Bản án số 44/2026/LĐ-ST ngày 22/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 44/2026/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 44/2026/LĐ-ST ngày 22/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Số hiệu: 44/2026/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Kieu Thi Thu Th yeu cau Công ty CP công nghiep Quang A I đong bảo hiểm các loại.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 44/2026/LĐ-ST Bản án số 44/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 44/2026/LĐ-ST Bản án số 44/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 44 /2026/LĐ-ST
Ngày: 22-9-2026
V/v “Tranh chấp
về bảo hiểm xã hội”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Thành
Bà Võ Thị Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
2 - Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà
Phạm Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng xét
xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 89/2026/TLST- LĐ ngày 21 tháng 7 năm
2026 về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo
hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
89/2026/QĐXXST-LĐ ngày 20 tháng 8 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số
188/QĐST-LĐ ngày 07 tháng 9 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Kiều Thị Thu T, sinh năm 1977; CCCD số: ************
cấp ngày 26/01/2022; Địa chỉ: E L, phường H, thành phố Đà Nẵng
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc O, sinh năm 1980 và bà
Huỳnh Thị Phương G, sinh năm 1981 (theo giấy ủy quyền ngày 24/7/2026) (Bà G có
mặt tại phiên tòa)
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần C1; Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp T, xã H, huyện
T, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh); Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu
Văn T1, chức vụ: Tổng Giám đốc. (Vắng mặt tại phiên tòa)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C; Đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Kim H
- Chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ: B - B N, phường H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện
theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1983; CCCD số: ************ cấp
ngày 17/4/2024 - Chức vụ: Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 (Theo giấy ủy
quyền số 757/GUQ-BHXH ngày 12/8/2026); Địa chỉ: B - B N, phường H, thành phố
Đà Nẵng. (Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2
+ Ông Lưu Thanh T2, sinh ngày: 18/9/1987 - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh I
- Công ty Cổ phần C2 tại Đà Nẵng; Địa chỉ: Đường H, phường N, thành phố Đà Nẵng.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 11/6/2026 và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình
bày: Bà Kiều Thị Thu T vào làm việc tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng
từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 7 năm 2023.
Trong quá trình làm việc bà Kiều Thị Thu T luôn chấp hành nội quy, quy định
của Công ty, với công việc là nhân viên bán vé xe buýt. Đến thời điểm tháng 7/2023 bà
Kiều Thị Thu T nghỉ việc nhưng Công ty vẫn chưa đóng Bảo hiểm xã hội cho bà từ
tháng 07/2019 đến tháng 4/2021 và từ tháng 5/2022 đến tháng 7/2023 (Theo công văn
số 921/BHXH - BPQLT ngày 17/9/2026 của Bảo hiểm xã hội cơ sở H1). Cụ thể như
sau:
- Cộng các khoản nợ bảo hiểm là 46.981.000 đồng. Trong đó: nợ BHXH là
39.155.000 đồng; nợ BHYT là 5.031.000 đồng; nợ BHTN là 2.236.000 đồng; nợ
BHTNLĐ,BNN là 559.000 đồng.
- Lãi phát sinh tính đến ngày 22/9/2026 là 23.181.218 đồng. Trong đó lãi BHXH
là 19.198.945 đồng; lãi BHYT là 2.789.617 đồng; lãi BHTN là 954.123 đồng, lãi
BHTNLĐ,BNN là 238.533 đồng.
Tổng cộng là: 70.162.218 đồng (Bảy mươi triệu, một trăm sáu mươi hai nghìn,
hai trăm mười tám đồng)
Nay bà Kiều Thị Thu T yêu cầu Công ty Cổ phần C1 có trách nhiệm đóng tiền
nợ bảo hiểm cho bà Kiều Thị Thu T theo số tiền thực tế hiện nay, do Bảo hiểm xã hội
cơ sở Hòa C cung cấp, để thực hiện chốt sổ bảo hiểm cho bà Kiều Thị Thu T.
*Bị đơn Công ty Cổ phần C1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt
hợp lệ các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét
xử, Quyết định hoãn phiên toà) nhưng người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Cổ
phần C1 không đến Tòa án để tham gia các phiên họp, hòa giải... và các phiên tòa theo
các thông báo của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lưu Thanh T2 - Giám đốc Chi
nhánh II Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét
xử, Quyết định hoãn phiên toà) nhưng ông Lưu Thanh T2 không đến Tòa án để tham
gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,….và
3
các phiên tòa theo các thông báo của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày đối với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 có ý kiến:
Tại Công văn số 921/BHXH-BPQLT ngày 17/9/2026 người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 trình bày:
Bà Kiều Thị Thu T, sinh năm 1977 số CCCD: ************ có thời gian tham
gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) tại Chi nhánh II - Công ty CP C1
tại Đà Nẵng từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 7 năm 2023 do BHXH Cơ sở H1 trực tiếp
thu.
Tính đến 31/8/2026, Đơn vị tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN
cho 04 lao động và hoàn thành việc trích chuyển BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ,
BNN đến hết tháng 06/2019.
