho anh Lĩnh những khoản tiền sau:
- Trả cho anh L 2 tháng lương với số tiền là: 20.000.000 × 2 = 40.000.000
đồng.
- Trả cho anh Ltiền lương trong thời gian 1,5 tháng những ngày Công ty
không thông báo trước cho anh L: 1,5 tháng × 20.000.000 đồng/tháng= 30.000.000
đồng.
- Trả cho anh Ltiền trợ cấp thôi việc trong thời gian 17 tháng là: 15.000.000
đồng (theo quy định của Điều 46 BLLĐ năm 2019).
- Trả cho anh Ltiền lương tháng 12/2020 4 ngày của tháng 01/2021 với
tổng số tiền là: 23.000.000 đồng.
- Trả cho anh Ltiền doanh số trong tháng 12/2020 tiền doanh số trong
tháng 11/2020 do anh Lđã bị Công ty giữ lại là: 554.311.000 đồng x 2% (tiền
doanh số của tháng 12/2020) + 6.700.000 đồng, (tiền doanh số gilại của tháng
11/2020) = 18.562.200 đồng.
- Trả cho anh Ltiền nghỉ phép 12 ngày trong năm 2020 với số tiền là:
9.230.000 đồng (theo quy định của Điều 113 BLLĐ năm 2019).
4) Yêu cầu Công ty bồi thường thiệt hại cho anh Lcụ thể như sau:
- Bồi thường thiệt hại vật chất trong 24 tháng mỗi tháng 20.000.000 đồng
tương ứng với số tiền là: 24 tháng × 20.000.000 đồng = 480.000.000 đồng.
- Bồi thường thiệt hại về tinh thần 10 tháng lương bản tương ứng với số
tiền là: 10 tháng× 1.490.000 đồng/tháng = 14.900.000 đồng.
14
5) BuộcCông ty phải truy đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn với mức đóng 13.800.000 đồng/tháng phải truy
đóng từ ngày 01/02/2020 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.
6) Yêu cầu Công ty phải trả cho anh Ltổng số tiền 43.726.100 đồng mà
Công ty đã tự ý trtiền lương của anh L, cụ thể: Tháng 02/2020, Công ty đã trừ
9.732.000 đồng; tháng 07/2020, Công ty đã tr 7.477.500 đồng; tháng 08/2020,
Công ty đã trừ 6.932.000 đồng; tháng 10/2020, ng ty đã trừ 7.670.000 đồng;
tháng 11/2020 Công ty đã trừ 1.530.000 đồng; tháng 12/2020, Công ty đã trừ
10.384.600 đồng.
7) Yêu cầu Công ty phải bồi thường tiền trợ cấp thất nghiệp cho anh L tổng
số tiền là 57.687.210 đồng.
Bản án thẩm đã chấp nhận mt phần khởi kiện của anh L xử: Hủy
Quyết định về việc cho thôi việc (với hình thức sa thải) ngày 05/01/2021 của Công
ty cổ phần sơn Becker Ch đối với anh Nguyễn Khắc L.
- Buộc Công ty cổ phần sơn BeckerChem phải bồi thường cho anh Nguyễn
Khắc L số tiền 464.306.672 đồngbao gồm: Tiền lương trong những ngày anh L
không làm việc; tiền bồi thường 2 tháng lương tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm
hội, bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian anh L không được làm việc với thu nhập
tiền lương của anh L là 20.000.000 đồng/tháng.
- Công ty cổ phần sơn Becker Ch không phải nhận lại anh Nguyễn Khắc L
về làm việc.
Sau khi xét xử, anh L kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Công ty kháng cáo không đồng ý trả tiền cho anh L cho rằng việc sa thải
của Công ty đối với anh L là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật;
Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã Quyết định kháng nghị đề nghị sửa
bản án thẩm đã xử, xác định Công ty chỉ phải trả cho anh L tiền Tiền lương
trong những ngày anh L không làm việc; tiền bồi thường 2 tháng lương và tiền bảo
hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian anh L không được
làm việc với thu nhập tiền lương của anh L 13.800.000 đồng/tháng. Việc bản án
thẩm tính số tiền tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm hội, bảo hiểm thất nghiệp
trong thời gian anh L không được làm việc với mức 21% số tiền thực lĩnh là không
đúng phải tính theo mức 21,5 %của số tiền thực lĩnh; bản án thẩm đình chỉ
yêu cầu phản tố của anh L nhưng không áp dụng Điều 244 BLTTDS là thiếu sót.
