Bản án số 42/2026/KDTM-PT ngày 21/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 42/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 42/2026/KDTM-PT ngày 21/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 42/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/09/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Tổng Công ty cổ phần B2; giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 24/2026/KDTM-ST ngày 12 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 42/2026/KDTM-PT Bản án số 42/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 42/2026/KDTM-PT Bản án số 42/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 42/2026/KDTM-PT
Ngày 21-9-2026
V/v tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Hạnh
Bà Vũ Thị Bích Diệp
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Ông Trương Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 40/2026/TLPT-
KDTM ngày 06 tháng 08 năm 2026 v việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 24/2026/KDTM-ST ngày 12
tháng 06 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 35/2026/QĐ-PT ngày 10
tháng 08 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 84/2026/QĐ-PT ngày 26 tháng
08 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T1; địa chỉ: Số E Quốc lộ E, phường H, thành
phố Hải Phòng;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần T1: Ông Võ
Văn Đ, sinh năm 1970; Số CCCD: ************; địa chỉ: Số A ngõ G L, phường
L, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bị đơn: Tổng Công ty cổ phần B2; địa chỉ: Tầng E Tòa nhà S, A đường C,
phường H, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Tổng Công ty cổ phần B2:
2
+ Bà Phạm Thị Hà V, sinh năm 1975; Số CCCD: ************; địa chỉ:
Tầng B, Tòa nhà T, số C L, phường N, thành phố Hải Phòng; có mặt;
+ Ông Phan Tiến N, sinh năm 1957; Số CCCD: ************; địa chỉ: Tầng
E, Tòa nhà S, A đường C, phường H, thành phố Hà Nội; có mặt;
+ Ông Đặng Huy D, sinh năm 1971; Số CCCD: ************; địa chỉ: Số A
N, phường C, Hà Nội; có mặt;
- Những người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty TNHH Đ3 K; địa chỉ: Số A, tổ H, khu E, phường Y, thành phố H
(nay là phường H), tỉnh Quảng Ninh;
Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Công ty TNHH Đ3 K: Bà Nguyễn Thị V1 - Giám đốc Công ty; vắng mặt;
+ Công ty TNHH V2; địa chỉ: Số A, tổ dân phố số B, thị trấn D, huyện T, tỉnh
Thái Bình (nay là xã T, tỉnh Hưng Yên).
Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Công ty TNHH V2: Bà Cao Thị D1 - Giám đốc Công ty; vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn là Tổng Công ty B2; địa chỉ: Tầng E Tòa nhà S, A
đường C, phường H, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 27/11/2025, bổ sung ngày 22/12/2025 và ngày
14/01/2026, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn Công ty Cổ phần T1 trình bày:
Ngày 10/12/2023, Công ty Cổ phần T1 (sau đây viết là Công ty T1) và Công
ty TNHH Đ3 K (sau đây viết là Công ty Đ3 K) ký kết Hợp đồng vận chuyển số:
06/HĐVC/HB-AK. Theo đó Công ty T1 đã thuê Công ty Đ3 K vận chuyển hàng hoá
than cám, khối lượng: 1.900 tấn ±10% từ cảng thuộc huyện T, Hải Phòng đến cảng
thuộc tỉnh Đồng Nai. Phương tiện vận chuyển là tàu Gia Bảo 19.
Theo Hợp đồng vận chuyển số: 30-2-23/HĐVC/VTAK-HN giữa Công ty Đ3
K với Bên vận chuyển là Công ty TNHH V2 (sau đây viết là Công ty V2) ngày
20/09/2023, Công ty Đ3 K đã thuê chủ tàu Gia Bảo 19 là Hải Ngọc vận chuyển hàng
hoá này trên tàu Gia Bảo 19. Tàu Gia Bảo 19 thuộc sở hữu của Công ty V2.
Ngày 11/01/2023, Công ty T1 và Công ty B3 (sau đây viết là BHV H) ký Hợp
đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa số 1616HDNT230005 v bảo hiểm hàng hóa
cho than cám, than cục, than các loại. B4 đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm hàng
hóa vận chuyển nội địa số 1616HH03232607, lúc 17 giờ 00 ngày 17/12/2023 (gửi
bản scan qua zalo cho cán bộ Công ty T1, cán bộ này hiện đã nghỉ việc ở Công ty
3
nên không có tài liệu, chứng cứ chứng minh). Thời điểm cấp đơn bảo hiểm, hàng
hóa đã được xếp đủ lên tàu.
Hồi 18 giờ ngày 13/12/2023, tàu hoàn thành thủ tục rời cảng và được đại diện
Cảng vụ Đường thủy nội địa Đ4 cấp giấy phép rời cảng. Đến 03 giờ 30 phút ngày
17/12/2023 tàu bị chìm đắm tại vùng biển ngoài khơi ngang C - tỉnh Thừa Thiên
Huế.
Ngay sau khi tàu bị chìm đắm Công ty T1 đã thông báo cho B4 qua điện thoại.
Trong ngày 17/12/2023, Công ty T1 đã gửi công văn thông báo tổn thất chính thức
tới BHV Hải Phòng.
Theo hướng dẫn của Tổng Công ty Cổ phần B2 (BHV) và Công ty TNHH K1
(sau đây viết là Công ty K1), ngày 20/12/2023, Công ty T1 đã lập và gửi thư dự
kháng chính thức tới Công ty Đ3 K.
BHV đã cử Công ty K1 tiến hành giám định vụ việc.
Ngày 25/10/2025, Công ty T1 có Công văn số: 25102025/YCBT/CV gửi B4
và BHV yêu cầu bồi thường số tin giá trị hàng hoá than bị chìm là: 1.876.164.570
đồng.
Như vậy, Công ty T1 đã thực hiện đầy đủ các thủ tục v thông báo tổn thất,
bảo lưu quyn khiếu nại đối với bên thứ ba theo các yêu cầu của BHV, của bên giám
định V.
Ngày 28/10/2025, Công ty T1 nhận được Công văn số: 057/2025/CV-TGĐ-
HH ngày 25/04/2025 của BHV từ chối bồi thường vụ tổn thất lô hàng than cám 8A
bị chìm trên tàu Gia Bảo 19 ngày 17/12/2023. Công ty T1 không đồng ý với các căn
cứ mà BHV từ chối bồi thường với các lý do sau:
- V hồ sơ tàu Gia Bảo 19 có đủ giấy tờ theo quy định theo báo cáo điu tra
do cảng vụ hàng hải T2 lập.
- V trọng tải của tàu và khối lượng hàng hóa thực hiện vận chuyển:
Căn cứ theo: Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ điện tử số 27 do Công
ty T1 lập ngày 13/12/2023; Biên bản giao nhận hàng hoá do Hải B và Anh K ký
ngày 13/12/2023; Giấy chứng nhận số: 47-DV/quacontrol/2023 do Công ty Cổ phần
G (Quacontrol) cấp ngày 13/12/2023; Lệnh điu động do H lập ngày 13/12/2023 có
xác nhận của đại diện tàu Gia Bảo 19; thì khối lượng hàng hoá của Công ty T1 xếp
lên tàu Gia Bảo 19 là: 1.881,81 tấn than cám 8A.
Căn cứ theo thông tin do thuyn trưởng tàu Gia Bảo 19 cung cấp thì khối
lượng nước dự trữ là: 4 tấn; Khối lượng dầu DO là: 17,4 tấn.
Vậy, tổng khối lượng hàng hoá cộng với nước ngọt, nhiên liệu dự trữ là:
1.881,81 tấn than cám 8A + 4,0 tấn nước ngọt + 17,4 tấn DO = 1.903,21 tấn.
4
Căn cứ theo Giấy chứng nhận đăng ký thì trọng tải toàn phần của tàu là:
1.917,70 MT. Vậy, tàu hành trình không quá tải.
- V việc thiếu máy trưởng trên tàu khi tàu hành trình:
+ Khi tàu rời cảng, trên tàu có đầy đủ 9 thuyn viên và hoàn toàn hợp lệ theo
quy định của thông tư số: 20/2023/TT-BGTVT. Tàu được đại diện cảng vụ cấp Giấy
phép rời cảng.
+ Khi tàu bị sự cố vào khoảng 06h ngày 14/12/2023, máy trưởng trên tàu và
phát hiện máy chính gặp sự cố nước rò vào sơ mi, máy trưởng đã báo cho thuyn
trưởng biết. Thuyn trưởng cho tàu neo đậu lại để máy trưởng và sỹ quan máy, thợ
máy khắc phục máy chính. Đến khoảng 18h ngày 14/12/2023 thì khắc phục xong,
máy chính sau đó hoạt động bình thường. Đến 18h30 cùng ngày thì máy trưởng xin
phép v nhà có việc gấp của gia đình. Thuyn trưởng đã thông báo cho Công ty biết
rồi cho phép máy trưởng rời tàu
+ Trong suốt quá trình hành trình, trang thiết bị hàng hải và máy chính của tàu
vẫn hoạt động ổn định, không có sự cố nào xảy ra.
Tại ca trực xảy ra sự cố (Ca 00-04 ngày 16/12/2025), thuyn trưởng đã bố trí
thuyn viên tại các bộ phận bao gồm: Buồng máy có: Sỹ quan máy Phạm Quang H;
Tại cabin: Sỹ quan boong Bùi Khắc H1; Thuỷ thủ trực ca Đỗ Hữu Đ1. Như vậy, ca
trực đã được bố trí đầy đủ.
Vì vậy, ý kiến BHV nêu thiếu máy trưởng dẫn đến không đảm bảo khả năng
an toàn vận hành trang thiết bị trên tàu cũng như khả năng lưu hành của phương tiện
là không đúng.
+ Theo kết luận điu tra của Cảng vụ Hàng hải T2 thì nguyên nhân gây tổn
thất chìm đắm là do sóng lớn tác động làm đứt gãy chân be chắn sóng, be chắn sóng
va đập vào ống thông hơi các két dần phía mạn trái của tàu dẫn đến tại các vị trí đứt
gãy, va đập đã không còn đảm bảo tính kín nước cho hầm hàng mũi. Nước biển đã
xâm nhập vào trong hầm hàng mũi qua làm cho tàu nghiêng, chúi mũi và chìm. Đồng
thời, do ảnh hưởng của sóng lớn làm cho tàu lắc ngang mạnh, hàng hoá bị xô dịch
làm cho tính ổn định của tàu giảm cũng là nguyên nhân gây tàu nghiêng và chìm
đắm.
Vậy, nguyên nhân tổn thất dẫn đến tàu chìm hoàn toàn không có yếu tố từ
thuyn viên vận hành, điu khiển tàu và đặc biệt là không liên quan đến thuyn viên
bộ phận máy. Vì vậy, việc thiếu máy trưởng nhưng sỹ quan máy và thợ máy đã thực
hiện trực, vận hành máy chính cũng như các trang thiết bị hoạt động bình thường.
Nguyên nhân dẫn đến tàu chìm hoàn toàn không liên quan đến máy chính của tàu,
không liên quan đến vận hành máy cũng như các thiết bị hàng hải.
5
- V việc thuyn trưởng và thuyn viên tàu cố ý điu khiển tàu hành trình
ngoài vùng quy định:
Căn cứ theo báo cáo điu tra tai nạn hàng hải tàu Gia Bảo 19 do Cảng vụ Hàng
hải T2 lập ngày 12/03/2025 thì:
“Vùng biển tỉnh Thừa Thiên Huế là vùng biển chịu ảnh hưởng trực tiếp sóng
lớn từ B1 và giữa Biển Đ2. Các tàu có tuyến hành trình từ B vào N khi đi qua khỏi
phía Nam vịnh Bắc bộ vào vùng biển tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ chịu tác động của sóng
lớn dẫn đến nhiu tai nạn chìm tàu ở khu vực này. Vì vậy, khuyến nghị các tàu có
tuyến hành trình từ Bắc vào N khi đi qua vùng biển này phải chủ động theo dõi, nắm
bắt thông tin thời tiết để có kế hoạch hành trình phù hợp, đảm bảo an toàn cho tàu
và thuyn viên trên tàu."
Căn cứ theo đặc điểm thời tiết biển thì vùng biển từ min B vào min N Việt
Nam có tính chất gió mùa Đông Bắc trên vùng biển Việt Nam vào các tháng 10, 11,
12 và tháng 01, 02, đặc biệt thời tiết xấu vào các tháng 11, 12 và tháng 01 hàng năm.
Theo ghi nhận của báo cáo điu tra tai nạn hàng hải thì do có nhiu tàu cá trên
tuyến hành trình nên tàu phải liên tục tránh va. Đến khoảng 12h cùng ngày
(15/12/2023), xét thấy không đảm bảo an toàn cho tàu, thuyn trưởng cho tàu di
chuyển cắt ra phía ngoài theo hướng 171º để tránh tàu cá, sau đó giữ nguyên hướng
167°, tại thời điểm này thời tiết biển có sóng gió nhẹ, các thiết bị trên tàu hoạt động
ổn định, tốc độ tàu được duy trì trung bình khoảng 6,5 hải lý/giờ. Trong ngày
16/12/2023, các trang thiết bị hàng hải và động lực của tàu vẫn hoạt động ổn định,
không có sự cố nào xảy ra. Như vậy, thuyn trưởng đã vạch định kế hoạch hành trình
đúng quy định, nhưng do yếu tố khách quan phải tránh va nhiu tàu cá nên thuyn
trưởng cho điu khiển tàu theo hướng xa dần bờ. Tàu hành trình ngoài phạm vi quy
định do yếu tố khách quan, đây không phải hành động cố ý của thuyn trưởng cũng
như thuyn viên tàu. Công ty T1 đã trao đổi với thuyn trưởng thì thuyn trưởng
khẳng định không cố ý điu khiển tàu hành trình ngoài phạm vi quy định.
- Vụ chìm đắm này làm tàu Gia Bảo 19 bị tổn thất toàn bộ, không có khả năng
trục với lên. Từ đó, Công ty T1 và Cảng vụ Hàng hải T2 đu đánh giá vụ việc của
tàu Gia Bảo 19 bị chìm này thuộc loại tai nạn hàng hải đặc biệt nghiêm trọng theo
khoản 3 Điu 4 của Thông tư quy định v báo cáo và điu tra tai nạn hàng hải số:
01/2020/TT-BGTVT ngày 20/01/2020 của Bộ G1.
- BHV nêu ra các căn cứ từ chối bồi thường:
+ “Các điểm loại trừ theo Quy tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh
thổ Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 342/2019/QĐ-TGD-NV01 ngày
27/12/2019 của TGĐ Công ty CP B3:
“Điu 3. Loại trừ bảo hiểm
6
Trừ khi có thỏa thuận khác, BHV sẽ không chịu trách nhiệm đổi với những
mất mát, hư hỏng hay chi phí gây bởi:
3.3. Hành động xấu, cố ý hay hành vi phạm pháp của người được bảo hiểm
hay người làm công cho họ:
3.8. Phương tiện vận chuyển không đủ khả năng lưu hành, không đảm bảo an
toàn giao thông theo quy định của pháp luật hiện hành;
+ Cam kết v điu kiện phương tiện trong GCN bảo hiểm 1616HH03232607:
“Cam kết rằng phương tiện vận chuyển phải đủ điu kiện hoạt động và chở
hàng theo quy định của đăng kiểm Việt Nam và phải được bảo hiểm trách nhiệm
dân sự của chủ phương tiện đối với hàng hóa nhận chuyên chở”.
V điểm loại trừ 3.3: Như nêu trên thì thuyn trưởng và các thuyn viên trên
tàu không cố ý, không hành động xấu hay hành vi phạm pháp.
Công ty T1 là chủ hàng, người được bảo hiểm; Công ty Anh K là người vận
chuyển; Công ty V2 là chủ tàu, người vận chuyển thực tế. Thuyn viên của tàu không
do Công ty T1 quản lý, không làm công cho Công ty T1 mà làm công cho Công ty
V2. Việc tàu đi ngoài vùng quy định, Công ty T1 hoàn toàn không được biết tại thời
điểm đó. Nếu biết, Công ty T1 cũng không đồng ý cho việc hành trình ngoài phạm
vi này. Vì vậy, việc tàu hành trình ngoài phạm vi quy định không phải là hành động,
không phải tính toán của Công ty T1 hoặc người làm công cho Công ty T1.
Căn cứ điểm c khoản 10 Điu 33 Nghị định số 142/2017/NĐ-CP của Chính
phủ v xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải: Đối với hành vi tàu
thuyn hoạt động không đúng vùng được phép hoạt động theo quy định sẽ bị xử phạt
như sau: Phạt tin từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với tàu thuyn có dung tích
từ 500 GT đến dưới 3.000 GT.
Như vậy, thuyn viên tàu Gia Bảo 19 điu khiển tàu hành trình ngoài phạm vi
cho phép là vi phạm v mặt hành chính, không phải hành vi bị nghiêm cấm theo
Luật Hàng hải. Giả sử nếu có yếu tố cố ý của thuyn viên thì việc tàu đi ngoài phạm
vi quy định cũng không phải là nguyên nhân gây ra tai nạn chìm tàu Gia Bảo 19.
Nguyên nhân do sóng lớn, thời tiết không thuận lợi gây nên sự cố chìm tàu.
Như vậy BHV trích dẫn 03 căn cứ để từ chối bồi thường cho Công ty T1 là
không có căn cứ, không đúng với thực tế vụ việc.
Ngoài ra, khi ký kết Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hoá số:
1616HDNT230005, Công ty T1 chưa được B4 hoặc cán bộ kinh doanh bảo hiểm
của họ cung cấp cho quy tắc bảo hiểm, họ cũng chưa giải thích cho Công ty T1 v
các điểm loại trừ của quy tắc bảo hiểm. Chỉ đến khi vụ việc xảy ra và BHV thông
báo từ chối bồi thường, Công ty T1 mới được biết qua công văn của BHV gửi v các
điểm loại trừ được BHV trích dẫn. BHV đã không thực hiện đúng quy đinh của pháp
7
luật tại điểm b khoản 2 Điu 20 của Luật Kinh doanh bảo hiểm: Giải thích rõ ràng,
đầy đủ cho bên mua bảo hiểm về quyền lợi bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm
bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyn của bị đơn trình bày bổ sung các căn cứ
từ chối bồi thường liên quan đến việc nguyên đơn không nộp đầy đủ hồ sơ yêu cầu
bồi thường. Tuy nhiên, trong suốt quá trình nguyên đơn yêu cầu bồi thường thì chưa
lần nào bị đơn có cuộc họp với nguyên đơn hoặc thông báo, hướng dẫn cho nguyên
đơn phải giao nộp bổ sung giấy tờ gì, loại giấy tờ nào nguyên đơn nộp không hợp
lệ… Bị đơn chỉ căn cứ vào các căn cứ nêu trên để từ chối bồi thường. Sau khi nhận
được thông báo từ chối bồi thường của bị đơn ngày 28/10/2025 thì nguyên đơn đã
có Công văn số 20112025/YC/CV ngày 20/11/2025 gửi bị đơn yêu cầu cung cấp hồ
sơ, không đồng ý với thông báo từ chối bồi thường và thông báo việc khởi kiện.
* Nay nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện. Cụ thể: Theo đơn khởi
kiện nguyên đơn buộc BHV phải chi trả cho Công ty T1 các khoản tin sau:
- Giá trị hàng hóa là than cám 8A vận chuyển trên tàu Gia Bảo 19 bị chìm.
Hàng hoá này được bảo hiểm theo Giấy chứng nhận bảo hiểm hàng hoá vận chuyển
nội địa số 1616HH03232607 do B4 cấp lúc 17h00 ngày 13/12/2023. Số tin yêu cầu
bồi thường là: 1.876.164.570 đồng.
- Lãi phát sinh vì BHV chậm trễ trong việc chi trả tin bảo hiểm: Từ ngày
Công ty T1 cung cấp đủ hồ sơ đòi bồi thường là ngày lập Công văn yêu cầu bồi
thường (ngày 26/10/2025), công thêm 15 ngày là thời gian theo quy định BHV phải
thanh toán tin bồi thường theo Hợp đồng bảo hiểm, tính thêm 15 ngày nữa là 30
ngày, kể từ ngày 26/10/2025. Nên ngày tính lãi từ ngày 25/11/2025 cho đến ngày
xét xử, tạm tính là 250 ngày, với lãi suất 10%/năm:
250 ngày x 10%/365 ngày x 1.876.164.570 đồng = 128.504.423 đồng.
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện v việc buộc bị đơn phải trả tin
lãi phát sinh, chỉ buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tin bồi thường bảo hiểm là
1.876.164.570 đồng.
Tại Văn bản ý kiến của bị đơn ngày 05/02/2026, đại diện theo pháp luật của
bị đơn trình bày:
Nguyên đơn chưa chứng minh được yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp
pháp.
BHV từ chối chi trả tin bảo hiểm cho Công ty T1 là hoàn toàn có căn cứ và
hợp pháp. Những căn cứ này đã được BHV nêu trong Thông báo từ chối bồi
thường ngày 25/04/2025 của BHV gửi cho Công ty T1. Nội dung cụ thể như sau:
8
1. Căn cứ theo Báo cáo Điu tra tai nạn hàng hải tàu “Gia Bảo 19” số
284/BCĐTr- CVHHTTH ngày 12/03/2024 của Cảng vụ Hàng hải T2, nguyên nhân
tổn thất có thể kết luận như sau:
“Tàu “Gia Bảo 19” hành trình trong điu kiện thời tiết nguy hiểm, sóng lớn
tác động làm cho be chắn sóng mạn trái khu vực hầm hàng mũi không còn giữ được
kết cấu ổn định ban đầu. Hậu quả, dưới sự tác động của sóng làm đứt gãy chân be
chắn sóng, va đập vào ống thông hơi của các két dần phía mạn trái dẫn đến tại các
vị trí đứt gãy, va đập có tiếp xúc với mặt boong đã không còn đảm bảo tính kín nước
cho hầm hàng mũi, đây là nguyên nhân chính dẫn đến nước vào hầm hàng gây
nghiêng, chúi mũi và chìm tàu. Đồng thời, do ảnh hưởng của sóng lớn, tàu bị lắc
ngang mạnh, hàng hóa chuyên chở bị xô dịch làm cho tính ổn định của tàu giảm
cũng là nguyên nhân gây tàu nghiêng.”
2. Căn cứ theo Chứng thư giám định số VT2335670 do Công ty K1 phát hành
ngày 14/04/2025 đã bổ sung thêm nhận định v nguyên nhân tổn thất như sau:
“Tàu “Gia Bảo 19” đã hành trình ngoài vùng quy định, trong điu kiện thời
tiết v sóng, gió vượt quá điu kiện được hoạt động theo quy định của Đăng kiểm
Việt Nam quy định trong GCN phân cấp tàu cũng như quy định của Bộ G1 liên quan
đến vùng hoạt động của tàu biển chở hàng. Thuyn trưởng và thuyn viên tàu đã cố
ý trong việc hành trình này.
Tàu “Gia Bảo 19” đã bố trí đủ thuyn viên theo quy định trước khi hành trình.
Nhưng, sau khi hành trình được khoảng 1 tiếng thì máy trưởng đã xin phép rời tàu.
Từ lúc này, trên tàu đã thiếu máy trưởng (Chức danh rất quan trọng trên tàu).
Tàu có trọng tải toàn phần nhỏ (1.917,70 MT), nhưng tổng lượng hàng hóa
với nước ngọt, nhiên liệu dự trữ (Chưa tính thuỷ thủ đoàn, vật phẩm tiếp tế, nước
dần...) là: 1.903,21 tấn. Vì vậy, chắc chắn tàu có mớn chìm lớn, gần bằng với mớn
quy định. Khi tàu gặp điu kiện thời tiết xấu sẽ ảnh hưởng lớn đến tàu vì mớn chìm
của tàu lớn, sóng đánh mạnh và phủ lên hầm hàng. Trong khi hàng hóa là than cám
8A có tính ổn định kém, dễ bị xê dịch và có thể hóa lỏng nếu có nước chảy, ngấm
vào hàng hóa. Nhưng, thuyn trưởng vẫn cho tàu hành trình trong điu kiện không
thuận lợi v thời tiết, hàng hóa, tình trạng mớn của tàu. Việc hành trình này không
đảm bảo an toàn giao thông theo quy định của pháp luật hiện hành. Từ đó dẫn đến
tai nạn chìm tàu nêu trên.
Căn cứ theo Thông tư số: 01/2020/TT-BGTVT do Bộ G1 ban hành ngày
20/01/2020 thì vụ chìm đắm tàu “Gia Bảo 19” này thuộc loại tai nạn hàng hải đặc
biệt nghiêm trọng.”
3. Từ những bằng chứng, phân tích đánh giá của Cảng vụ T2 và Công ty K1,
BHV nhận định:
9
Trong chuyến hành trình, “Tàu Gia Bảo 19” không bố trí đủ thuyn viên theo
quy định, thiếu vị trí máy trưởng dẫn tới không đảm bảo khả năng an toàn vận hành
trang thiết bị trên tàu cũng như khả năng lưu hành của phương tiện.
Thuyn trưởng và thuyn viên tàu “Gia Bảo 19” đã cố ý điu khiển tàu hành
trình ngoài vùng quy định của Đăng kiểm Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật giao
thông và pháp luật hiện hành trong điu kiện thời tiết nguy hiểm.
4. Các điểm loại trừ theo Quy tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh
thổ Việt Nam ban hành kèm theo quyết định số 342/2019/QĐ-TGĐ-NV01 ngày
27/12/2019 của Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần B3 áp dụng cho chuyến hàng này:
“Điu 3. Loại trừ bảo hiểm
Trừ khi có thỏa thuận khác, BHV sẽ không chịu trách nhiệm đổi với những
mất mát, hư hỏng hay chi phí gây bởi:
3.3. Hành động xấu, cố ý hay hành vi phạm pháp của người được bảo hiểm
hay người làm công cho họ.
3.8. Phương tiện vận chuyển không đủ khả năng lưu hành, không đảm bảo an
toàn giao thông theo quy định của pháp luật hiện hành.
5. Cam kết v điu kiện phương tiện trong Giấy chứng nhận bảo hiểm
1616HH03232607:
“Cam kết rằng phương tiện vận chuyển phải đủ điu kiện hoạt động và chở
hàng theo quy định của Đăng kiểm Việt Nam và phải được bảo hiểm trách nhiệm
dân sự của chủ phương tiện đối với hàng hóa nhận chuyên chở”.
Từ những căn cứ trên, BHV đ nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày
bổ sung:
V tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là bản phô tô Giấy chứng nhận
bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa số 1616HH0323267: Hiện tại bị đơn không
khẳng định có hay không có cấp giấy chứng nhận bảo hiểm này vì đây là nghĩa vụ
chứng minh của nguyên đơn nên yêu cầu nguyên đơn cung cấp.
V Quy tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam ban hành
kèm theo quyết định số 342/2019/QĐ-TGĐ-NV01 ngày 27/12/2019 của Tổng Giám
đốc Công ty Cổ phần B3 bị đơn đã gửi cho nguyên đơn khi ký hợp đồng bảo hiểm,
và đăng tải trên cổng thông tin của Công ty. Bị đơn đã gửi cho Tòa án Vi bằng thể
hiện việc đăng tài Quy định này trên cổng thông tin của bị đơn.
Tại Bản tự khai ghi ngày 09/6/2026 (Tòa án nhận vào ngày 11/6/2026) và tại
phiên tòa, đại diện theo ủy quyn của bị đơn trình bày:
10
BHV có đầy đủ căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế để từ chối bồi thường đối với
yêu cầu của H. Các căn cứ này tồn tại độc lập với nhau và mỗi căn cứ đu đủ để làm
phát sinh quyn từ chối bồi thường của BHV, bao gồm:
- H không chứng mình được tính toàn vẹn, đầy đủ và hợp lệ của bản giấy
chứng nhận bảo hiểm mà H sử dụng làm căn cứ khởi kiện.
- Ngay cả trong trường hợp giả định rằng cho dù BHV không chứng minh
được việc BHV đã giao và giải thích quy tắc bảo hiểm thì điu đó cũng không đồng
nghĩa với việc BHV phải bồi thường cho tổn thất mà H yêu cầu.
- H đã mất quyn yêu cầu bồi thường.
- Hải Bình không cung cấp đầy đủ hồ sơ yêu cầu bồi thường.
- Hải Bình không chứng mình được hàng hóa đã được giao nhận lên tàu Gia
Bảo 19.
- Hải Bình không chứng mình được giá trị hàng hóa bị thiệt hại.
- Hải Bình không áp dụng những biện pháp cần thiết để người được bảo hiểm
có thể thực hiện quyn truy đòi người thứ ba.
- Ngay cả theo chính giấy chứng nhận bảo hiểm mà H xuất trình thì BHV cũng
có căn cứ từ chối bồi thường.
- Áp dụng điu khoản loại trừ trong quy tắc bảo hiểm khi tổn thất xây ra do
tàu hoạt động vượt quá giới hạn an toàn được phép.
- H đã không phản đối việc từ chối bồi thường của BHV trong thời hạn quy
định.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyn của bị đơn tiếp tục trình bày bị đơn không
khẳng định được có cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho nguyên đơn hay không và
không khẳng định được có giao giấy chứng nhận bảo hiểm cho nguyên đơn hay
không. Trường hợp bị đơn phải bồi thường bảo hiểm cho nguyên đơn thì việc yêu
cầu người thứ ba bồi hoàn tin bảo hiểm, bị đơn sẽ xem xét sau.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo bổ sung người tham
gia tố tụng và nhiều lần triệu tập hợp lệ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ3 K và Công ty Trách nhiệm hữu hạn V2
nhưng đều vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Với nội dung như trên, tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số
24/2026/KDTM-ST ngày 12 tháng 06 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Hải Phòng, xử:
11
1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn v việc buộc
Tổng Công ty Cổ phần B2 phải trả cho Công ty Cổ phần T1 tin lãi phát sinh do
chậm trả tin bảo hiểm là 128.504.423 đồng (một trăm hai mươi tám triệu năm trăm
linh tư nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng).
2. Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần T1:
Buộc Tổng Công ty Cổ phần B2 phải trả cho Công ty Cổ phần T1 số tin bảo
hiểm là 1.876.164.570 đồng (một tỷ tám trăm bảy mươi sáu triệu một trăm sáu mươi
tư nghìn năm trăm bảy mươi đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
Tổng Công ty Cổ phần B2 còn phải chịu khoản tin lãi của số tin còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điu 468 của Bộ luật Dân sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn là Tổng công ty B2; địa chỉ: Tầng E Tòa nhà
S, A đường C, phường H, thành phố Hà Nội kháng cáo đối với Bản án kinh doanh
thương mại sơ thẩm số 24/2026/KDTM-ST ngày 12 tháng 06 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng. Đ nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án
sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
hoặc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; hoặc hủy toàn bộ bản án sơ
thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyn để giải quyết
theo quy định pháp luật.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị đơn Tổng Công ty cổ phần B2 không cung cấp
thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
V thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyn và nghĩa
vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
V quan điểm đối với kháng cáo của bị đơn Tổng Công ty cổ phần B2:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa,
căn cứ vào khoản 1 Điu 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đ nghị Hội đồng xét xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Tổng Công ty cổ phần B2; giữ nguyên Bản
án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 24/2026/KDTM-ST ngày 12 tháng 06 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng.
V án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên Tổng
Công ty cổ phần B2 phải chịu án phí kinh doanh phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- V tố tụng:
12
[1] V thẩm quyn giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án
tranh chấp v hợp đồng bảo hiểm hàng hóa giữa Công ty Cổ phần T1 và Tổng Công
ty cổ phần B2 theo quy định tại khoản 1 Điu 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ
án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyn giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng theo điểm b khoản 1 Điu 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] V sự vắng mặt của các đương sự: Những người có quyn lợi, nghĩa vụ
liên quan Công ty TNHH Đ3 K và Công ty TNHH V2 đu vắng mặt không có lý do
mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Tòa án tiến hành xét
xử vắng mặt những người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan theo khoản 3 Điu 228
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3] Tại phiên toà, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện v việc yêu cầu
bị đơn trả lãi của số tin bảo hiểm. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là tự nguyện, căn cứ khoản 2 Điu 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút.
[4] Ngày 11/01/2023, B4 và Công ty T1 ký kết Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm
hàng hóa số 1616HDNT230005 (sau đây viết là Hợp đồng). Nội dung của hợp đồng:
Công ty B3 đồng ý nhận bảo hiểm cho hàng hóa của Công ty T1 theo như các điu
khoản, các quy định đã nêu trong Hợp đồng và các quy định trong Đơn bảo hiểm/sửa
đổi bổ sung (nếu có) cấp cho từng chuyến hàng. Hàng hóa được bảo hiểm: Than
cám, than cục, than các loại…
[5] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng: Người tham gia Hợp đồng có năng lực
hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện. V nội dung của Hợp đồng: Ngoại trừ điu
khoản thỏa thuận v Tòa án có thẩm quyn giải quyết tranh chấp không phù hợp với
quy định của pháp luật như nêu tại nhận định [1] thì các thỏa thuận khác của các bên
và mục đích của hợp đồng là không vi phạm điu cấm của pháp luật, không trái đạo
đức xã hội; phù hợp với quy định của pháp luật tại Điu 117 của Bộ luật Dân sự, các
điu 16, 17 của Luật Kinh doanh bảo hiểm. V hình thức của Hợp đồng phù hợp với
quy định tại Điu 119 của Bộ luật Dân sự và Điu 18 của Luật Kinh doanh bảo hiểm.
Như vậy, ngoại trừ điu khoản thỏa thuận v thẩm quyn Tòa án giải quyết tranh
chấp thì các điu khoản khác của Hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên
phát sinh hiệu lực đối với các bên.
[6] Xét việc thực hiện Hợp đồng của các bên: Nguyên đơn cung cấp cho Tòa
án bản phô tô Giấy chứng nhận bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa số
1616HH03232607 với nội dung: Cấp tại Công ty B3 vào lúc 17h00 ngày 13/12/2023;
người được bảo hiểm: Công ty T1; tên phương tiện: G; số tin bảo hiểm: 100%CF=
1.876.164.570 đồng; đối tượng bảo hiểm: Than cám 8A, khối lượng 1881,81 tấn,
hóa đơn số 6C23NYY/27; phí bảo hiểm: 1.023.363 đồng; thuế GTGT: 102.336
13
đồng, tổng: 1.125.699 đồng, thời hạn thanh toán: Theo hợp đồng nguyên tắc. Đại
diện theo ủy quyn của nguyên đơn trình bày bị đơn chỉ gửi bản scan Giấy chứng
nhận bảo hiểm cho nguyên đơn, không gửi bản chính cho nguyên đơn. Tòa án đã
yêu cầu bị đơn cung cấp bản sao (có công chứng hoặc chứng thực hợp pháp) Giấy
chứng nhận bảo hiểm nhưng bị đơn không cung cấp và đại diện theo ủy quyn của
bị đơn trình bày bị đơn không khẳng định có hay không có cấp giấy chứng nhận bảo
hiểm số 1616HH03232607. Tuy nhiên, căn cứ Giấy báo nợ của Ngân hàng TMCP
C, và Hóa đơn GTGT ký hiệu: 1K23TBH, số 00004116 ngày 19/12/2023 thể hiện:
Ngày 17/12/2023, Công ty T1 đã thanh toán tin phí bảo hiểm tàu Gia Bảo 19 cho
B4 số tin là 1.125.699 đồng; phù hợp với nội dung Giấy chứng nhận bảo hiểm hàng
hóa vận chuyển nội địa số 1616HH03232607. Mặt khác, tại Văn bản ý kiến của bị
đơn ngày 05/02/2026, đại diện theo pháp luật của bị đơn cũng trình bày một trong
các căn cứ để từ chối thanh toán tin bảo hiểm cho nguyên đơn là Cam kết v điu
kiện phương tiện trong Giấy chứng nhận bảo hiểm 1616HH03232607, với nội dung
như nêu tại bản phô tô Giấy chứng nhận bảo hiểm 1616HH03232607 nguyên đơn
đã nộp cho Tòa án như nêu trên. Như vậy, có đủ căn cứ xác định BHV đã cấp Giấy
chứng nhận bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa số 1616HH03232607 ngày
13/12/2023 cho Công ty T1 (sau đây viết là Giấy chứng nhận bảo hiểm). Trường
hợp, Công ty T1 chưa nhận được bản chính của Giấy chứng nhận bảo hiểm thì có
quyn yêu cầu BHV cung cấp theo Điu 18 và điểm c khoản 1 Điu 21 của Luật
Kinh doanh bảo hiểm. Việc đại diện của bị đơn trình bày nguyên đơn không chứng
minh được tính toàn vẹn, đầy đủ và hợp lệ của giấy chứng nhận bảo hiểm là không
có căn cứ.