Tại Công văn số 921/BHXH-BPQLT ngày 17/9/2026 của Bảo hiểm xã hội cơ sở
Hòa C đã xác nhận cụ thể tình trạng nợ bảo hiểm của bà Kiều Thị Thu T tính đến ngày
22/9/2026 thì tổng số tiền mà Công ty C1 còn nợ liên quan đến bà Kiều Thị Thu T:
- Cộng các khoản nợ bảo hiểm là 46.981.000 đồng. Trong đó: nợ BHXH là
39.155.000 đồng; nợ BHYT là 5.031.000 đồng; nợ BHTN là 2.236.000 đồng; nợ
BHTNLĐ,BNN là 559.000 đồng.
- Lãi phát sinh tính đến ngày 22/9/2026 là 23.181.218 đồng. Trong đó lãi BHXH
là 19.198.945 đồng; lãi BHYT là 2.789.617 đồng; lãi BHTN là 954.123 đồng, lãi
BHTNLĐ,BNN là 238.533 đồng.
Tổng cộng là: 70.162.218 đồng (Bảy mươi triệu, một trăm sáu mươi hai nghìn,
hai trăm mười tám đồng)
* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ
đúng quy định pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C kể từ khi thụ lý vụ án cho
đến tại phiên tòa là đúng pháp luật, bị đơn Công ty Cổ phần C1 và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Giám đốc Chi nhánh II Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng không thực
hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: căn cứ khoản 3 Điều 48, Điều 168 Bộ luật Lao
động; Điều 17, khoản 2, khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội; khoản 1 Điều 12, khoản
1 Điều 13, Điều 14, Điều 15 Luật Bảo hiểm y tế, đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu
4
khởi kiện về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội” của nguyên đơn bà Kiều Thị Thu T
đối với bị đơn Công ty Cổ phần C1.
Buộc Công ty Cổ phần C1 phải đóng số tiền 70.162.218 đồng, gồm tiền bảo hiểm
còn chậm đóng và tiền lãi chậm đóng tính đến ngày 22/9/2026 vào quỹ bảo hiểm xã
hội theo quy định của pháp luật cho Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 để thực hiện việc chốt
sổ bảo hiểm xã hội và giải quyết các chế độ liên quan cho bà Kiều Thị Thu T.
Kể từ ngày 23/9/2026, Công ty Cổ phần C1 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi chậm
đóng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm đối với số tiền còn chậm đóng cho đến
khi hoàn thành nghĩa vụ.
- Án phí lao động sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
ơ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét,
thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử nhận định:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công
khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Kiều Thị Thu T khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần C1 thực hiện nghĩa vụ đóng
các khoản bảo hiểm bắt buộc còn thiếu trong thời gian ông làm việc tại Chi nhánh II -
Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng, để cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận quá trình đóng
và giải quyết các chế độ bảo hiểm cho ông. Do đó, xác định đây là vụ án “Tranh chấp
về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp”.
Theo điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp về bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được
sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ
tục sơ thẩm các tranh chấp quy định tại Điều 32 của Bộ luật này. Trường hợp tranh chấp
phát sinh từ hoạt động của chi nhánh, nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án nơi tổ chức
có chi nhánh giải quyết theo điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 hoạt động tại Đà Nẵng; nguyên đơn lựa chọn
Tòa án nơi chi nhánh hoạt động để khởi kiện. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.
[2] Về người tham gia tố tụng và việc xét xử vắng mặt:
Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 là đơn vị phụ thuộc của Công ty Cổ phần C1,
không có tư cách pháp nhân độc lập. Do đó, Công ty Cổ phần C1 là bị đơn trong vụ án.
Ông Lưu Thanh T2 là Giám đốc Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng.
5
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa ông T2 tham gia tố tụng với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn và ông Lưu Thanh T2
nhưng những người này không đến Tòa án tham gia tố tụng, không cung cấp ý kiến, tài
liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tại phiên tòa, bị đơn và
ông Lưu Thanh T2 tiếp tục vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai và
không có lý do chính đáng, Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến
hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Kiều Thị Thu T, Hội đồng xét xử
thấy:
Bà Kiều Thị Thu T làm việc tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng từ
tháng 12/2017 đến tháng 7/2023, công việc là nhân viên bán vé xe buýt. Trong thời gian
làm việc, bà Kiều Thị Thu T thuộc đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN và
BHTNLĐ-BNN theo quy định của pháp luật.
Theo Công văn số 921/BHXH-BPQLT ngày 17/9/2026 của Bảo hiểm xã hội cơ sở
Hòa C, bà T có thời gian tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN tại Chi
nhánh I - Công ty Cổ phần C1 từ tháng 12/2017 đến tháng đến tháng 4/2021 và từ tháng
5/2022 đến tháng 7/2023. Công ty đã thực hiện đóng bảo hiểm đến hết tháng 6/2019.