15
[1] Xét kháng cáo của Công ty về việc Công ty không đồng ý trả tiền cho
anh L cho rằng việc sa thải của Công ty đối với anh L hoàn toàn đúng quy
định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy:
+ Về Hợp đồng lao động ký kết giữa các bên thì thấy mặc dù bà Đỗ Thị Thơ
giám đốc Công tycổ phần sơn Becker Ch không thẩm quyền Hợp đồng
nhưng sau khi ký Hợp đồng lao động thì anh L đã đi làm việc, đồng thời Công tycổ
phần sơn Becker Ch đã trả lương đầy đủ cho anh L. Việc này thể hiện ý trí của các
bên nên cần chấp nhận về nội dung của Hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty cổ
phần sơn Becker Ch và anh Nguyễn Khắc L.
+ Về nội dung, quy trình xử lý kỷ luật sa thải của Công tyBecker Ch với anh
L: Công ty lập biên bản xkỷ luật đối với anh L ngày 05/1/2021 thành phần
ông Thân Quốc T Chủ tịch HĐQT- Chủ tịch hội đồng kỷ luật; Đỗ Thị Th –
Giám đốc Công ty - Ủy viên Đào Thị H nhân viên hành chính nhân sự
không đủ thành phần quy định tại Điều 122 BLLĐ năm 2019 như: Không có người
lao động tham gia đgiải trình các vi phạm, không đại diện của tổ chức công
đoàn cấp trên (do Công ty không có Công đoàn cơ sở).
Trước khi tiến hành phiên họp xkỷ luật, Công ty không thực hiện việc
thông báo cho anh L về thời gian, địa điểm mphiên họp xét kỷ luật lao động,
Công ty khai gọi điện cho anh L nhưng không liên lạc được, tuy nhiên, Công ty
không gửi các thông báo bằng văn bản cho anh L bằng các hình thức thông báo
khác. Do đó, không căn cứ chứng minh ng ty đã thông báo cho anh L về
phiên họp xử kỷ luật. Công ty cũng không thực hiện việc gửi thông báo bằng
văn bản về việc tham dự cuộc họp xkỷ luật lao động cho Ban chấp hành công
đoàn cấp trên cơ sở (do Công ty không có Công đoàn cơ sở).
Việc xét xử kỷ luật của Công ty đối với anh L không đúng trình tự, thủ
tục quy định tại Điều 122 BLLĐ năm 2019 Điều 30 Nghị định số 05/2015 ngày
12/01/2015 của Chính phủ (tại thời điểm xảy ra tranh chấp vẫn đang có hiệu lực).
Do thủ tục xét kỷ luật không đúng, dẫn đến Quyết định sa thải anh L của
Công ty Cổ phần sơn Becker Ch là không đúng quy định pháp luật nên Tòa án cấp
sơ thẩm đã hủy bỏ Quyết định sa thải của Công ty đối với anh L là có căn cứ, đúng
quy định của pháp luật. Kháng cáo của Công ty là không có cơ sở chấp nhận.
[2] Xét kháng cáo của anh L về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
16
Về các khoản tiền bồi thường của Công ty đối với anh L thì thấy: Do việc sa
thải không đúng nên anh L được bồi thường theo quy định tại Điều 41 BLLĐ
có căn cứ. Tuy nhiên:
Yêu cầu của anh L về việc Công typhải trách nhiệm truy đóng bảo hiểm
hội cho anh Ltừ ngày 01/02/2020 cho đến ngày Tòa án xét xử thẩm. Tuy
nhiên theo xác nhận của Bảo hiểm hội tỉnh Bắc Giang thìCông tyđã thực hiện
xong việc nộp đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội cho anh Ltrong thời gian anh L làm việc
tại Công ty vào tháng 10/2021.Do vậy chỉ căn cứ xem xét giải quyếtbuộc Công
ty nộp tiền bảo hiểm hội cho anh L từ ngày Quyết định sa thải ngày
05/1/2021 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm.
