Quyết định số 34/2025/DS-GĐT ngày 23/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Quyết định 34/2025/DS-GĐT

Tên Quyết định: Quyết định số 34/2025/DS-GĐT ngày 23/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 34/2025/DS-GĐT
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 23/06/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở QSD đất
Tóm tắt Quyết định

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Quyết định giám đốc thẩm
Số 34/2025/DS-GĐT
Ngày 23/6/2025
V/v “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu
chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành viên tham gia xét xử giám đốc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đặng Kim Nhân
Các Thẩm phán: ông Trần Quốc Cường và ông Nguyễn Tấn Long
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Thu Ba - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp liên quan đến yêu
cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất”, giữa:
Nguyên đơn: Th T, sinh năm 1968; đa ch: thôn N, phường P, th
xã P, thành ph H.
B đơn:
1. ông Nguyn T1, sinh năm 1973 Nguyn Th D, sinh năm 1963;
cùng địa ch: thôn N, xã H, huyn H, Qung Tr.
2. Nguyn Th N, sinh năm 1977; địa ch: thôn T, H, huyn H, tnh
Qung Tr.
Người có quyn lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. y ban nhân dân xã H, huyn H, tnh Qung Tr.
2. ông Nguyn P, sinh năm 1967; đa ch: thôn N, H, huyn H, tnh
Qung Tr.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 24/10/2022 trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Bà Tông Nguyễn P trước đây là vợ chồng, nhưng năm 1998 đã ly hôn
chia tài sản chung. Tại phần quyết định chia tài sản chung của Bản án Hôn nhân
gia đình sơ thẩm số 01/DSST ngày 22/8/2000 của Tòa án nhân dân huyện Hải
2
Lăng và Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm số 08/LHPT ngày 25/9/2000 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
- Tạm giao cho Thị T quản lý diện tích đất 1.944m² (chiều dài
108m, chiều rộng 18m), ranh giới phía Nam giáp đất tạm giao cho ông Nguyễn P,
phía Bắc giáp vườn nhà ông G, phía y giáp vườn bạch đàn, phía Đông giáp
Quốc lộ A. Tại thôn T, xã H (nay là thôn N, xã H), huyện H, tỉnh Quảng Trị. Tạm
giao cho ông Nguyễn Phước 1 (chiều dài 108m, chiều rộng 14m), ranh giới phía
Bắc giáp đất tạm giao cho bà Lê Thị T, phía Nam giáp vườn nhà ông T2, phía Tây
giáp vườn bạch đàn, phía Đông giáp Quốc lộ A. Tại thôn T, xã H (nay là thôn N,
xã H), huyện H, tỉnh Quảng Trị.”. Bản án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm không
bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc, tái thẩm.
Ngày 10/10/2000, T Đơn yêu cầu thi hành án Đội Thi hành án
huyện Hải Lăng đã ban hành Quyết định số 58/THA ngày 10/10/2000 thi hành Bản
án phúc thẩm số 08/PTLH ngày 25/9/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
Quá trình tổ chức thi hành án, Đội thi hành án huyện H lập Biên bản xác minh ngày
26/8/2005 về điều kiện thi hành án, nội dung do diện tích đất tạm giao cho H
đang có tranh chấp về địa giới hành chính giữa tỉnh Quảng Trị tỉnh Thừa Thiên
Huế nên ngày 29/8/2005 ban hành quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án cho
bà T.
Ngày 13/5/2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 31/NQ-CP phân định
lại địa giới hành chính giữa tỉnh Thừa Thiên Huế với tỉnh Quảng Trị thì diện tích
1.944m² đất bà T được tạm giao thuộc địa giới hành chính thôn N, xã H, huyện H,
tỉnh Quảng Trị nên bà T gửi Đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án huyện H tiếp tục
thi hành quyết định của Bản án phúc thẩm số 08/PTLH ngày 25/9/2000 của Tòa
án nhân dân tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, hiện nay diện tích đất T được tạm giao
theo quyết định của bản án phúc thẩm đang bị ông Nguyễn T1, bà Nguyễn Thị D,
Nguyễn Thị N chiếm dụng làm nhà, trồng nhiều cây và đổ 1.000m³ đất san lấp,
cản trở không cho T sử dụng đất; vậy, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc
ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị N chấm dứt hành vi cản trở
quyền sử dụng đất của T yêu cầu tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình xây dựng
và tài sản ra khỏi phần đất của bà T.
* Bị đơn ông Nguyễn T1, bà Nguyễn Thị DNguyễn Thị N trình bày:
các Ông, Bà là con ruột của cụ Nguyễn O và cụ Nguyễn Thị Đ (đều đã chết), cO
cụ Đ sử dụng thửa đất diện tích 4.920m
2
tnhững năm 1976 Ủy ban nhân
dân xã H, huyện H xác nhận diện tích đất này do cụ O và cụ Đ khai hoang từ năm
1976, không tranh chấp. Ông Nguyễn PThị T kết hôn năm 1987 được
cụ O và cụ Đ cho mượn 3.479m
2
đất trên tổng diện tích 4.920m
2
đất của hai cụ để
ở và sản xuất từ năm 1988. Cụ O, cụ Đ không cho ông P, bà T đất nên việc Tòa án
chia tạm giao diện tích đất trên cho T trái pháp luật, ảnh hưởng nghiêm
trọng quyền lợi ích hợp pháp của cha mẹ các Ông, Bà, do đó, đề nghị Tòa án
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn P trình bày: Quyết
định tại Bản án Hôn nhân gia đình thẩm phúc thẩm số 08/LHPT ngày
05/9/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị là không đúng pháp luật nên ông P
3
đã gửi đơn đến Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu xem xét theo thủ tục tái thẩm và
ngày 15/3/2023 Tòa án nhân dân tối cao đã thông báo số 120/TB-TA trả lời
không có căn cứ kháng nghị Bản án phúc thẩm. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà
T thì ông cho rằng sau khi cha mẹ ông chết toàn bộ đất của cha mẹ các anh, chị,
em của ông quản lý, sử dụng; sau khi ly hôn, bà T đã đi khỏi địa phương và cũng
đã hết quyền yêu cầu thi hành án nên đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của T.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã H, huyện
H trình bày: diện tích đất các bên đang tranh chấp thuộc thửa đất số 407, tờ bản đồ
số 25 được quy hoạch đất ở, nếu không tranh chấp tđủ điều kiện để được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 Tòa án
nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị quyết định:
Căn cứ Điều 12, Điều 166 Luật đất đai; căn cứ Điều 169 Bộ luật dân sự,
khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271
Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự điểm a, b khoản 2 Điều 27 Nghị Quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, tuyên
xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.
2. Buộc ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị D Nguyễn Thị N chấm dứt
hành vi cản trở quyền sử dụng đất của Lê Thị T với diện tích 1.944m² tại thửa
đất số 407, tbản đồ số 25, địa chỉ thửa đất tại thôn N, H, huyện H, tỉnh Quảng
Trị. Thửa đất có tứ cận:
- Phía Bắc: Giáp đất của bà Nguyễn Thị H1(ông Trần Viết G), có cạnh dài
108m.
- Phía Nam: Giáp phần đất Tòa án tạm giao cho ông Nguyễn P, cạnh
dài 108m.
- Phía Đông: Giáp Quốc lộ A, có cạnh dài 18m.
- Phía Tây: Giáp đất nghĩa địa do Ủy ban nhân dân xã H quản lý, có cạnh
dài 18m.
Buộc ông Nguyễn T1, bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị N tháo dỡ và di
dời toàn bộ công trình xây dựng tài sản ra khỏi phần đất Tòa án đã tạm
giao của bà Lê Thị T, trừ khối lượng đất mà ông T1, bà D và bà N đổ để san nền.
Buộc Thị T phải trtiền đổ đất san nền cho ông Nguyễn T1,
Nguyễn Thị DNguyễn Thị N là 6.080.000 đồng.
Bản án sơ thẩm còn có quyết định về án phí, chi phí tố tụng.
Sau khi xét xử sơ thẩm ông Nguyễn T1, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Th
N và ông Nguyễn P kháng cáo
* Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 70/2023/DS-PT ngày 13/12/2023,
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị quyết định:
1. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 192; điểm g khoản 1 Điều 217; khoản 4
Điều 308; Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị D,
Nguyễn Thị N người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phước .
4
Huỷ Bản án dân sự thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa
án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị và đình chỉ giải quyết vụ án.
Bản án phúc thẩm còn quyết định về án phí.
* Ngày 07/12/2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng nhận được đơn
đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm của bà T đối với Bản án dân sự phúc
thẩm.
* Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 08/2025/KN-DS ngày
05/6/2025, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng ngh Bn án dân
s phúc thm s 70/2023/DS-PT ngày 13/12/2023 ca Tòa án nhân dân tnh Qung
Trị; đề ngh y ban Thm phán Tòa án nhân dân cp cao tại Đà Nẵng xét x giám
đốc thm hy toàn b bn án phúc thm, giao h vụ án cho Tòa án nhân dân
tnh Qung Trt x phúc thm lại, đúng quy định ca pháp lut.
* Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại
Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp
nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 08/2025/KN-DS ngày 05/6/2025
của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bn án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 01/DSST ngày 22/8/2000 của
Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm số
08/LHPT ngày 25/9/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã quyết định giao
cho Thị T sở hữu một ngôi nhà xây bờ lô, lợp tôn Fibro xi măng và tạm giao
sử dụng một phần đất vườn diện tích 1.944m² (chiều dài 108m, chiều rộng 18m);
ranh giới phía Nam giáp đất tạm giao cho ông Nguyễn P; phía Bắc giáp vườn nhà
ông Trần Viết G; phía Tây giáp vườn bạch đàn; phía Đông là mặt tiền giáp Quốc
lộ A, tính tmép nhà phía Nam (hướng Huế) ra 01 mét, kéo đến ranh giới nhà ông
Trần Viết G; nhà đất thuộc thôn T, H (nay thôn N, H) huyện H, tỉnh Quảng
Trị. Bản án sơ thẩm và phúc thẩm trên không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm.
[2] Ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị D Nguyễn Thị N đã đổ đất, trồng
cây và xây dựng công trình trên diện tích đất mà quyết định tại Bn án Hôn nhân
gia đình sơ thẩm số 01/DSST ngày 22/8/2000 của Tòa án nhân dân huyện Hải
Lăng và Bản án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 08/LHPT ngày 25/9/2000 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị tạm giao cho T quản lý, sử dụng, đồng thời cản
trở quyền sử dụng đất của bà T. T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc
ông T1, bà D và bà N chấm dứt hành vi cản trở bà T thực hiện quyền sử dụng đất
nên Tòa án cấp thẩm thụ vụ án, xác định quan hpháp luật cần giải quyết
“Tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất”
theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ, đúng
pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định yêu cầu khởi kiện của T “Yêu
cầu về tranh chấp quyền sdụng đất đã được Tòa án giải quyết bằng bản án đã
có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thi hành xong” không đúng vì quyền sử dụng
đất của T đã được quyết định tại bản án hiệu lực pháp luật không bị kháng
5
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và nội dung đơn khởi kiện T không
tranh chấp quyền sử dụng đất chỉ yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi cản trở bà
T thực hiện quyền của người có quyền sử dụng đất.
[3] B đơn và người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo bản án sơ
thm v phn nội dung, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm chưa xem xét mi ch
xem xét v phn t tụng nên để đảm bo quyn và li ích hp pháp của các đương
s nên Hội đồng giám đốc thm chp nhn quyết định kháng ngh ca Chánh án
Tòa án nhân dân cp cao tại Đà Nẵng để hy toàn b bn án phúc thm, giao h sơ
v án cho cp phúc thm xét x phúc thm lại, đúng quy định ca pháp lut.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 337; khoản 3 Điều 343; Điều 345; Điều 348
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc
thẩm số 08/2025/KN-DS ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Chánh án Tòa án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng:
Hy toàn b Bn án dân s phúc thm s 70/2023/DS-PT ngày 13/12/2023
ca Tòa án nhân dân tnh Qung Tr về “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm
dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn Thị T với bị đơn
ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị DNguyễn Thị N; người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là y ban nhân dân H, huyn H, tnh Qung Tr ông Nguyn
P; giao h vụ án cho Tòa án nhân dân tnh Qung Tr xét x phúc thm li, đúng
quy định ca pháp lut.
Nơi nhận:
- Vụ Giám đốc kiểm tra II - TANDTC;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Trị (kèm hồ sơ vụ án để
xét xử phúc thẩm lại);
- TAND huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng,
tỉnh Quảng Trị (để thi hành);
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu: Vụ Giám đốc thẩm, tái thẩm; lưu trữ.
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Kim Nhân
6
7
8
9
10
Tải về
Quyết định số 34/2025/DS-GĐT Quyết định số 34/2025/DS-GĐT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Quyết định số 34/2025/DS-GĐT Quyết định số 34/2025/DS-GĐT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Quyết định cùng lĩnh vực

Quyết định mới nhất