Tại Công văn số 921/BHXH-BPQLT ngày 17/9/2026, Bảo hiểm xã hội cơ sở
Hòa Cường xác định đến ngày 22/9/2026 Công ty Cổ phần C1 còn nợ các khoản bảo
hiểm của bà Kiều Thị Thu T là cộng các khoản nợ bảo hiểm là 46.981.000 đồng. Trong
đó: nợ BHXH là 39.155.000 đồng; nợ BHYT là 5.031.000 đồng; nợ BHTN là 2.236.000
đồng; nợ BHTNLĐ,BNN là 559.000 đồng.
- Lãi phát sinh tính đến ngày 22/9/2026 là 23.181.218 đồng. Trong đó lãi BHXH
là 19.198.945 đồng; lãi BHYT là 2.798.617 đồng; lãi BHTN là 954.123 đồng, lãi
BHTNLĐ,BNN là 238.533 đồng.
Tổng cộng là: 70.162.218 đồng (Bảy mươi triệu, một trăm sáu mươi hai nghìn,
hai trăm mười tám đồng)
Theo Điều 168 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm
tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN cho người lao động; khoản 3 Điều 48 Bộ luật
này còn quy định người sử dụng lao động phải hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian
đóng BHXH, BHTN khi chấm dứt hợp đồng lao động. Đồng thời, Điều 13 Luật Bảo
hiểm xã hội năm 2024 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc
đăng ký, đóng BHXH và phối hợp xác nhận thời gian đóng BHXH khi người lao động
chấm dứt hợp đồng lao động.
Công ty Cổ phần C1 chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho bà T; số
tiền còn phải đóng và tiền phát sinh do chậm đóng đã được Bảo hiểm xã hội cơ sở H1
6
xác nhận bằng văn bản. Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, Công ty không tham
gia tố tụng, không có ý kiến phản đối và không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh
đã hoàn thành nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho bà T. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định Công ty
còn phải đóng số tiền 70.162.218 đồng tạm tính đến ngày 22/9/2026 theo xác nhận của
cơ quan Bảo hiểm xã hội.
Do đó, yêu cầu của bà Kiều Thị Thu T về việc buộc Công ty Cổ phần C1 đóng số
tiền 70.162.218 đồng tạm tính đến ngày 22/9/2026 vào cơ quan Bảo hiểm xã hội để xác
nhận thời gian đóng, chốt sổ và giải quyết các chế độ bảo hiểm có liên quan là có căn
cứ, phù hợp quy định pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Đối với ông Lưu Thanh T2:
Nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho người lao động thuộc trách nhiệm của Công ty Cổ
phần C1 với tư cách người sử dụng lao động. Ông Lưu Thanh T2 là Giám đốc Chi nhánh
I nhưng không phải là người có nghĩa vụ độc lập đối với khoản tiền bà T yêu cầu. Vì
vậy, Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm riêng của ông T2 trong vụ án này.
[5] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét
xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Kiều Thị Thu T được chấp nhận toàn
bộ nên Công ty Cổ phần C1 phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14. Với số tiền 70.162.218 đồng, án phí 3% là 2.104.866
đồng. Bà Kiều Thị Thu T là người lao động khởi kiện đòi quyền lợi về bảo hiểm xã hội
nên được miễn án phí lao động sơ thẩm theo quy định.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của bà Kiều Thị Thu T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 32, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều
227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được
sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ Điều 168, khoản 3 Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ Điều 13, Điều 40 và các quy định có liên quan của Luật Bảo hiểm xã hội
số 41/2024/QH15; các quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,
bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
7
Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Kiều Thị Thu T đối với Công ty
Cổ phần C1 về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp”.
Buộc Công ty Cổ phần C1 phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp còn nợ cho bà Kiều Thị Thu
T (từ tháng 7/2019 đến tháng 4/2021 và từ tháng 5/2022 đến tháng 7/2023) theo mã số
BHXH 4816102514 tại Bảo hiểm xã hội Cơ sở H1 với số tiền 70.162.218 đồng (Bảy
mươi triệu, một trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm mười tám đồng) trong đó: nợ gốc là
46.981.000 đồng, gồm: BHXH 39.155.000 đồng, BHYT 5.031.000 đồng, BHTN
2.236.000 đồng và BHTNLĐ-BNN 559.000 đồng và tiền lãi chậm đóng tính đến ngày
22/9/2026 là 23.181.218 đồng.
Công ty Cổ phần C1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất do chậm đóng bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phát
sinh kể từ ngày 23/9/2026 cho cơ quan bảo hiểm xã hội với mức lãi suất theo quy định
pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tương ứng với thời gian chậm đóng.
2. Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty Cổ phần C1 phải chịu 2.104.866 đồng (Hai
triệu một trăm lẻ bốn nghìn tám trăm sáu mươi sáu đồng) án phí lao động sơ thẩm. Bà
Kiều Thị Thu T được miễn án phí lao động sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo
quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 2 -Đà Nẵng;
- Phòng THADS Khu vực 2 -Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trương Thị Hai
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 44/2026/LĐ-ST Bản án số 44/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 44/2026/LĐ-ST Bản án số 44/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất