Quyết định số 15/2020/QĐ-PT ngày 13/02/2020 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Quyết định 15/2020/QĐ-PT

Tên Quyết định: Quyết định số 15/2020/QĐ-PT ngày 13/02/2020 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 15/2020/QĐ-PT
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 13/02/2020
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 51/2019/ QĐST-HC ngày 29 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
Tóm tắt Quyết định

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CP CAO
TẠI ĐÀ NNG
S: 15/2020/-PT
CNG HÓA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
Đà Nẵng, ngày 13 tháng 02 năm 2020
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO
ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chtoạ phiên họp:
Ông Nguyễn Xuân Điền
Các Thẩm phán:
Ông Võ Ngọc Thông
Ông Trần Quốc Cường
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp:
Ông Lê Phước Thạnh, Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thẩm số 51/2019/
QĐST-HC ngày 29 tháng 10 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã căn cứ
vào các Điều 143, 144, 165 của Luật Ttụng hành chính, quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện các Quyết định hành chính và hành vi
hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa:
- Người khởi kiện:
Trương Thị T, sinh năm 1968; địa chỉ trú: Thôn
T1, xã T2, huyện H, tỉnh Bình Định.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Trần Văn
L, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Định.
- Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân (UBND) huyện H, tỉnh Bình Định;
2. Chủ tịch UBND huyện H, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo ủy quyền của UBND Chủ tịch UBND huyện H, tỉnh
Bình Định: Ông Nguyễn Chí C - Phó Chủ tịch UBND huyện H, tỉnh Bình Định
(Được y quyền theo Giấy y quyền số 12/GUQ-UBND ngày 12/12/2018 và số
14/GUQ-UBND ngày 20/5/2019 của Chủ tịch UBND huyện H).
3. Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Định - Chi nhánh huyện H
Người đại diện theo y quyền: Ông Trần Minh L1 - Phó Giám đốc Văn
phòng Đăng đất đai tỉnh Bình Định - Chi nhánh huyện H (Được ủy quyền theo
Giấy ủy quyền s262/GUQ-VPĐKĐĐ ngày 27/5/2019 của Giám đốc Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Văn D, sinh năm 1966;
2
địa chỉ cư trú: Thôn T1, xã T2, huyện H, tỉnh Bình Định.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 04/11/2019, người khởi kiện bà Trương Thị T
kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số
51/2019/QĐST-HC ngày 29/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định với
do Quyết định này không đúng pháp luật, gây thiệt hại đến quyền lợi ích hợp
pháp của gia đình bà; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy Quyết định
thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
XÉT THẤY:
[1] Tại Đơn khi kiện vụ án nh chính đề ngày 20/10/2018, Đơn khởi kiện bổ
sung đề ngày 30/01/2019 trong quá trình tố tụng tại Tòa án, người khởi kiện
Tơng ThT trìnhy:
Tm 2003 đến nay, hộ gia đình bà Trương Thị T ông Đỗ Văn D sinh sống
sử dụng ổn định tha đt số 280, tờ bản đồ số 5 (theo đo đạc năm 1997) tại Thôn
T1, T2, huyện H, tỉnh Bình Định. Theo đo đạc năm 2000, thửa đất này được
tách làm 03 thửa (thửa số 273, 274 275). Quá trình sử dụng đất, ông D bà T
làm đơn yêu cầu UBND xã T2, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Định - Chi
nhánh huyện H làm thủ tục lập trích lục bản đđịa chính để đề nghị UBND
huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất đối với thửa đất số
280, diện ch 250 m
2
nêu trên cho gia đình ông bà. Tuy nhiên sau đó, UBND
