Quyết định số 45/2026/QĐST-LĐ ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Quyết định 45/2026/QĐST-LĐ

Tên Quyết định: Quyết định số 45/2026/QĐST-LĐ ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 45/2026/QĐST-LĐ
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 10/02/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Trương Ngọc Tuyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
Tóm tắt Quyết định

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 45/2026/QĐST-VLĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 02 năm 2026
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hồng.
Thư ký phiên họp: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16
- Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý
số: 31/2026/TLST-VLĐ ngày 27 tháng 01 năm 2026 về việc
Yêu cầu tuyên bố
hợp đồng lao động hiệu” theo Quyết định mphiên họp thẩm giải quyết việc
lao động số: 33/2026/QĐST-VLĐ ngày 04 tháng 02 năm 2026, gồm những người
tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Trương Ngọc T, sinh năm 1990;
nơi thường trú: Ấp V, V, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: Số D khu phố B,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Bà Trương Diễm M, sinh năm 1992; nơi thường trú: Ấp V, xã V, tỉnh An
Giang; địa chỉ liên hệ: Số D khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, (có
yêu cầu giải quyết vắng mặt);
- Công ty TNHH S, địa chỉ: Khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh,
(vắng mặt);
- Bảo hiểmhội cơ sở L; địa chỉ: Đường N, phường L, Thành phố Hồ Chí
Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt);
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải
quyết người yêu cầu Trương Ngọc T trình bày: Trong khoảng thời gian ttháng
11/2008 đến tháng 05/2009 T làm việc tại Công ty TNHH N tham gia bảo
hiểm xã hội mã số 7408301966 và từ tháng 08/2011 đến tháng 03/2015 T làm
việc tại Công ty Cổ phần D, có tham gia bảo hiểm hội với số sổ Bảo hiểm
2
hội (viết tắt BHXH) 7911375408. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ tháng
04/2009 đến tháng 08/2011, bà T cho bạn tên Trương Diễm M mượn chứng minh
nhân dân để hợp đồng lao động với Công ty TNHH S Trương Ngọc T
xác định người hợp đồng lao động làm việc tại Công ty TNHH S
Trương Diễm M. Do hiểu biết pháp luật hạn chế, để bà Trương Diễm M tìm được
việc làm thu nhập nuôi sống bản thân phụ giúp gia đình nên bà Trương Ngọc
T mới cho mượn chứng minh nhân dân để đi xin việc. Vì vậy, bà Trương Ngọc T
bị trùng bảo hiểm hội trong thời gian cho Trương Diễm M mượn thông tin
nhân để làm việc. Để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm hội, bà Trương Ngọc
T yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động kết giữa người lao động tên bà
Trương Ngọc T (doTrương Diễm M người ký kết) với Công ty TNHH S từ
tháng 04/2009 đến tháng 08/2011 hiệu. Trương Ngọc T không yêu cầu
Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Diễm M thống nhất
trình bày của Trương Ngọc T. Để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm của Trương
Ngọc T, bà Trương Diễm M đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết
việc lao động theo đơn yêu cầu của bà Trương Ngọc T. Bà Trương Diễm M không
yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Tại Công văn của Bảo hiểm hội sL: Bảo hiểm hội sở Lái
Thiêu đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết
vụ án. Đồng thời tại phiếu yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ số
208334.07407/2022/HDHS ngày 23/11/2022 của Bảo hiểm xã hội tỉnh B thể hiện
Trương Ngọc T quá trình tham gia BHXH, các số sổ BHXH: Từ tháng
05/2008 đến tháng 08/2010, bà Trương Ngọc T tham gia bảo hiểm hội với
số sổ BHXH 7408123289 tại Công ty TNHH C. Từ tháng 07/2008 đến tháng
09/2009, Trương Ngọc T tham gia bảo hiểm hội với số sổ BHXH
7408189267 tại Công ty TNHH M1 (Việt Nam). Từ tháng 11/2008 đến tháng
05/2009, Trương Ngọc T tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ 7409157790
tại Công ty TNHH S. Từ tháng 08/2011 đến tháng 03/2015 bà Trương Ngọc T
tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ 7911375408 tại Công ty cổ phần D.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S trình bày: Công
ty TNHH S vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phHồ
Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động đề nghị: Quá trình
tố tụng, Thẩm phán, Thư phiên họp đương sự đã chấp hành theo đúng quy
định của pháp luật. Người yêu cầu Trương Ngọc T, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Trương Diễm MBảo hiểm xã hội cơ sở L yêu cầu giải quyết
vắng mặt, Công ty TNHH S vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự,
Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp. Về nội dung: Xét
thấy, yêu cầu của Trương Ngọc T căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp
nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
[1] Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu Trương Ngọc T, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Diễm M, Bảo hiểm xã hội sở Lái Thiêu
yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty TNHH S vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367
Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
[2] Xem xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Trong thời gian từ tháng 04/2009 đến tháng 08/2011, người lao động
tên Trương Ngọc T giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S tham gia bảo
hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với số sổ BHXH 7409157790.
Tuy nhiên, bà Trương Ngọc T và bà Trương Diễm M đều thừa nhận người ký hợp
đồng lao động với Công ty TNHH S thực tế làm việc tại công ty T1 khoảng thời
gian từ tháng 04/2009 đến tháng 08/2011 Trương Diễm M (do bà Trương
Ngọc T cho bà Trương Diễm M mượn chứng minh nhân dân để xin việc làm).
[2.2] Xét thấy, lời khai của Trương Ngọc T bà Trương Diễm M phù
hợp với xác nhận của Bảo hiểm hội tỉnh B. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ
tháng 11/2008 đến tháng 05/2009 bà Trương Ngọc T tham gia bảo hiểm hội với
số sổ Bảo hiểm hội (viết tắt BHXH) 7408301966 tại Công ty TNHH N
từ tháng 08/2011 đến tháng 03/2015, bà Trương Ngọc T tham gia bảo hiểm
hội với mã số sổ BHXH số 7911375408 tại Công ty Cổ phần D. Như vậy, chủ thể
kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S trong khoảng thời gian tháng
04/2009 đến tháng 08/2011 là bà Trương Diễm M, không phải là bà Trương Ngọc
T.
Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 khoản 1 Điều 15
của Bluật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao
động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hp tác và trung thực”. Theo quy định v
nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19
của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho
người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi trú, trình độ học vấn, trình
độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc
giao kết hp đồng lao động mà người sdụng lao động yêu cầuvà khoản 2 Điều
16 của Bộ luật Lao đng năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin
trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính,
nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe
và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người
sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm
b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: Người kết hợp đồng
lao động không đúng thẩm quyềnvà điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao
động năm 2019, thì: Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền
hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều
15 của B luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH
ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ của người khác để giao kết
hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn h của
người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung
thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động vi phạm nghĩa
vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2
4
Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của
Bộ luật Lao động đây trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do
đó, có cơ sở xác định việc bà Trương Diễm M mượn hồ sơ cá nhân của bà Trương
Ngọc T để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm hội theo sổ BHXH
số 7409157790 t tháng 04/2009 đến tháng 08/2011 tại Công ty TNHH S là hành
vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi
giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
[2.3] Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Trương
Ngọc T về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa Trương Ngọc T với
Công ty TNHH S từ tháng 04/2009 đến tháng 08/2011 theo s bảo hiểm xã hội số
7409157790 bị vô hiệu.
[2.4] Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động hiệu, thỏa ước lao động tập thể hiệu:
“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động
hiệu", chấp nhận yêu cầu của Trương Ngọc T về việc xác định người lao
động tại Công ty TNHH S trong giai đoạn từ tháng 04/2009 đến tháng 08/2011 là
Trương Diễm M, không phải Trương Ngọc T. Trương Ngọc T
Trương Diễm M quyền liên hệ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải
chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409157790.
[3] kiến ca đại din Vin kim sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ
Chí Minh v nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành t
tng cng như din biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về lệ phí: Bà Trương Ngọc T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều
39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 402 của Bộ luật Tố
tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50, Điều 51 Điều 52
của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, các Điều 49, 50 và 51 của Bộ
luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
ca y ban Thường v Quc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động ca Trương Ngọc
T.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trương Ngọc T với Công ty TNHH
S (Theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409157790) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm hội số 7409157790 không
5
phải Trương Ngọc T, sinh năm 1990; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam, căn
cước công dân số 091190024401. Bà Trương Ngọc T và bà Trương Diễm M được
quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ
bảo hiểm xã hội mã số 7409157790.
2. Lệ phí thẩm giải quyết việc lao động: Trương Ngọc T phải chịu
300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo
biên lai thu số 0004644 ngày 15/01/2026 của Thi hành án Dân sThành phố Hồ
Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quyền kháng
cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ
ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát ng cấp quyền kháng
nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa
án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND khu vực 16,
TP. Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 16,
TP. Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, HSVA.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
Trần Thị Hồng
Tải về
Quyết định số 45/2026/QĐST-LĐ Quyết định số 45/2026/QĐST-LĐ

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Quyết định số 45/2026/QĐST-LĐ Quyết định số 45/2026/QĐST-LĐ

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Quyết định cùng lĩnh vực

Quyết định mới nhất