Quyết định số 197/2025/QĐST-KDTM ngày 26/06/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại việt nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Quyết định 197/2025/QĐST-KDTM

Tên Quyết định: Quyết định số 197/2025/QĐST-KDTM ngày 26/06/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại việt nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại
Quan hệ pháp luật: Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 197/2025/QĐST-KDTM
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 26/06/2025
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Tóm tắt Quyết định

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số: 197/2025/QĐ-PQTT Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 6 năm 2025
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm có:
Thẩm phán, Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Quốc Đạt
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Quỳnh Anh
Bà Ngô Thị Phúc Hảo
Thư phiên họp: Ông Phạm Ngọc Tâm - Cán bộ Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
họp: Bà Huỳnh Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên
Trong các ngày 19/6/2025 ngày 26/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh, đã tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự thụ lý số
77/2025/TLST-KDTM ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc: “Yêu cầu hủy phán
quyết trọng tài” theo Quyết định mở phiên họp số 5806/2025/QĐ-MPH ngày 29
tháng 4 năm 2025 Quyết định hoãn phiên họp số 7341/QĐHPH-ST ngày
27/5/2025
Người yêu cầu: Công ty TNHH H3 - Địa chỉ trụ sở: Thôn E, H, huyện
V, tỉnh Quảng Ninh - Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Hồng H - Địa
chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, Số B C, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh -
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho: Công ty TNHH H3: Ông Nguyễn
Bùi Bá H1 - Là Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần K - Địa chỉ trụ
sở: Số C Đường số G, Khu phố A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí
Minh - Người đại diện theo ủy quyền: Phạm Thị Kim O - Địa chỉ: Số A N,
phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - Người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp của Công ty Cổ phần K: Ông Vĩnh Ngọc B - Luật Công
ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H
Các đương sự có mặt tại phiên họp, Công bố quyết định ngày 26/6/2025
NHẬN THẤY:
2
Theo đơn yêu cầu ngày 28/02/2025, bản tự khai ngày 02/4/2025,
27/5/2025 tại phiên họp người đại diện theo ủy quyền Công ty TNHH H3
(gọi tắt là Công ty H3) trình bày:
Công ty H3 Công ty Cổ phần K (gọi tắt là Công ty K) kết thỏa
thuận Hợp đồng Dịch vụ vấn thiết kế Ý tưởng Thiết kế sở cho Kiến
trúc, Kết cấu điện thuộc Dự án A, V - Khu R (RS2), M (DL4 đến DL13)
và Trung tâm Giải trí (CCDT1) tại tỉnh Quảng Ninh số 210713/AT-JW &
Marine/CONT/HDMON-FGE (“Hợp đồng”) đề ngày 13/07/2021 với Dịch vụ tư
vấn trọn gói cố định 13.296.800.000 VNĐ. Do có phát sinh tranh chấp nên
Công ty K nộp đơn khởi kiện tại Trung tâm T3 bên cạnh Phòng T4 - Chi Nhánh
Thành Phố H (V) yêu cầu Công ty H3 thanh toán đợt 2 của 2 hạng mục sau (sau
khi đã cấn trừ đi các khoản tạm ứng): Thiết kế cơ sở cơ điện: 895.643.637 VND;
Thiết kế cơ sở Kết cấu và Hạ tầng: 876.363.637 VND.
Quyết định của Hội đồng trọng tài:
“Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty K, buộc Bị đơn
Công ty H3 phải thanh toán cho Công ty K các khoản tiền sau:
Phí dịch vụ đối với phần công việc đã hoàn thành cho phần thiết kế
điện (sau khi đã khấu trừ đi s tiền 408.800.000 VND tạm ứng đợt 1) là:
895.643.637 VND; Phí dịch vụ đối với phần công việc đã hoàn thành cho phần
thiết kế Kết cấu Hạ tầng (Sau khi đã khấu trừ đi số tiền 400.000.000 VND
tạm ứng đợt 1) là: 876.363.637 VND; Phí trọng tài là: 111.744.642 VND.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân s2015, Điều 11 Luật
thương mại 2005; khoản 1, khoản 2 Điều 4 Luật trọng tài thương mại 2010;
Điều 14 Luật Giao dịch điện tử 2005 Công ty H3 đề nghị hủy phán quyết trọng
tài theo điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật trọng tài thương mại 2010, cụ thể:
Hội đồng trọng tài đã sử dụng các chứng cứ chưa được xác thực các
email không được lập vi bằng để làm căn cứ giải quyết vụ việc: Trong Phán
quyết trọng tài, nhiều nội dung email Nguyên đơn cung cấp được Hội
đồng Trọng tài căn cứ vào đó để đánh giá, kết luận trong khi các nội dung email
này lại không có trong Vi bằng. Các email đó đã được Hội đồng trọng tài đề cập
trong các mục sau Phán quyết: 90.2; 90.3; 90.4; 90.5; 90.6; 90.7; 90.9; 90.12;
98.5; 98.6; 98.7 ( tại mục 98.7 có đề cập đến một email ngày 17/02/2022).
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định
về thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng, giá trị pháp của vi bằng: “3. Vi bằng
nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự hành chính
theo quy định của pháp luật; căn cứ để thực hiện giao dịch giữa các quan,
tổ chức, nhân theo quy định của pháp luật……” sxác định vi bằng
được xem là nguồn chứng cứ để xem xét khi giải quyết vụ việc trong tố tụng dân
sự. Trên tinh thần áp dụng nguyên tắc sử dụng chứng cứ trong tố tụng dân sự,
3
Công ty H3 nhận thấy việc sử dụng email không được lập vi bằng của Hội đồng
trọng tài trái với nguyên tắc sử dụng chứng cứ trong quy trình ttụng theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bên cạnh đó, Công ty H3 không thừa nhận
các nội dung email Công ty K đã cung cấp. Hội đồng trọng tài sử dụng các
email làm căn cứ để nhận định đưa ra phán quyết thiếu khách quan, công
bằng khi giải quyết vụ việc, vi phạm nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ
luật dân sự 2015 và khoản 2 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại 2010.
Hội đồng trọng tài đã không triệu tập người làm chứng theo yêu cầu của
Công ty H3: Ngày 02/01/2015, Hội đồng trọng tài đã gửi Văn tsố 06/VIAC-
HCM phản hồi đến các bên về vấn đề mời người làm chứng. Hội đồng Trọng tài
yêu cầu các bên thông báo cho Hội đồng Trọng tài biết trước nếu mời người làm
chứng đến tham gia các phiên họp. Cho đến ngày tổ chức phiên họp cuối cùng,
Hội đồng trọng tài không nhận được bất kỳ thông báo nào của các bên về việc
mời người làm chứng”. [Số thứ tự 118 Phán quyết trọng tài]. Công ty H3 không
đồng ý với quan điểm trên của Hội đồng trọng tài. Công ty H3 cho rằng: Việc
triệu tập người làm chứng là cần thiết sẽ làm thay đổi bản chất giải quyết vụ
việc. Trong quá trình giải quyết vụ việc, Công ty H3 đã nhiều lần gửi đến Hội
đồng trọng tài văn bản đề nghị triệu tập người làm chứng cụ thể: Đơn ngày
27/11/2024; Bản trình bày ý kiến ngày 16/12/2024…Trong quá trình làm việc
tại V, Công ty H3 đã đề nghị triệu tập những người sau làm người làm chứng:
Ông Tuấn D; Trâm A; Ông Nguyễn Anh T; Ông Timothy T1. Những
người này đều có tên trong email mà Công ty K đã cung cấp cho Hội đồng trọng
tài. Công ty H3 luôn phủ nhận những người này nhân sự của Công ty H3
không thừa nhận các email. Do đó, việc triệu tập những người này vào vụ việc
với tư cách người làm chứng là hoàn toàn có cơ sở để làm rõ vụ việc. Riêng ông
Nguyễn Vũ Anh T- đại diện theo ủy quyền của Công ty H3 kết Hợp đồng,
thời điểm giải quyết tại V ông T đang bị tạm giam tại trại giam T5, Công ty H3
không khả năng trong việc mời ông T làm người làm chứng. Đây người
duy nhất trong tất cả những người có thông tin Công ty K đề cập được Công
ty H3 thừa nhận nhân sự của Công ty H3. Do đó, việc triệu tập ông T cần
thiết. Quan điểm của Hội đồng trọng tài về việc không cần triệu tập người làm
chứng theo yêu cầu của Công ty H3 đang vi phạm nguyên tắc quy định tại khoản
1 Điều 3 Bộ luật dân sự: “Mọi nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được
lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các
quyền nhân thân tài sản”. Việc này đang ảnh hưởng đến sự khách quan, công
bằng giữa các Bên khi giải quyết vụ việc, trong trường hợp này đang ảnh
hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Công ty H3.
Hội đồng trọng tài đã không tôn trọng thỏa thuận của các bên. Biên bản
nghiệm thu tài liệu quan trọng, cần được xem tài liệu hợp lệ bắt buộc
trong hồ yêu cầu thanh toán: Quá trình làm việc khi tiến hành đối chứng tài
4
liệu thì Công ty K không cung cấp được bản gốc của Biên bản nghiệm thu giai
đoạn tranh chấp, bị đơn phủ nhận về Biên bản nghiệm thu Công ty K cung cấp
cho rằng chưa nghiệm thu, chưa nghiệm thu ông Nguyễn Anh T
không thẩm quyền trong việc Biên bản nghiệm thu. Ngoài Biên bản
nghiệm thu đối với hạng mục công việc đang tranh chấp, Công ty K cung cấp
Biên bản nghiệm thu năm 2021 giai đoạn các bên đã tiến hành thanh toán
hoàn tất đợt 1 mà không phải nghiệm thu cả quá trình thực hiện hợp đồng. Trong
suốt toàn bộ quá trình làm việc tại Trung tâm T3, Công ty H3 không có bất cứ ý
kiến nào phủ nhận hồ sơ thanh toán gồm Biên bản nghiệm thu, mà chỉ phủ nhận
về chữ trên Biên bản nghiệm thu Công ty K cung cấp đối với hạng mục
đang tranh chấp nghi ngờ các Biên bản dấu hiệu giả mạo chữ ký, sau đó
Công ty H3 có thêm căn cứ để xác định rằng các bên chưa thực hiện nghiệm thu,
chưa ký Biên bản nghiệm thu và Công ty K cũng không cung cấp được Biên bản
nghiệm thu gốc. Công ty K trình bày ý kiến nhận được Biên bản nghiệm thu
bản scan qua zalo, nhưng tài tài khoản zalo không đảm bảo tính xác thực
nên Hội đồng trọng tài không chấp nhận dùng làm chứng cứ. Công ty H3 cho
rằng chưa ký Biên bản nghiệm thu và chưa nghiệm thu; Hai bên không có bất cứ
tranh cãi hay phản đối đối với đợt thanh toán lần 1 theo biên bản nghiệm thu
năm 2021. Hội đồng trọng tài suy luận khẳng định không cần cung cấp Biên
bản nghiệm thu thì Công ty H3 vẫn trách nhiệm thanh toán cho Công ty K là
vi phạm nguyên tắc tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015; Điều 11
Luật thương mại 2005, khoản 1 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại 2010.
Thỏa thuận về điều kiện thụ lý, xác lập thẩm quyền của hội đồng trọng tài
V: Theo Điều 8.1.1 Điều kiện riêng của H2 dồng FIDIC quy dịnh: "Nếu bất
kỳ tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Thoa thuận này, đại diện của các
Bên thầm quyền giải quyết tranh chấp, trong vòng 14 ngày kể từ ngày của
văn bản của một Bên gởi đến Bên kia, sẽ gặp nhau để giải quyềt tranh chấp
trong nỗ lực thiện chí. Nếu Bên kia không trả lời trong vòng 14 ngày, hoặc
tranh chấp không thể được giải quyết một cách thiện chí trong vòng 14 ngày sau
khi phân hồi của Bên đó, Điều 8.3 sẽ được áp dụng". vậy, các bên đều hiểu
và thống nhất Điều 8.1.1 nêu trên là điều kiện để áp dụng thẩm quyền giải quyết
tranh chấp tại Điều 8.3 Điều kiện hợp đồng. Hội đồng Trọng tài cũng chấp nhận
điều kiện này tại mục nhận định thứ tự 55 trong Phán quyết của trọng tài: 55.
Đối với u hỏi về việc nội dung Điều 8.1.1 Phần Điều kiện Riêng phải
điều kiện áp dụng Điều 8.3 Điều kiện Riêng hay không? Hội đồng Trọng tài
chấp nhận ý kiến của Bị đơn rằng ngôn ngữ và nội dung của điều kiện này đủ rõ
để phản ánh ý chí rằng một Bên sẽ không được quyền áp dụng Điều 8.3 Điều
kiện Riêng khi chưa thỏa mãn điều kiện đó”.Nhưng, tại mục nhận định thứ tự
57-59 của Phán quyết trọng tài đã bỏ qua áp các điều kiện này vẫn cho rằng
Hội đồng trọng tài thẩm quyền chỉ dựa vào phân tích bị đơn nhận được
5
email” “không thực hiện thanh toán”. Chính điều này chứng minh rằng Hội
đồng trọng tài đã không tôn trọng thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng.
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 4, điểm đ khoản 1 Điều 68, Điều 47 Luật
Trọng tài thương mại 2010; Điều 11 Luật thương mại 2005; khoản 1, khoản 2
Điều 3 Bộ luật dân sự 2015, Điều 14 Luật Giao dịch điện tử 2005, Công ty H3
đề nghị Hội đồng xét đơn tuyên Hủy Phán quyết Trọng tài Vụ tranh chấp số
157/24 HCM lập ngày 04/02/2025 của V, bởi vì Phán quyết trọng tài trái với các
nguyên tắc bản của pháp luật Việt Nam, cụ thể: Hội đồng trọng tài đã sử
dụng các chứng cứ chưa được xác thực các email không được lập vi bằng;
Không triệu tập người làm chứng theo đơn yêu cầu của Công ty H3; Không tôn
trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty K:
Đối với kênh liên lạc qua thư điện tử các email Công ty K đã cung
cấp cho Hội đồng Trọng tài: Công ty H3 chủ đầu gửi hồ mời thầu đến
Công ty K đề nghị Công ty K trao đổi, làm việc qua email của nhân sự Công
ty H3 do Công ty H3 cung cấp. Ngay từ giai đoạn đầu khi Công ty K và Công ty
H3 trao đổi phỏng vấn thầu, Công ty H3 là chủ đầu tư chủ động đề nghị Công ty
K phải làm việc với ai, cách thức liên lạc qua email, thời gian do Công ty H3
thiết lập. Kênh liên lạc giữa các bên thông qua email, trong quá trình khởi kiện
tại V, Công ty K đã trình bày, nộp các hồ sơ, tài liệu và Hội đồng Trọng tài đã
xem xét và phân tích kỹ lưỡng được ghi nhận tại số thứ tự 90, 91, 92 để có cơ sở
cho rằng “Các bên đã xác lập việc trao đổi với nhau về gói thầu bằng kênh liên
lạc điện tử”.
Công ty H3 là pháp nhân do đó Công ty H3 phải chịu trách nhiệm đối với
việc quản lý nhân sự của mình. Công ty K đã làm việc theo đúng hợp đồng, thỏa
thuận với Công ty H3, làm việc với nhân sự Công ty H3 gửi theo danh sách. Nội
dung các email: đã được Hội đồng Trọng tài xem xét phân tích klưỡng tại
số thtự 90, 91 để sở kết luận Công ty K đã nhận được các liên lạc trao
đổi thư từ các nhân sự địa chỉ email liên hliệt dưới đây, những người đã
trực tiếp điều phối, liên hnắm đầy đthông tin về việc gọi thầu, thẩm vấn
năng lực nvấn, đàm phán giá đi đến giao kết Hợp đồng với Công ty K:
(Bà) Anh CHAN, trợ QS: [email protected].vn(Bà) Thong Thi K:
anh.ttk@hdmon.com.vn(ông) Huat Chioang:
huat.chioan[email protected](ông) Tim Tong: tim.tong@hdmon.com.vn(ông)
Khoa: [email protected]ng) T: thi.nva@hdmon.com.vnhiện trong thư
điện tử ngày 14/06/2021 về việc dự thảo thư chấp thuận)”.
Việc Công ty H3 cho rằng Hội đồng trọng tài chỉ căn cứ trên email
chưa chính xác. Ngoài các email, nội dung email, Hội đồng Trọng tài xem xét cả
Thư chấp thuận, Thỏa thuận Hợp đồng, Phụ lục Hợp đồng để xác định hay
6
không sở xác định các bên bắt đầu trao đổi với nhau về gói thầu tiến
hành giao kết hợp đồng thông qua kênh liên lạc điện tử giữa Công ty K Công
ty H3. Hội đồng Trọng tài đã để các bên trình bày, đưa ra tài liệu để chứng minh
cho lập luận của các bên. Công ty H3 luôn phủ nhận toàn bộ email thư điện tử,
phủ nhận toàn bộ địa chỉ email nhân sự của Công ty H3 nhưng không đưa ra
được bất kỳ tài liệu nào để chứng minh. Còn Công ty K để có cơ sở chứng minh
đã đưa ra các lập luận, tài liệu làm sở chứng minh để bảo vệ nh trong khi
tất cả các nhân sự và địa chỉ email do Công ty H3 yêu cầu Công ty K liên hệ
làm việc. Tại số thứ tự 93 Phán quyết trọng tài, Hội đồng trọng tài đã nhận xét:
Việc Công ty H3 phủ nhận toàn bộ các nội dung trao đổi qua tđiện t
khẳng định các địa chỉ email nêu trêu không tồn tại, theo đó Công ty H3 từ chối
toàn bộ các tđiện tử Nguyên đơn đệ trình phủ nhận tất cả nhân sự này
không thuộc danh sách nhân viên của Công ty H3. Công ty H3 không cung cấp
được bất tài liệu nào đchứng minh cho lập luận này. Trong khi đó, Hội
đồng Trọng tài nhận thấy nội dung các thư điện tử này phù hợp và trùng khớp
với thời gian và nội dung Hợp đồng đã được giao kết như đã phân tích ở đoạn 91
nêu trên.
Công ty K ký kết Hợp đồng với Công ty H3 - do người đại diện theo pháp
luật là Tổng giám đốc của Công ty H3 ông Nguyễn Anh T đúng theo
quy định của pháp luật, đại diện Công ty H3 cũng đã thừa nhận thẩm quyền của
ông Nguyễn Anh T về việc T2 chấp thuận Thỏa thuận Hợp đồng. Còn
về vấn đề ông Nguyễn Anh T đã bị bắt vào tháng 10/2022, phía Công ty H3
phải nghĩa vụ thông báo đến các đối tác của mình về vấn đề này để các đối
tác biết xử công việc đang hợp tác. Đồng thời, Công ty H3 phải cử người
khác thực hiện các công việc của ông Nguyễn Anh T, đó vấn đề nội bộ
của Công ty H3, Công ty H3 phải trách nhiệm. Đối chiếu với hồ mời thầu
Công ty H3 gửi đến Công ty K, T2 chấp thuận và Hợp đồng Công ty K
Công ty H3 đã ký. Công ty H3 bên chủ đầu đã cử nhân sự làm việc với
Công ty K (nhà thầu), bây giờ Công ty H3 lại cho rằng những nhân sự Công
ty K làm việc trao đổi thực hiện Hợp đồng không phải nhân scủa Công ty H3
và yêu cầu Công ty K cung cấp thông tin liên hệ của bên nhân sự Công ty H3, rõ
ràng đây là vấn đề trong quản lý nhân sự của Công ty H3. Do đó việc Công ty
H3 cho rằng “Hội đồng trọng tài đã căn cứ chấp nhận s dụng các minh
chứng là email mà Công ty K cung cấp và xem là yếu tố tất yếu để giải quyết vụ
việc, đưa ra phán quyết là thiếu khách quan, công bằng khi giải quyết vụ việc” là
không đúng sự thật. Do đó việc Công ty H3 cho rằng Hội đồng Trọng tài thiếu
khách quan, công bằng khi giải quyết vụ việc để yêu cầu Tòa án hủy phán quyết
trọng tài là không có cơ sở để chấp nhận.
Về việc “Được quyền nhận phí dịch vụ đối với công việc” Công ty K có ý
kiến: Công ty K Công ty H3 đã Thư chấp thuận Thỏa thuận Hợp đồng
7
thực hiện dịch vụ Tư vấn Thiết kế Ý tưởng và Thiết kế sở cho Kiến trúc, Kết
cấu điện. Hợp đồng đảm bảo quy định của pháp luật Việt Nam, hiệu
lực pháp luật. Thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp Hợp đồng (yêu cầu
thanh toán phí dịch vụ thực hiện Hợp đồng) tại V vẫn còn thời hiệu. Quá trình
thực hiện dịch vụ, Công ty K Công ty H3 đã hợp tác rất suôn sẻ để hoàn
thành công việc, Công ty H3 chưa từng có văn bản nào phản đối hay từ chối chất
lượng công việc của Công ty K. Sau khi nhận tài liệu Công ty K gửi, ngay cả khi
Công ty K gửi hồ thanh toán Công ty H3 cũng chưa từng bất kỳ phản hồi
nào về chất lượng để không thanh toán. Công ty K đã hoàn thành phần dịch vụ
Thiết kế cho Kết cấu & Hạ tầng Thiết kế cho điện. Quá trình làm việc
giữa Công ty K Công ty H3 được ghi nhận cụ thể tại các email làm việc
vấn Thiết kế cho giai đoạn này từ ngày 16/12/2021 đến ngày 03/03/2022 Công
ty K đã nộp cho Hội đồng Trọng tài và như đã trình bày trên. Sau khi Công ty
K hoàn thành công việc dưới sgiám sát yêu cầu chặt chẽ của phía Công ty
H3. Ngày 17/02/2022 K gửi bản Thiết kế s[Basic design] dự thảo R01 để
Công ty H3 xem xét. [Phát hành tài liệu thiết kế - dạng email]. Ngày 03/03/2022
Công ty K nộp bản Thiết kế sở [Basic design] lần cuối R01 để Công ty H3
phê duyệt in để nộp. [Thiết kế phần Kết cấu & Hạ tầng điện] qua
đường link email. gửi USB lưu file dữ liệu ngày 04/03/2022, Gửi USB bản
final Biên bản nghiệm thu tới Công ty H3 ngày 21/03/2022; 01/06/2022 như
đã trình bày trên. Công ty K đã đưa ra các lập luận, hồ sơ, tài liệu minh chứng
cho việc thực hiện công việc (dịch vụ tư vấn) theo Hợp đồng và hoàn thành dịch
vụ tư vấn ở Giai đoạn Thiết kế cho Kết cấu & Hạ tầng và cho Cơ điện. Hội đồng
Trọng tài xem xét ghi nhận làm căn cứ yêu cầu Công ty H3 phải thanh toán
phí dịch vụ đối với phần công việc đã hoàn thành cho phần Thiết kế Kết cấu &
Hạ tầng cho phần Thiết kế điện. [Số thứ tự 113,120: Hội đồng Trọng tài
nhận thấy Công ty K đã thực hiện dịch vụ Công ty H3 không bất kỳ phản
đối nào về chất lượng Dịch vụ].
Công ty K không đồng ý với yêu cầu Hủy phán quyết Trọng tài của Công
ty H3.
Tại phiên họp, người yêu cầu vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình; Người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị không hủy Phán quyết trọng tài.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý
kiến:
Qua kiểm sát vụ việc tkhi thụ đến thời điểm này thấy rằng Thẩm
phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ việc, Tòa án
quyết định mở phiên họp gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời
hạn, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng Viện
kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
8
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng mở phiên họp: Tại phiên họp hôm
nay, phiên họp tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã thực hiện đúng các quyền
và nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét phiên họp không chấp nhận yêu cầu
của Công ty H3 về việc hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 157/24-HCM
ngày 04/02/2025 của V.
XÉT THẤY:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây việc dân sự về yêu cầu kinh doanh
thương mại liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh
chấp, nơi Hội đồng trọng tài tuyên phán quyết trọng tài Thành phố Hồ Chí
Minh. Do đó, căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 31, Điểm b Khoản 1 Điều
37, Điểm o Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Khoản 2,
Khoản 3 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, yêu cầu này thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thời hiệu: Ngày 04 tháng 02 năm 2025 ngày công bố Phán quyết
Trọng tài vụ tranh chấp 157/24-HCM, ngày 28/02/2025 Công ty H3 nộp đơn
yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy phán quyết trọng tài
còn trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài Thương
mại 2010.
[3] Về việc ủy quyền: Công ty H3 ủy quyền cho bà Nguyễn Hồng H, Công
ty K ủy quyền cho bà Phạm Thị Kim O, Công ty H3 và Công ty K đã có văn bản
ủy quyền hợp lệ, phù hợp theo quy định tại Điều 85 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015
nên chấp nhận.
[4] Về nội dung: Xét người yêu cầu Công ty H3 cho rằng: Phán quyết
trọng tài trái với các nguyên tắc bản của pháp luật Việt Nam, cụ thể: Hội
đồng trọng tài đã sử dụng các chứng cứ chưa được xác thực các email không
được lập vi bằng; Không triệu tập người làm chứng theo đơn yêu cầu của Công
ty H3; Không tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Công ty K
không chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Công ty H3. Đây vấn
đề cần xem xét.
[4.1] Vyêu cầu của Công ty H3 cho rằng Hội đồng trọng tài đã sử dụng
các chứng cứ chưa được xác thực là các email không được lập vi bằng không
triệu tập người làm chứng theo đơn yêu cầu của Công ty H3, Xét: Hội đồng
trọng tài đã sử dụng các email không trong vi bằng Công ty K cung cấp
cho Hội đồng trọng tài để làm căn cứ giải quyết vụ việc. Hội đồng trọng tài đã
đưa ra các nhận định từ mục: 90.2; 90.3; 90.4; 90.5; 90.6; 90.7; 90.9; 90.12;
98.5; 98.6; 98.7 (là các email trao đổi giữa hai bên) nhận định các email này
9
chứng cứ quan trọng để chấp nhận yêu cầu khởi Công ty First Green. Căn cứ
vào khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “1. Tài liệu đọc
được nội dung được coi chứng cứ nếu bản chính hoặc bản sao công
chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do quan, tổ chức thẩm quyền cung cấp,
xác nhận” và theo Điều 3 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định về
"Chứng minh chứng cứ" của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định: a) Các tài
liệu đọc được nội dung phải bản chính hoặc bản sao công chứng, chứng
thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Bản
chính thlà bản gốc hoặc bản được dùng làm sở lập ra các bản sao. -b)
Các tài liệu nghe được, nhìn được phải được xuất trình kèm theo văn bản xác
nhận xuất xứ của tài liệu đó,… Nếu đương sự không xuất trình c văn bản
nêu trên, thì tài liệu nghe được, nhìn được mà đương sự giao nộp không được
coi chứng cứ”. Đồng thời, Điều 108 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy
định:“1. Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ chính
xác - 2. Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và
khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh của từng chứng
cứ”. Trong vụ tranh chấp này, Công ty K đã cung cấp cho Hội đồng trọng tài
một số email để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, cụ thể được nhận
định trong Phán quyết trọng tài từ mục 90.2; 90.3; 90.4; 90.5; 90.6; 90.7; 90.9;
90.12; 98.5; 98.6; 98.7. Mặc dù, các email này chưa đảm bảo giá trị về hình
thức, nguồn gốc trích dẫn, không được lập vi bằng,.. không xuất trình được văn
bản xác nhận xuất xứ của tài liệu này. Đồng thời, các email này cũng không
được Công ty H3 thừa nhận nhưng Hội đồng trọng tài vẫn dùng làm chứng cứ
để giải quyết vụ tranh chấp chưa thỏa đáng, chưa đánh giá một cách khách
quan, toàn diện làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết
trọng tài, vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam quy định tại khoản
4 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015: “Việc c lập, thực hiện, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích
công cộng, quyền lợi ích hợp pháp của người khác” khoản 2 Điều 4 Luật
Trọng tài thương mại 2010: Trọng tài viên phải độc lập, khách quan,
tuân theo quy định của pháp luật”.
Hơn nữa, các email này Công ty K không gửi trực tiếp cho đại diện theo
pháp luật của Công ty H3 gửi cho các ông bà là ông Tuấn D, bà Trâm A, ông
Timothy T1. Công ty F cho rằng những người này nhân sự của Công ty H3
nhưng không tài liệu chứng minh. Công ty H3 thì cho rằng những người
này không phải nhân sự của Công ty H3 nên truwosc khi mở phiên họp, tại
các phiên làm việc phiên họp Công ty H3 đã văn bản đề nghị Hội đồng
trọng tài cho triệu tập những người liên quan trên nhưng Hội đồng trọng tài
không xem xét, mặc nhiên chấp nhận các email không nguồn gốc, xuất xứ để
10
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty K là vi phạm nguyên tắc bình đẳng,
khách quan, vô khi đánh giá sử dụng chứng cứ trong việc giải quyết vụ
tranh chấp.
[4.2] Về yêu cầu của Công ty H3 cho rằng Hội đồng trọng tài đã không
tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về điều kiện thụ và xác
lập thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, Xét: Tại VIAC, Công ty H3 không ý
kiến về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không văn bản phản đối việc chỉ
định trọng tài, thành lập Hội đồng trọng tài chấp nhận quá trình giải quyết
của Hội đồng trọng tài nên yêu cầu này của Công ty H3 không sở chấp
nhận.
[4.3] Về yêu cầu của Công ty H3 cho rằng Hội đồng trọng tài đã không
tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về xem xét Biên bản nghiệm
thu, Xét: Căn cứ vào khoản 4 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy
định Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào các quy định
tại Điều 68 của Luật này các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định; không
xét xử lại nội dung vụ tranh chấp Hội đồng trọng tài đã giải quyết”. Đồng
thời, khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn: “Khi xét đơn yêu cầu,
Hội đồng xét đơn không xét lại nội dung vụ tranh chấp…”. Do đó, yêu cầu này
của Công ty H3 thuộc về nội dung của phán quyết nên không sở đHội
đồng xét đơn xem xét.
[4.4] Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị họp không
chấp nhận yêu cầu của Công ty H3 về việc hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh
chấp số 157/24 HCM ngày 04/02/2025 của V, đề nghị của đại diện Viện kiểm
sát là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét đơn nên không chấp nhận.
[4.5] Từ những nhận định trên, Phán quyết của Trọng tài đã vi phạm
nguyên tắc bản của pháp luật Việt Nam vi phạm khoản 4 Điều 3, Khoản 2
Điều 4 Bộ luật Dân sự 2015. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài
thương mại 2010, có sở chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của
Công ty H3.
[5] Về lệ phí: Căn cứ Khoản 3 Điều 39 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành thì
trường hợp yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải chịu lệ phí Tòa án. Tuy nhiên,
trong phần danh mục lệ phí Tòa án thì lại không quy định mức lệ phí phải
chịu đối với loại việc này. Vì vậy, chưa đủ căn cứ để tính lệ phí cho Công ty H3
Bởi các lẽ trên,
Căn cứ khoản 4 Điều 3, khoản 2 Điều 4 Bộ luật Dân sự 2015;
11
Căn cứ khoản 2 Điều 31, điểm a khoản 3 Điều 38, khoản 3 Điều 414
Điều 415 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 68, khoản 1 Điều 69, Điều 71, Điều 72 Luật Trọng tài
thương mại 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định Luật
Trọng tài Thương mại 2010.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH H3 về việc hủy Phán quyết
Trọng tài vụ tranh chấp số 157/24 HCM ngày 04/02/2025 của Trung tâm T3 bên
cạnh Phòng T4 - Chi Nhánh Thành Phố H.
2. Công ty TNHH H3 không phải chịu lệ phí.
3. Quyết định này quyết định cuối cùng hiệu lực thi hành kể từ
ngày ký, tức ngày 26 tháng 6 năm 2025. Các bên, Hội đồng Trọng tài không
quyền khiếu nại, kháng cáo, Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT ĐƠN YÊU CẦU
- TAND Tối cao; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
- TAND Cấp cao tại TP HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP HCM;
- VKSND TPHCM;
- Cục THADS TPHCM ;
- Hội đồng trọng tài;
- Các bên đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ.
Đỗ Quốc Đạt
Tải về
Quyết định số 197/2025/QĐST-KDTM Quyết định số 197/2025/QĐST-KDTM

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Quyết định số 197/2025/QĐST-KDTM Quyết định số 197/2025/QĐST-KDTM

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Quyết định cùng lĩnh vực

Quyết định mới nhất