T2 thông báo chỉ đồng ý cấp cho hộ T 77,7 m
2
đất. Ngày 04/5/2013, vợ
chồngT làm đơn đề nghị UBND xã T2 lập thủ tục đề nghị UBND huyện H cấp
GCNQSD đất đối với thửa đất số 280, tờ bản đồ số 5 tại Thôn T1 thì UBND xã T2
đã ban hành Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 19/6/2013 nhưng không giao cho
gia đình bà; ngày 19/6/2013, vợ chồng bà T tiếp tục làm đơn khiếu nại đến UBND
huyện H về việc yêu cầu UBND T2 lập thủ tục đề nghị UBND huyện H cấp
GCNQSD đất đối với thửa đất nêu trên nhưng sau đó Chủ tịch UBND huyện H đã
ban hành Quyết định số 5466/QĐ-UBND ngày 04/10/2013 v việc giải quyết
khiếu nại của T ông D, vợ chồng T cũng không biết không nhận được
Quyết định này. Do đó, Trương Thị T khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa
án giải quyết:
- Hủy Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 19/6/2013 của Chủ tịch UBND
T2, huyện H, tỉnh Bình Định “Vviệc giải quyết khiếu nại của Trương Thị T,
ông Đỗ Văn D (lần đầu)”;
- Hủy Quyết định s5466/QĐ-UBND ngày 04/10/2013 của Chủ tịch UBND
huyện H, tỉnh Bình Định “Vviệc giải quyết khiếu nại của Trương Thị T
ông Đỗ Văn D (lần hai);
- Buộc Văn phòng Đăng đất đai tỉnh Bình Định - Chi nhánh huyện H lập
trích lục bản đồ địa chính đối với thửa đất số hiệu 280, tờ bản đồ số 05, diện tích
250 m
2
tại Thôn T1, xã T2, huyện H, tỉnh Bình Định.
- Buộc UBND xã T2 làm thủ tục đề nghị UBND huyện H cp GCNQSD đất
đối với diện tích tại thửa đất nêu trên cho hộ gia đình Trương Thị T, ông Đỗ
3
Văn D.
- Buộc UBND huyện H cấp GCNQSD đất đối với diện tích 250 m
2
tại thửa
đất nêu trên cho hộ gia đình Trương Thị T, ông Đỗ Văn D.
[2] Sau khi xem xét lời trình bày của các đương sự các tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Theo cung cấp của UBND T2 kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ
ngày 10/4/2019 thì diện tích 250 m
2
đất Trương Thị T khiếu kiện được
xác định một phần của thửa đất số 286C, tờ bản đồ số 5 với diện tích nguyên
thửa 2.480 m
2
, loại đt Rt/G, ghi tên chủ sdụng đất UBND T2 (theo hồ
địa chính năm 1997). Ti bản đồ VN-2000 th hin mt phn các tha đt s
273, 274, 275 t bản đồ s 8 theo h địa chính thì 03 thửa đt này đều do
UBND xã T2 qun lý. Thửa đất số 280, tờ bản đồ số 5 tại Thôn T1, xã T2 mà bà T
nêu trong đơn khởi kiện quá trình tố tụng tại Tòa án đất mặt nước (ao)
diện tích 96 m
2
, hiện nay vẫn ao nước, không liên quan đến thửa đất hiện
T ông D sử dụng u trên.
[2.2] Vợ chồng ông Đỗ Văn D, Trương Thị T bắt đầu sử dụng một phần
diện tích (12 m
2
)
của thửa đất số 286C, tờ bản đồ 5 nêu trên sau khi ông Đỗ Văn D
“Đơn xin đất cất quán” đngày 27/6/2003, được UBND T2 chấp thuận giải
quyết tại Biên bản V/v giải quyết cho xây quán” ngày 30/9/2003 với nội dung
thống nhất cho ông Đỗ Văn D Trương Thị T làm quán phải thực hiện đúng
theo quy cách cho làm quán của UBND T2 nsau: “Diện ch tích xây dựng
12 m
2
. Trong đó: Rộng 3 m; dài 4 m. Kèm theo điều kiện với hộ xin làm quán
như sau: Ông (bà) xin làm quán tên trên qua thời gian hành nghề quán không
được thay đổi từ quán thành nhà ở; Quán hành nghề phải đúng mục đích xin:
Rộng 3 m, dài 4 m, DT 12 m
2
; Không được xây dựng kiên cố; Thời gian quy định
cho hành nghề quán là 3 năm, nếu hết thời hạn quy định này hộ nhu cầu
tiếp tục hành nghề quán thì phải đến UBND đ gia hạn...”. Tuy nhiên, theo lời
trình bày của phía người bị kiện thì trong quá trình sử dụng quán, vợ chồng T
không thực hiện đúng cam kết nêu trên, tiến hành lấn chiếm đất do UBND
quản lý để xây dựng công trình vệ sinh theo phần đất cho làm quán kéo dài ra phía
sau, hình thành từ quán thành nhà ở.
[2.3] Thực hiện Quyết định số 15/2008/QD-UBND ngày 18/3/2008 của
UBND tỉnh Bình Định “về việc ban hành Quy định về xử lý lấn, chiếm đất đai; đất
đã được giao không đúng thẩm quyn, thu tiền không đúng quy định cp giy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp đủ điều kiện tiếp tục sử
dụng đất trên địa bàn tỉnh, UBND xã T2 đã rà soát, họp xét, thống nhất đề nghị
UBND huyện H cấp GCNQSD đất đối với trường hp ông Đỗ Văn D và
Trương Thị T với diện tích 77,7 m
2
đất tại thửa đất s 275, tờ bản đồ s 8 (bản đồ
VN-2000) Thôn T1, T2 đã được Ban chỉ đạo Quyết định 15 huyện H xét
duyệt tại Thông báo số 32/TB-BCD ngày 17/02/2009. Thực hiện kết quả xét duyệt
nêu trên, UBND xã T2 đã hướng dẫn ông D, bà T lập thủ tục đ nghị cấp
GCNQSD đất theo quy định đối với phần diện tích đất được phê duyệt nhưng ông
D, bà T không thực hiện, tiếp tục đổ đất nâng mặt bằng để chiếm một phần
4
thửa đất số 273 và 274 (Trong các lần bà T thực hiện việc chiếm đất, UBND xã T2
đều lập biên bản kiểm tra hiện trường, biên bản vi phạm hành chính; yêu cầu T
không được tiếp tục có hành vi vi phạm, khôi phục lại tình trạng của đất như trước
khi vi phạm).
[2.4] Ngày 04/5/2013, ông D T đơn khiếu nại gửi Chủ tịch UBND xã
T2 với nội dung: ... yêu cầu UBND T2 lập thủ tục yêu cầu UBND huyện H
cấp GCNQSD đất vườn đất khoảng 250 m
2
cho hộ gia đình chúng tôi theo
Quyết định số 15/2008/QĐ-UBND ngày 18/3/2008 của UBND tỉnh Bình Định”.
Ngày 19/6/2013, Chủ tịch UBND T2 ban hành Quyết định số 02/QĐ-UBND
“Vviệc giải quyết khiếu nại của Trương Thị T, ông Đỗ Văn D (lần đầu)”, với
nội dung: “Không công nhận nội dung đơn khiếu nại đề ngày 04/5/2013 của ông
Đỗ Văn D, bà Trương Thị T. T, ông D tiếp tục khiếu nại; ngày 04/10/2013,
Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 5466/QĐ-UBND “Vviệc giải
quyết khiếu nại của bà Trương Thị T ông Đỗ Văn D (ln hai), với nội dung:
“Điều 1. Không công nhận nội dung đơn khiếu nại của bà Trương Thị T, ông
Đỗ Văn D.
Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 19/6/2013 của Chủ tịch UBND T2 về
việc giải quyết khiếu nại của bà Trương Thị T, ông Đỗ Văn D là đúng pháp luật.
Điều 2. Nếu không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại, bà Trương Thị
T, ông Đỗ Văn D quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân huyện
H theo quy định của pháp luật”...
[3] Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Trong quá trình tố tụng, Trương Thị T không thừa nhận việc đã nhận
được Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 19/6/2013 của Chủ tịch UBND T2
Quyết định số 5466/QĐ-UBND ngày 04/10/2013 của Chủ tịch UBND huyện H;
đồng thời làm đơn yêu cầu giám định chữ viết “Trương Thị T” dưới mục người
nhận trên Giấy báo phát của Bưu điện thị trấn Tam Quan. Tại Kết luận giám định
số 219/PC09 ngày 06/9/2019, Phòng Kỹ thuật hình sCông an tỉnh Bình Định đã
kết luận: Chữ viết “Trương Thị T” dưới mục người nhận trên Giấy báo phát của
Bưu điện thị trấn Tam Quan, huyện H ngày 15/10/2013 so với chữ viết “Trương
Thị Ttại các mẫu giám định là do cùng một người viết ra (bút lục 321). Như vậy,
đủ căn cứ xác định T đã nhận được Quyết định s5466/QĐ-UBND ngày
04/10/2013 của Chủ tịch UBND huyện H “Vviệc giải quyết khiếu nại của
Trương Thị T ông Đỗ Văn D (ln hai) vào ngày 15/10/2013. Do đó, ngày
30/01/2019 Trương ThT mới khởi kin vụ án nh chính, u cầu Tòa án hủy
Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 19/6/2013 của Chủ tịch UBND T2, huyện
H, tỉnh Bình Định “Về việc giải quyết khiếu nại của bà Trương Thị T, ông Đỗ Văn
D (lần đầu)” Quyết định số 5466/QĐ-UBND ngày 04/10/2013 của Chủ tịch
UBND huyện H, tỉnh Bình Định “Vviệc giải quyết khiếu nại của Trương Thị
T ông Đỗ Văn D (lần hai)” đã quá thời hạn 01 năm kể từ ngày nhận được
Quyết định hành chính theo quy định tại Điều 104 của Luật Tố tụng hành chính
năm 2010 (tương ứng Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015). Tuy
nhiên tại phiên tòa thẩm, Trương Thị T xin rút một phần yêu cầu khởi kiện
5
về hủy 02 Quyết định nêu trên, Hội đồng xét xử thẩm đã quyết định đình chỉ
một phần yêu cầu khởi kiện của Trương Thị T về việc yêu cầu Tòa án hủy
Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 19/6/2013 của Chủ tịch UBND T2, huyện
H, tỉnh Bình Định “Về việc giải quyết khiếu nại của bà Trương Thị T, ông Đỗ Văn
D (lần đầu)” Quyết định số 5466/QĐ-UBND ngày 04/10/2013 của Chủ tịch
UBND huyện H, tỉnh Bình Định “Vviệc giải quyết khiếu nại của Trương Thị
T ông Đỗ Văn D (lần hai)” đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 143,
khoản 2 Điều 165 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
[3.2] Đối với yêu cầu khởi kiện của Trương Thị T về việc buộc Văn phòng
đăng ký đất đai tỉnh Bình Định - Chi nhánh huyện H lập trích lục bản đồ địa chính
thửa đất số 280, tờ bản đồ số 05, diện tích 250 m
2
tại Thôn T1, T2, huyện H,
tỉnh Bình Định; buộc UBND T2, huyện H làm thủ tục đề nghị UBND huyện H
cấp GCNQSD đối với diện tích 250 m
2
đất tại thửa đất nêu trên buộc UBND
huyện H cấp GCNQSD đất diện ch 250 m
2
tại thửa đất nêu trên cho bà Trương
Thị T ông Đỗ Văn D, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa thẩm, T
trình bày: “xã chỉ đồng ý cấp quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi 77,7 m
2
như vậy
quá ít ỏi, tôi yêu cầu phải cấp cho vợ chồng tôi 250 m
2
mà UBND xã không đồng ý
nên tôi không làm hồ sơ”; ông D cũng trình bày: “Ngày xưa UBND xã cho vợ
chồng tôi cất quán trên diện tích 12 m
2
nhưng sau này gia đình tôi đã bồi đắp diện
tích rộng hơn, vợ chồng tôi cũng lớn tuổi rồi chưa đất chỉ mong chính
quyền xem xét cấp cho tôi nhiều hơn trong khi các hộ còn lại hộ t300 m
2
đến
400 m
2
chứ 77,7 m
2
thì quá ít nên vợ chồng tôi không đồng ý nên không làm hồ
để cấp 77,7 m
2
nói trên”, “Tôi không có làm hồ hết, anh Quyến - cán bộ địa
chính bán cho tôi bộ hồ sơ tôi làm sau đó tôi rút đem về nhà cất chứ tôi không
có điền gì hết. Sau đó vào năm 2016 tôi có làm đơn khiếu nại chứ không có làm hồ
đề nghị cấp sổ đỏ nữa hết”. Lời trình bày của T, ông D tại phiên a phù
hợp với nội dung “Đơn xin đất cất quán” đề ngày 27/6/2003 của ông Đỗ Văn D
có, “Biên bản V/v giải quyết cho xây quán” ngày 30/9/2003 tại mục [2.2] nêu trên
phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ vụ án. Do đó, đủ
sở xác định sự việc trước năm 2008 thì vợ chồng ông D, T chđược UBND xã
cho mượn 12 m
2
đất để sử dụng làm quán; năm 2008, thực hiện Quyết định số
15/2008/QD-UBND ngày 18/3/2008 của UBND tỉnh Bình Định thì UBND T2
đã chủ động soát, thng nhất đề nghị đã được Ban chỉ đạo Quyết định 15
huyện H xét duyệt, đề nghị UBND huyện H cấp GCNQSD đất cho vợ chồng ông
D, bà T diện tích 77,7 m
2
đất hiện đang sử dụng tại thửa đt s 275, tờ bản đ s 8
(bản đồ VN-2000) Thôn T1, T2; UBND xã T2 đã hướng dẫn vợ chồng bà T lập
thủ tục đnghị cấp GCNQSD đất theo quy định đối với phần diện tích đất được
phê duyệt nhưng vợ chồng T không đồng ý, không làm hồ theo hướng dẫn
của UBND xã T2 quy định tại khoản 1 Điều 124 Nghị định số 181/2004/NĐ-
CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ (nay được quy định tại khoản 1 Điều 70 Nghị
định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ) “Người sử dụng đất nộp
01 bộ hồ theo quy định để làm thủ tục đăng ký”. vậy, UBND T2, Văn
phòng đăng đất đai tỉnh Bình Định - Chi nhánh huyện H, UBND huyện H
không sở để thực hiện việc lập hồ đề nghị, lập trích lục bản đồ địa chính
6
thửa đất cấp GCNQSD đất cho Trương Thị T, ông Đỗ Văn D. Căn cứ vào
quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3 điểm a khoản 1 Điều 123 của Luật Tố
tụng hành chính, Hội đồng xét xử thẩm đã xác định yêu cầu khởi kiện của
Trương Thị T về việc buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Định - Chi nhánh
huyện H lập trích lục bản đồ địa chính, buộc UBND T2 làm thủ tục đề nghị
buộc UBND huyện H cấp GCNQSD đối với diện tích 250 m
2
thuộc thửa đất số
280, tờ bản đồ số 05, diện tích 250 m
2
tại Thôn T1, T2, huyện H, tỉnh Bình
Định không được pháp luật quy định là hành vi hành chính bị kiện nên người khởi
kiện không có quyền khởi kiện là đúng pháp luật.
[4] Trên sở những phân ch nêu trên, các quy định của pháp luật hiện
hành ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng phát biểu tại phiên họp, có đủ căn cứ kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ
vào các quy định tại khoản 1 Điều 123, khoản 1 Điều 143 khoản 2 Điều 165
của Luật Tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính
đúng pháp luật. Kháng cáo của Trương Thị T không căn cứ nên không
được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 349 của Luật Tố tụng hành chính; khoản
1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí lệ phí Tòa án, do kháng cáo không được chấp nhận nên đương sự
kháng cáo phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
các lẽ trên; căn cứ o Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 51/2019/
QĐST-HC ngày 29 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
2. Án phí hành chính phúc thẩm: Trương Thị T phải chịu 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án s0003731 ngày 15 tháng 11 năm 2019
của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Bình Định;
- VKSND tỉnh Bình Định;
- Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Bình Định;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
Nguyễn Xuân Điền
Tải về
Quyết định số 15/2020/QĐ-PT Quyết định số 15/2020/QĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Quyết định cùng lĩnh vực

Quyết định mới nhất