Anh L cho rằng Bảo hiểm hội tỉnh Bắc Giang đã tính tiền đóng bảo hiểm
cho anh theo mức ơng của ng ty trả cho anh Lsau khi đã trừ tiền lương của
anh L không đúng quy định. Về nội dung này thì anh L quyền khiếu nại đến
Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang.
Anh L còn yêu cầu Công ty trả một số các khoản tiền cụ thể là:
+Công ty phải trả tiền lương tháng 12/2020 04 ngày lương của anh L
trong tháng 01/2021 với số tiền là 23.000.000 đồng.
+ Trả tiền doanh sbán hàng cho anh L trong tháng 11, tháng 12 của m
2020 18.562.000 đồng bao gồm 11.862.200 đồng (tiền doanh số tháng 12/2020)
và 6.700.000 đồng (tiền doanh số giữ lại của tháng 11/2020).
+ Trả tiền nghỉ phép 12 ngày trong năm 2020 (theo Điều 113 BLLĐ năm
2019)là: 9.230.000 đồng.
+Công ty đã tự ý trừ 43.726.100 đồngvào tiền lương của anh L cụ thlà:
Tháng 02/2020, trừ 9.732.000 đồng; tháng 07/2020, trừ 7.477.500 đồng; tháng
08/2020, trừ 6.932.000 đồng; tháng 10/2020, trừ 7.670.000 đồng; tháng 11/2020,
trừ 1.530.000 đồng; tháng 12/2020, trừ 10.384.600 đồng. Nay anh L yêu cầu Công
ty phải trả lại cho anh L tổng số tiền43.726.100 đồng.
Xét thấy: Theo quy định của Điều 188 Luật lao động quy định các tranh
chấp về tiền lương cần phải qua hòa giải cơ sở.
Việc tranh chấp giữa anh L Công ty về các khoản tiền nêu trên đều
tranh chấp về tiền lương. Do các bên chưa thực hiện việc hòa giải cơ sở nên Tòa án
cấp thẩm đã không giải quyết yêu cầu này của anh Ldo chưa đủ điều kiện khởi
kiện theo điểm b, khoản 1, Điều 192 BLTTDS căn cứ.Tuy nhiên, đối với các
yêu cầu khởi kiện này của anh L, cần áp dụng điểm g, khoản 1, Điều 217
BLTTDS,sửa bản án thẩm về cách tuyên án cụ thể là: Đình chỉ giải quyếtcác
17
yêu cầu khởi kiện của anh Lvề tiền lương. Tòa án cấp thẩm không đình chỉ giải
quyết các yêu cầu này của anh L là thiếu sót, không đúng quy định của pháp luật.
Theo điểm c, khoản 3, Điều 192 BLTTDS, đương sự được nộp đơn khởi
kiện lại nếu đã đủ điều kiện khởi kiện. Sau này nếu các bên vẫn tranh chấp
về tiền lương và việc tranh chấp này được hòa giải cơ sở (theo Điều 188 BLLĐ)thì
anh L quyền khởi kiện yêu cầu ng ty trả tiền lương cho anh Lbằng vụ án lao
động khác.
- Anh Lđã yêu cầu Công ty bồi thường thiệt hại ngoài Hợp đồng do Công ty
đã cản trởanh Lkhông được làm việc 24 tháng sau nghỉ việc tại Công ty với số tiền
là: 24 tháng × 20.000.000 đồng = 480.000.000 đồng.
Yêu cầu này của anh L là không có cơ sở do Công ty không có quy định cấm
anh L làm việc sau khi anh L nghỉ việc tại Công ty.Tại Hợp đồnglàm việc chỉ quy
định: “Trong vòng 24 tháng kể từ khi nghỉ việc tại Công ty, nhân viên không được
phép cung cấp thông tin, tiết lộ mật kinh doanh của ng ty ra ngoài, không
được phép hợp tác, sản xuất, kinh doanh, làm đại sử dụng, tiết lộ thông tin về
khách hàng, mặt hàng, sản phẩm tương tự của Công ty cho bất kỳ tổ chức, cá nhân
nào nhằm phục vụ công việc của riêng mình mà chưa có văn bản đồng ý của Công
ty”. Quy định này của Hợp đồng không cấm anh L làm các công việc khác. Hơn
nữa, đây thỏa thuận của anh Lvới Công ty, anh Lđã tự nguyện kết với Công
ty, do đó Tòa án cấp thẩm đã không chấp nhận yêu cầu này của anh L căn
cứ.
- Anh L yêu cầu bồi thường thiệt hại tinh thần: 10 tháng lương bản ×
1.490.000 đồng = 14.900.000 đồng. Đây là bồi thường thiệt hại ngoài Hợp đồng,
không thuộc các trường hợp bồi thường do sa thải trái pháp luật, anh L không
chứng minh được thiệt hại nên Tòa án cấp thẩm đã không chấp nhận yêu cầu
này của anh L là có căn cứ.
- Anh L cho rằng do Công ty không đóng bảo hiểm thất nghiệp cho anh nên
anh không được hưởng trợ cấp thất nghiệp, anh yêu cầu Công ty phải bồi thường
tiền trợ cấp thất nghiệp cho anh 57.687.210 đồng yêu cầu Công ty trả tiền
những ngày không báo trước: 45 ngày/30 ngày × 20.000.000 đồng = 30.000.000
đồng Tuy nhiên, anh L bxkỷ luật theo hình thức sa thải, không thuộc trường
hợp được hưởng các khoản tiền này theo quy định tại Điều 36, Điều 46 của BLLĐ,
nên nên Tòa án cấp thẩm đã không chấp nhận yêu cầu này của anh L căn
cứ.
18
Xét thấy: Mặc Tòa án cấp thẩm không chấp nhận một số yêu cầu khởi
kiện của anh L, nhưng Tòa án cấp thẩm lại không tuyên: Bác yêu cầu khởi kiện
của anh L(về một số yêu cầu cụ thể) là tuyên án không đầy đủ.
[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Hội đồng xét xử
xét thấy:
[3.1] Về mức bồi thường của Công ty đối với anh Lvà các khoản bồi thường
thì thấy:
Hợp đồng lao động giữa Công ty Becker Ch anh Nguyễn Khắc Lđược
ngày 01/11/2020 theo bảng lương do Công ty Becker Chcung cấp thì anh L
được hưởng mức lương 20.000.000 đồng/01 tháng, bao gồm: Lương bản
3.800.000 đồng, trợ cấp trách nhiệm 10.000.000 đồng (do anh L giữ chức vụ Giám
đốc kinh doanh), tiền trợ cấp điện thoại 1.200.000 đồng, trợ cấp công tác phí
5.000.000 đồng. Tòa án cấp thẩm đã căn cứ mức lương 20.000.000 đồng/01
tháng để tính mức bồi thường: Tiền lương trong những ngày người lao động không
được làm việc 17 tháng x 20.000.000 đồng/01 tháng + 666.667 đồng/01 ngày x
16 ngày = 340.000.000 đồng chưa đsở, không đúng quy định tại Điều 90
Bộ luật lao động năm 2019 về tiền lương vì: Thực tế những ngày này anh L không
làm việc cho Công ty Becker Chnên không phát sinh chi phí về tiền điện thoại, tiền
công tác phí, do đó việc Tòa án cấp thẩm buộc bị đơn phải bồi thường cho anh
L cả tiền chi phí điện thoại và tiền công tác phí trong những ngày anh L không làm
việc là không có căn cứ.
+Theo quy định tại Điều 41 BLLĐ theo sự phân tích nêu trên thì trong
những ngày anh Lkhông làm việc thì Công ty chỉ phải chi trả cho anh L tiền lương
bản; tiền trợ cấp trách nhiệm 2 tháng lương theo mức tiền lương
13.800.000 đồng/1 thánglà hợp lý.
Khoảng thời gian anh Lkhông làm việc cho Công ty Becker Chtính từ thời
điểm anh Lbị Công ty sa thải (ngày 05/01/2021) đến thời điểm xét xử thẩm
(ngày 21/6/2022) là17 tháng, 16 ngày.
Do vậy Công ty phải bồi thường cho anh Lcác khoản tiền là:
- Khoản tiền lương trong thời gian anh L không được làm việc tại Công ty:
17 tháng x 13.800.000 đồng/tháng + 460.000 đồng/ngày x 16 ngày =
241.960.000 đồng.
- 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động là: 2 x 13.800.000 đồng/tháng
= 27.600.000 đồng.
19
[3.2] Về khoản tiền bảo hiểm y tế và tiền bảo hiểm xã hội, tiền bảo hiểm thất
nghiệp trong khoảng thời gian anh L không được làm việc: Công ty đang đóng cho
anh L với mức 21,5%, (trong đó bảo hiểm hội 17,5%; bảo hiểm y tế 3%;
bảo hiểm thất nghiệp là 1%).
Tòa án cấp thẩm buộc Công ty phải chi trả số tiềnbảo hiểm y tế bảo
hiểm hội, bảo hiểm thất nghiệp trong khoảng thời gian anh L không được làm
việc với mức 350.666.672 đồng x 21% = 73.640.000 đồng không đúng mức
không đúng số tiền chi trả hàng tháng của Công ty đối với anh L (theo sự phân tích
ở tại mục [3.1]).
Vậy tiền bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệpCông ty phải
trả cho anh L trong thời gian anh Lkhông được làm việc (từ ngày 05/1/2021 đến
ngày Tòa án xét xử sơ thẩm là ngày 21/6/2022) với số tiền là:
241.960.000 đồng x 21,5 % = 52.021.400 đồng.
(Trong đóbảo hiểm xã hội là 241.960.000 đồng x 17,5% = 42.343.000 đồng;
Bảo hiểm y tế là 241.960.000 đồng x 3% = 7.258.800 đồng;
Bảo hiểm thất nghiệp 241.960.000 đồng x 1% = 2.419.600 đồng).
Tổng số tiền Công ty phải trả cho anh L là: 241.960.000 đồng + 27.600.000
đồng + 52.021.400 đồng = 321.581.400 đồng.
[3.3] Về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã nêu: Bản án
thẩm đã nhận định, đánh giá không chấp nhận một một số các yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, nhưng tại phần quyết định của bản án lại không tuyên cụ thể:
Khôngchấp nhận những yêu cầu khởi kiện nào của nguyên đơn không đầy đủ,
không đúng quy định tại Mẫu số 52 ban hành kèm theo Nghị quyết số
01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao về việc ban hành một số biểu mẫu trong ttụng dân sự; Bản án thẩm
đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn nhưng không áp dụng Điều 244 BLTTDS
thiếu sót.
Về những nhội dung này, Hội đồng xét xử xét thấy:Kháng nghị của Viện
kiểm sát nhân dân huyện V là có căn cứ. Cần sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên án,
bổ sung thêm điều luật áp dụng, (Điều 244 BLTTDS),Tòa án cấp sơ thẩm cũng cần
rút kinh nghiệm về những sai sót trên:
[4] Về án phí lao động sơ thẩm:
Số tiền án phí lao động sơ thẩm bị đơn phải chịu là:
321.581.400 đồng x 3% = 9.647.442 đồng.
[5] Về án phí lao động phúc thẩm:
20
Do sửa bản án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 2, Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo củaanh
L,không chấp nhận kháng cáo của Công tysơn Becker Ch, chấp nhận kháng nghị
của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, sửabản án sơ thẩm đã xử.
Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147,
điểm b, khoản 1, Điều 192, điểm c, điểm g, khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 244,
Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 41, Điều 122, Điều 188 Bộ
luật lao động năm 2019, Điều 30 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP, ngày 12/01/2015
của Chính phủ; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Khắc L.
- Hủy Quyết định về việc cho thôi việc (Với hình thức sa thải) ngày
05/01/2021 của Công ty cổ phần sơn Becker Ch đối với anh Nguyễn Khắc L.
- Buộc ng ty cổ phần sơn Becker Ch phải bồi thường cho anh Nguyễn
Khắc Ltổng số tiền 321.581.400 đồng(ba trăm hai mươi mốt triệu, năm trăm m
mươi mốt ngàn, bốn trăm đồng) cụ thể như sau:
- Tiền lương trong những ngày anh L không làm việc kể từ ngày anh L bị sa
thải là ngày 05/01/2021 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm là ngày 21/6/2022
là:241.960.000 đồng, (hai trăm bốn mt triệu,sáu trăm ngàn đồng);
- Trả 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động là:27.600.000 đồng, (hai
mươi bẩy triệu sáu trăm ngàn đồng);
- Tiềnbảo hiểm hội là: 42.343.000 đồng, (bốn mươi hai triệu, ba trăm
bốm mươi ba ngàn đồng);
- Tiền bảo hiểm y tế là: 7.258.800 đồng, (bẩy triệu, hai trăm năm mươi tám
ngàn tám trăm đồng);
- Tiền bảo hiểm thất nghiệp là: 2.419.600 đồng, (hai triệu bốn trăm mười
chín ngàn sáu trăm đồng).
+ Công ty cổ phần sơn Becker Ch không phải nhận lại anh Nguyễn Khắc L
về làm việc.
+ Đình chỉ yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần sơn Becker Ch đối với anh
Nguyễn Khắc L.
21
2.Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Khắc L về các nội
dung sau:
- BuộcCông ty phải trả cho anh L tiền trợ cấp thôi việc trong thời gian 17
tháng là: 15.000.000 đồng;
-BuộcCông ty phải bồi thường thiệt hại vật chất cho anh L trong 24 tháng
mỗi tháng 20.000.000 đồng tương ứng với số tiền là: 24 tháng x 20.000.000
đồng = 480.000.000 đồng;
-BuộcCông ty phải bồi thường thiệt hại về tinh thần cho anh L 10 tháng
lương bản tương ứng với số tiền : 10 tháng× 1.490.000 đồng/tháng =
14.900.000 đồng;
-BuộcCông ty phải truy đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm tai nạn cho anh L với mức đóng 13.800.000 đồng/tháng
phải truy đóng từ ngày 01/02/2020 cho đến ngày05/1/2021;
- BuộcCông ty phải bồi thường tiền trợ cấp thất nghiệp cho anh L tổng số
tiền là 57.687.210 đồng.
3. Đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu khởi kiện của anh L cụ thể gồm:
- BuộcCông ty phải trả cho anh L tiền lương tháng 12/2020 4 ngày của
tháng 01/2021 với tổng số tiền là: 23.000.000 đồng.
- BuộcCông ty phải trả cho anh L tiền doanh số trong tháng 12/2020 tiền
doanh số trong tháng 11/2020 do anh Lđã bị Công ty giữ lại là: 554.311.000 đồng
x 2% (tiền doanh số của tháng 12/2020) + 6.700.000 đồng, (tiền doanh số giữ lại
của tháng 11/2020) = 18.562.200 đồng.
- BuộcCông ty phải trả cho anh L tiền nghỉ phép 12 ngày trong năm 2020
với số tiền là: 9.230.000 đồng (theo quy định của Điều 113 BLLĐ năm 2019).
-BuộcCông ty phải trả cho anh Ltổng số tiền 43.726.100 đồng Công ty
đã tý trừ tiền lương của anh L, cụ thể: Tháng 02/2020, Công ty đã trừ 9.732.000
đồng; tháng 07/2020, Công ty đã trừ 7.477.500 đồng; tháng 08/2020, Công ty đã
trừ 6.932.000 đồng; tháng 10/2020, Công ty đã trừ 7.670.000 đồng; tháng 11/2020
Công ty đã trừ 1.530.000 đồng; tháng 12/2020, Công ty đã trừ 10.384.600 đồng.
4. Về án phí lao động sơ thẩm:
Buộc Công ty cổ phần sơn Becker Ch phải chịu 9.647.442 đồngán phí lao
động sơ thẩm.
Anh Nguyễn Khắc L không phải chịu án phí lao động sơ thẩm.
5. Về án phí lao động phúc thẩm:
Công ty cổ phần sơn Becker Chkhông phải chịu án phí lao động phúc thẩm.
22
Hoàn trả Công ty cổ phần sơn Becker Chsố tiền 300.000 đồng đã nộp tại
Biên lai thu tiền số 0006472, ngày 04/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện
V.
Anh Nguyễn Khắc L không phải chịu án phí lao động phúc thẩm.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b 9
của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi gửi:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-VKSND tỉnh Bc Giang;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
-Toà án nhân dân huyện V;
-Chi cục THADS huyện V;
-Các đương sự;
-Lưu HS; VP.
Đã ký
Phạm Thị Minh Hiền
Tải về
01_2023_LĐ-PT_ BAC GIANG 01_2023_LĐ-PT_ BAC GIANG

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

01_2023_LĐ-PT_ BAC GIANG 01_2023_LĐ-PT_ BAC GIANG

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất