Quyết định số 52/2026/QĐST-LĐ ngày 24/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Quyết định số 52/2026/QĐST-LĐ
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Quyết định số 52/2026/QĐST-LĐ
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Quyết định 52/2026/QĐST-LĐ
| Tên Quyết định: | Quyết định số 52/2026/QĐST-LĐ ngày 24/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 52/2026/QĐST-LĐ |
| Loại văn bản: | Quyết định |
| Ngày ban hành: | 24/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Hồ Thị Lợi yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu |
Tóm tắt Quyết định
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 52/2026/QĐST-VLĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 02 năm 2026
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hồng.
Thư ký phiên họp: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16
- Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ
lý số: 38/2026/TLST-VLĐ ngày 29 tháng 01 năm 2026 về việc
“
Yêu cầu tuyên bố
hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết
việc lao động số: 39/2026/QĐST-VLĐ ngày 06 tháng 02 năm 2026, gồm những
người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Hồ Thị L, sinh năm 1988; địa
chỉ: Tổ E, khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Dương H, sinh năm
2000; thường trú: Xã T, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ liên hệ: Quốc lộ A, tổ A, thôn B,
xã T, tỉnh Đồng Nai (Giấy ủy quyền ngày 06/01/2026), (có yêu cầu giải quyết
vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Hồ Thị T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, xã Q, tỉnh Nghệ An, (có
yêu cầu giải quyết vắng mặt);
2/ Công ty TNHH M; địa chỉ: Lô K đường số F, khu công nghiệp Đ, phường
B, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt);
3/ Bảo hiểm xã hội cơ sở L1; địa chỉ: Đường N, phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải
quyết nguyên đơn bà Hồ Thị L trình bày:
2
Từ tháng 08/2008 đến tháng 01/2015, bà L làm việc tại Công ty Cổ phần S
và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH)
7408217504. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ tháng 04/2008 đến tháng
12/2009, bà L cho em gái Hồ Thị T mượn chứng minh nhân dân để ký hợp đồng
lao động với Công ty TNHH M và bà Hồ Thị L xác định người ký hợp đồng lao
động và làm việc tại Công ty TNHH M là bà Hồ Thị T. Do hiểu biết pháp luật hạn
chế, để bà Hồ Thị T tìm được việc làm có thu nhập nuôi sống bản thân và phụ
giúp gia đình nên bà Hồ Thị L mới cho mượn chứng minh nhân dân để đi xin việc.
Vì vậy, bà Hồ Thị L bị trùng bảo hiểm xã hội trong thời gian cho bà Hồ Thị T
mượn thông tin cá nhân để làm việc. Để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm xã hội,
bà Hồ Thị L yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động
có tên bà Hồ Thị L (do bà Hồ Thị T là người ký kết) với Công ty TNHH M là vô
hiệu. Bà Hồ Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng
vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hồ Thị T thống nhất trình bày
của bà Hồ Thị L. Để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm của bà Hồ Thị L, bà Hồ Thị
T đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động theo đơn
yêu cầu của bà Hồ Thị L. Bà Hồ Thị T không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp
đồng vô hiệu.
- Tại Công văn của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu trình bày: Bà Hồ Thị
L, sinh ngày 12/11/1988, số chứng minh nhân dân 186596749, số căn cước công
dân 040188005605 có quá trình tham gia BHXH số sổ 7408050853 tại Công ty
TNHH M từ tháng 04/2008 đến tháng 12/2009. Đồng thời, từ tháng 08/2008 đến
01/2015 có quá trình tham gia BHXH số sổ 7408217504 tại Công ty Cổ phần S.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH M trình bày: Công
ty TNHH M vắng mặt và không có ý kiến trình bày.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố
Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá
trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng
quy định của pháp luật. Người yêu cầu bà Hồ Thị L, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Hồ Thị T và Bảo hiểm xã hội cơ sở L1 có yêu cầu giải quyết vắng
mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH M vắng mặt. Căn cứ
Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương
sự là phù hợp. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Hồ Thị L là có căn cứ, đề
nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Hồ Thị L, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị T, Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu có yêu cầu giải
quyết vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH M vắng
mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp
vắng mặt các đương sự.
[2] Xem xét yêu cầu của đương sự:
3
[2.1] Xem xét yêu cầu của đương sự: Trong thời gian từ tháng 04/2008 đến
tháng 12/2009, người lao động tên Hồ Thị L, sinh năm 1988, căn cước công dân
040188005605, được Công ty TNHH M tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408050853. Tuy nhiên, bà Hồ Thị L và bà
Hồ Thị T đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH M và
thực tế làm việc tại công ty T1 khoảng thời gian từ tháng 04/2008 đến tháng
12/2009 là bà Hồ Thị T (do bà Hồ Thị L cho bà Hồ Thị T mượn chứng minh nhân
dân để xin việc làm).
[2.2] Xét thấy, lời khai của bà Hồ Thị L và bà Hồ Thị T phù hợp với xác
nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng
08/2008 đến tháng 01/2015, bà Hồ Thị L tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ
Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) 7408217504 tại Công ty Cổ phần S. Như vậy,
chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M trong khoảng thời gian
tháng 04/2008 đến tháng 12/2009 là bà Hồ Thị T, không phải là bà Hồ Thị L.
Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15
của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao
động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về
nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19
của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin
cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn,
trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến
việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2
Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp
thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh,
giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng
sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động
mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô
hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký
kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của
Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng
thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại
khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số
1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của
người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L2 thì: “…Trường hợp người
lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi
phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao
động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo
quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b
khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô
hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà Hồ Thị T mượn hồ sơ cá nhân
của bà Hồ Thị L để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo
sổ BHXH số 7408050853 từ tháng 04/2008 đến tháng 12/2009 tại Công ty TNHH
M là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông
4
tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu
toàn bộ.
[2.3] Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị
L về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hồ Thị L với Công ty
TNHH M theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408050853 bị vô hiệu.
[2.4] Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem
xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô
hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao
động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị L về việc xác định người lao
động tại Công ty TNHH M trong giai đoạn từ tháng 04/2008 đến tháng 12/2009
là bà Hồ Thị T, không phải là bà Hồ Thị L. Bà Hồ Thị L và bà Hồ Thị T có quyền
liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo
hiểm xã hội mã số 7408050853.
[3] kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ
Chí Minh về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố
tụng cng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về lệ phí: Bà Hồ Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều
39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố
tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50, Điều 51 và Điều 52
của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, các Điều 49, 50 và 51 của Bộ
luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hồ Thị L.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hồ Thị L với Công ty TNHH M
(Theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408050853) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408050853 không
phải là bà Hồ Thị L, sinh năm 1988; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam, căn cước
công dân số 040188005605. Bà Hồ Thị L và bà Hồ Thị T được quyền liên hệ với
C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội
mã số 7408050853.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Hồ Thị L phải chịu 300.000đ
(ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu
số 0006158 ngày 19/01/2026 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
5
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng
cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ
ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền
kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát
cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ
ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND khu vực 16,
TP. Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 16,
TP. Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, HSVA.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
Trần Thị Hồng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng