Quyết định số 01/2025/QĐPT-HNGĐ ngày 19/02/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Quyết định 01/2025/QĐPT-HNGĐ

Tên Quyết định: Quyết định số 01/2025/QĐPT-HNGĐ ngày 19/02/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Phúc
Số hiệu: 01/2025/QĐPT-HNGĐ
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 19/02/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Người kháng cáo rút đơn
Tóm tắt Quyết định

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 10/2024/HNGĐ-PT
Ngày 20 - 8 - 2024
“V/v ly hôn và tranh chấp
nuôi con khi ly hôn”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Danh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huy Cẩn và ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Tphiên toà: Trần Thị Thu Hương - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Ông Phùng Ngọc Tuấn
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét
xử phúc thẩmng khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 7
năm 2024 về việc “Ly n tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Do bản án hôn
nhân gia đình sơ thẩm số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa
án nhân dân huyện L bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số 11/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1992; nơi trú: Tổ dân phố Q,
thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn N, T,
huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
3. Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 16/01/2024 quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị L trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn N ngày 05/3/2020, trước khi kết hôn được
tự do tìm hiểu đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân T, huyện L, tỉnh Vĩnh
Phúc. Sau khi kết hôn, chị về chung sống cùng gia đình anh N. Quá trình vợ chồng
chung sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống
nên từ đó thường xuyên xảy cãi nhau thỉnh thoảng anh N có đánh chị. Tháng
12/2023 chị về nhà bố mđẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Đến nay chị
xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
2
Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày
25/01/2021, hiện nay cháu Đ đang cùng anh N. Ly hôn, chị đề nghị được trực
tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung cùng
chị.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ng sức đóng góp: Chị k đề nghị
Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày: Anh thừa nhận về điều kiện kết hôn, thời
gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống, thời điểm vợ chồng ly thân như ch
L trình bày là đúng. Nhưng theo anh nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không
hợp, bất đồng quan điểm sống đặc biệt về kinh tế gia đình dẫn đến thỉnh thoảng
cãi nhau, chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ nhiều lần. Đến nay anh xác định tình cảm
vợ chồng không còn chị Lê x ly hôn anh hoàn toàn nhất trí.
Về con chung: Vợ chồng 01 con chung Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày
25/01/2021, hiện nay đang ở cùng anh. Ly hôn anh N xin được tiếp tục nuôi con
không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Anh N không
đề nghị Tòa án giải quyết.
Với nội dung nêu trên, Do bản án hôn nhân gia đình thẩm s
22/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L,
quyết định: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82,
83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân
sự; Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
1. Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
2. Về con chung: Giao cho chị Thị L trực tiếp trông nom, chăm c,
nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 25/01/2021 cho đến khi
thành niên đủ 18 tuổi. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con (hiện nay cháu Đ
đang cùng anh N). Người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm
nom con không ai được cản trở.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho
các đương sự.
Ngày 03/6/2024, anh Nguyễn Văn N đơn kháng cáo không đồng ý với
một phần Bản án thẩm, yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xem xét giao cho anh
được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tấn Đ và không yêu cầu chị
L cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Về tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự đã
3
được thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
anh Nguyễn Văn N, sửa bản án thẩm, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn,
giao cháu Nguyễn Tấn Đ cho anh N trực tiếp chămc, nuôi dưỡng, chị L không
phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn N làm trong hạn luật
định, đơn hợp lệ được chấp nhận xem xét.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn chị Thị kết h với bị đơn anh Nguyễn Văn N được Ủy
ban nhân dân T, huyện L đăng cấp giấy chứng nhận ngày 05 tháng 3 năm
2020. vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn với bị đơn hợp pháp, được
pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa
phúc thẩm, anh N và chị L đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích
của hôn nhân không đạt được, hai bên không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ,
quan tâm đến nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc và đã sống ly
thân. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn bị đơn là trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn
cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận cho hai bên
ly hôn để mỗi bên được tạo lập cuộc sống mới theo yêu cầu của các đương sự
căn cứ, đồng thời giải quyết tranh chấp về nuôi con khi ly hôn và giao cháu
Nguyễn Tấn Đ cho chị L nuôi dưỡng.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ vào lời khai của các đương sự và giấy khai sinh của cháu Đ thì chị
L, anh N 01 con chung cháu Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 25/01/2021, hiện nay
cháu đang ở cùng anh N. Ly hôn cả chị L và anh N đều có nguyện vọng xin được
trực tiếp nuôi cháu Đ và không yêu cầu bên kia cấp dưỡng nuôi con. Tòa án cấp
thẩm nhận định nguyện vọng xin nuôi con của nguyên đơn và bị đơn là chính
đáng; hai bên đều đủ điều kiện nuôi con nhưng do cháu Đ còn nhỏ, cần sự
chăm sóc của người mẹ nên giao cháu cho chị L được nuôi dưỡng.
Quá trình ttụng tại cấp phúc thẩm, chị L anh N đều thừa nhận trước
khi kết hôn với nhau thì họ đã kết hôn và ly hôn với người khác. Chị Lê kết h với
anh Hoàng Văn T, 02 con chung ly hôn năm 2014. Tòa án giao cho chị L
được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh L1, sinh năm
2011 cháu Nguyễn Khánh L2, sinh năm 2012. Tuy nhiên, hiện nay chị c
nuôi cháu L2 còn bố manh T nuôi cháu L1. Anh N kết hôn với chị Vũ Thị Hồng
4
H, 01 con chung cũng ly hôn năm 2014. Anh N không được Tòa án giao
nuôi con chung.
Thấy rằng, cả anh N chị L đều đủ điều kiện để nuôi con nguyện
vọng xin được trực tiếp nuôi con của họ là chính đáng. Tuy nhiên, trước đó chị L
đã được giao nuôi dưỡng 02 con, còn anh N chưa được giao nuôi con hiện cháu
Đ đang sống cùng anh, đã gần được 04 tuổi nên để tránh xáo trộn cuộc sống của
cháu cũng như vì lẽ công bằng giữa các đương sự thì cần giao cháu Đ cho anh N
nuôi dưỡng là phù hợp.
Từ phân tích, nhận định như trên thì kháng cáo của anh Nguyễn Văn N cũng
như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm
cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tòa án cấp phúc thẩm sẽ sửa bản án
thẩm theo hướng giao cháu Đ cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng và chị L không
phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Đối với quyết định về việc ly hôn giữa chị Thị L anh Nguyễn Văn N
của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật
kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận
nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn N.
Sửa bản án Hôn nhân gia đình thẩm s22/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng
5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc về nuôi con.
Căn cứ các Điều 58, 81, 82 83 của Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Giao cháu Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 25/01/2021 cho anh Nguyễn Văn N
được trực tiếp nuôi dưỡng; chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung
quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở, gây khó khăn.
2. Về án phí:
Chị Vũ Thị Lê p chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ
thẩm nhưng được trừ vào stiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000205 ngày 19/01/2024
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L. Chị L đã nộp đủ tiền án phí ly hôn
thẩm.
Anh Nguyễn Văn N không phải chịu án pdân sự phúc thẩm, hoàn trcho
anh N số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên
5
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000341 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện L.
Quyết định về ly hôn của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- TAND huyện L;
- VKSND huyện L;
- Chi cục THADS huyện L;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
(đã ký)
Nguyễn Thanh Danh
Tải về
Quyết định số 01/2025/QĐPT-HNGĐ Quyết định số 01/2025/QĐPT-HNGĐ

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Quyết định số 01/2025/QĐPT-HNGĐ Quyết định số 01/2025/QĐPT-HNGĐ

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Quyết định cùng lĩnh vực

Quyết định mới nhất