[7] V đối tượng bảo hiểm: Theo Giấy chứng nhận bảo hiểm thì đối tượng bảo
hiểm là: Than cám 8A, khối lượng 1881,81 tấn. Theo Hợp đồng vận chuyển số:
06/HĐVC/HB-AK ngày 10/12/2023, Công ty T1 thuê Công ty Đ3 K vận chuyển
hàng hoá than cám, khối lượng: 1.900 tấn ±10% từ cảng thuộc huyện T, Hải Phòng
đến cảng thuộc tỉnh Đồng Nai. Phương tiện vận chuyển là tàu Gia Bảo 19. Theo Hợp
đồng vận chuyển số: 30-2-23/HĐVC/VTAK-HN ngày 20/09/2023, Công ty Đ3 K
đã thuê chủ tàu Gia Bảo 19 là Công ty V2 vận chuyển hàng hoá này trên tàu Gia Bảo
19. Theo Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ điện tử ký kiệu 6C23NYY, số 27
ngày 13/12/2023, Lệnh điu động ngày 13/12/2023, của Công ty T1; Biên bản giao
nhận hàng hóa hồi 14 giờ 00 phút ngày 13/12/2023 tại Cảng thủy nội địa G- TP .,
giữa Công ty T1 và Công ty Đ3 K và Giấy chứng nhận số: 47-DV/quacontrol/2023
do Công ty Cổ phần G (Quacontrol) cấp ngày 13/12/2023; Giấy phép rời cảng số
1800903 ngày 13/12/2023 của đại diện Cảng vụ Đường thủy nội địa Đ4 cấp, thể
hiện: Công ty T1 đã bàn giao 1.881,81 tấn than cám 8A, được xếp xuống tàu Gia
Bảo 19 vào ngày 13/12/2023. Như vậy, đối tượng bảo hiểm là than cám 8A, khối
lượng 1881,81 tấn được xếp xuống tàu Gia Bảo 19 vào ngày 13/12/2023. Việc bị
14
đơn trình bày nguyên đơn không chứng minh được hàng hóa đã được giao nhận lên
tàu Gia Bảo 19 là không có căn cứ.
[8] V sự kiện bảo hiểm: Theo Báo cáo điu tra tai nạn hàng hải tàu Gia Bảo
19 bị chìm đắm trên vùng biển tỉnh Thừa Thiên Huế số 284/BCĐTr- CVHHTTH
ngày 12/3/2024 của Cảng vụ Hàng hải T2 (sau đây viết là Báo cáo điu tra tai nạn
tàu Gia Bảo): Tàu Gia Bảo 19 thuộc Công ty V2 vận chuyển 1881,81 tấn than cám
từ cảng thủy nội địa G - Hải Phòng đến cảng khu vực Đồng Nai trả hàng. Ngày
17/12/2023, khi tàu hành trình qua vùng biển tỉnh Thừa Thiên Huế đã xảy ra tai nạn
chìm tàu.
[9] V nguyên nhân tổn thất: Nguyên đơn và bị đơn đu không có ý kiến phản
đối đối với Báo cáo điu tra tai nạn hàng hải tàu Gia Bảo 19 bị chìm đắm trên vùng
biển tỉnh Thừa Thiên Huế số 284/BCĐTr- CVHHTTH ngày 12/3/2024 của Cảng vụ
Hàng hải T2 và Chứng thư giám định, số tham chiếu: VT2335670, ngày giám định
22/12/2023, ngày cấp 14/4/2025 của Công ty TNHH K1, với nội dung như sau:
Tàu Gia Bảo 19 hành trình trong điu kiện thời tiết nguy hiểm, sóng lớn tác
động làm cho be chắn sóng mạn trải khu vực hầm hàng mũi không còn giữ được kết
cấu ổn định ban đầu. Hậu quả, dưới sự tác động của sóng làm đứt gãy chân be chắn
sóng, va đập vào ống thông hơi của các két dần phía mạn trái dẫn đến tại các vị trí
đứt gãy, va đập có tiếp xúc với mặt boong đã không còn đảm bảo tính kín nước cho
hầm hàng mũi, đây là nguyên nhân chính dẫn đến nước vào hầm hàng gây nghiêng,
chúi mũi và chìm tàu. Đồng thời, do ảnh hưởng của sóng lớn, tàu bị lắc ngang mạnh,
hàng hoá chuyên chở bị xô dịch làm cho tính ổn định của tàu giảm cũng là nguyên
nhân gây tàu nghiêng.
Tàu Gia Bảo 19 đã hành trình ngoài vùng quy định, trong điu kiện thời tiết
v sóng, gió vượt quá điu kiện được hoạt động theo quy định của Đăng kiểm Việt
Nam quy định trong GCN phân cấp tàu cũng như quy định của Bộ G1 liên quan đến
vùng hoạt động của tàu biển chở hàng. Thuyn trưởng và thuyn viên tàu đã cố ý
trong việc hành trình này.
Tàu Gia Bảo 19 đã bố trí đủ thuyn viên theo quy định trước khi hành trình.
Nhưng, sau khi hành trình được khoảng 1 tiếng thì máy trưởng đã xin phép rời tàu.
Từ lúc này, trên tàu đã thiếu máy trưởng (Chức danh rất quan trọng trên tàu).
Tàu có trọng tải toàn phần nhỏ (1.917,70 MT), nhưng tổng lượng hàng hoá
với nước ngọt, nhiên liệu dự trữ (Chưa tính thuỷ thủ đoàn, vật phẩm tiếp tế, nước
dằn...) là: 1.903,21 Tấn. Vì vậy, chắc chắn tàu có mớn chìm lớn, gần bằng với mớn
quy định. Khi tàu gặp điu kiện thời tiết xấu sẽ ảnh hưởng lớn đến tàu vì mớn chìm
của tàu lớn, sóng đánh mạnh và phủ lên hầm hàng. Trong khi hàng hoá là than cám
8A có tính ổn định kém, dễ bị xê dịch và có thể hoá lỏng nếu có nước chảy, ngấm
vào hàng hoá. Nhưng, thuyn trưởng vẫn cho tàu hành trình trong điu kiện không
15
thuận lợi v thời tiết, hàng hoá, tình trạng mớn của tàu. Việc hành trình này không
đảm bảo an toàn giao thông theo quy định của pháp luật hiện hành. Từ đó dẫn đến
tai nạn chìm tàu nêu trên.
Căn cứ theo Thông tư số 01/2020/TT-BGTVT do Bộ G1 ban hành ngày
20/01/2020 thì vụ chìm đắm tàu Gia Bảo 19 này thuộc loại tai nạn hàng hải đặc biệt
nghiêm trọng.
[10] V điu khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm:
[10.1] Theo điểm 3.2 Điu 3 của Hợp đồng quy định vđiu khoản loại trừ
bảo hiểm:
“- Điu khoản loại trừ rủi ro Rò rỉ và ô nhiễm
- Điu khoản loại trừ Trách nhiệm
- Điu khoản loại trừ Chiến tranh
- Điu khoản loại trừ rủi ro Khủng bố
- Điu khoản loại trừ rủi ro v Ô nhiễm phóng xạ, vũ khí hóa học, sinh học,
sinh hóa, vũ khí điện từ
- Điu khoản loại trừ rủi ro Năng lượng hạt nhân
- Điu khoản loại trừ rủi ro Chính trị, bảo lãnh tài chính & rủi ro tín dụng
- Điu khoản loại trừ Nguy hại công nghệ thông tin
- Điu khoản loại trừ Phi hàng hải (Hàng hóa)
- Điu khoản loại trừ Tấn công điu khiển
- Điu khoản Kết thúc hành trình (Khủng bố) JC2009/056
- Điu khoản kết thúc hành trình (Khủng bố) JC2001/056 sửa đổi
- Sửa đổi bổ sung nhận diện ngày điện từ - C (XLEDRC)
- Điu khoản loại trừ & Giới hạn do bị trừng phạt theo các lệnh cấm vận –
JC2010/214 - 11/8/2010
- Cam kết hàng hóa được xếp trong hầm hàng trừ khi hàng hóa đã được đóng
trong container hoặc đóng gói đặc biệt”.
[10.2] V Quy tắc v bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam
của BHV được ban hành kèm theo QĐ số 342/2019/QĐ-TGĐ-NV01 ngày
27/12/2019 của Công ty Cổ phần B3 (sau đây viết là Quy tắc bảo hiểm của BHV)
được quy định tại mục 3.1 Điu 3 của Hợp đồng v điu kiện bảo hiểm, không được
quy định tại mục 3.2 Điu 3 của Hợp đồng v điu khoản loại trừ bảo hiểm. Người
đại diện theo ủy quyn của bị đơn trình bày đã gửi Quy tắc bảo hiểm của BHV cho
nguyên đơn khi ký hợp đồng bảo hiểm, nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng
16
minh. Đồng thời việc đăng tải Quy tắc bảo hiểm của BHV trên công thông tin của
BHV cũng không được thể hiện trong hợp đồng. Mặt khác, nguyên đơn trình bày
không được bị đơn cung cấp quy tắc bảo hiểm, cũng chưa được giải thích v các
điểm loại trừ của quy tắc bảo hiểm. BHV đã không thực hiện đúng nghĩa vụ theo
khoản 2 Điu 19 của Luật Kinh doanh bảo hiểm: Trường hợp có điu khoản loại trừ
trách nhiệm bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm phải quy định rõ trong hợp đồng bảo
hiểm, phải giải thích rõ ràng, đầy đủ và có bằng chứng xác nhận việc bên mua bảo
hiểm đã được doanh nghiệp bảo hiểm giải thích đầy đủ và hiểu rõ nội dung này khi
giao kết hợp đồng bảo hiểm.
[10.3] Ngoài ra đối với các căn cứ loại trừ bảo hiểm theo Quy tắc bảo hiểm
của BHV mà bị đơn trình bày để loại trừ trách nhiệm bảo hiểm đối với nguyên đơn
như sau:
“Điu 3. Loại trừ bảo hiểm
Trừ khi có thỏa thuận khác, BHV sẽ không chịu trách nhiệm đổi với những
mất mát, hư hỏng hay chi phí gây bởi:
3.3. Hành động xấu, cố ý hay hành vi phạm pháp của người được bảo hiểm
hay người làm công cho họ.
3.8. Phương tiện vận chuyển không đủ khả năng lưu hành, không đảm bảo an
toàn giao thông theo quy định của pháp luật hiện hành”.
V căn cứ 3.3: Từ mục [6] xét nguyên nhân xảy ra tổn thất được viện dẫn đến
hành vi của thuyn trưởng, thuyn viên của tàu Gia Bảo 19, chủ tàu là Công ty V2.
Vì vậy, cần chấp nhận quan điểm của nguyên đơn: Thuyn viên của tàu Gia Bảo 19
không do Công ty T1 quản lý, không làm công cho Công ty T1 mà làm công cho
Công ty V2. Việc tàu hành trình ngoài phạm vi quy định không phải là hành động,
không phải tính toán của Công ty T1 hoặc người làm công cho Công ty T1.
V căn cứ 3.8: Theo Báo cáo điu tra tai nạn hàng hải tàu Gia Bảo 19 thì tàu
Gia Bảo 19 có đầy đủ giấy chứng nhận vđăng ký, đăng kiểm theo quy định và còn
hiệu lực. Tàu được đại diện Cảng vụ Đường thủy nội địa Đ4 (thuộc Cảng vụ Đường
thủy nội địa khu vực I) cấp Giấy phép rời cảng ngày 13/12/2023.
Như vậy, việc bị đơn căn cứ các điểm 3.3, 3.8 nêu trên để loại trừ trách nhiệm
bảo hiểm là không có căn cứ.
[10.4] Đối với căn cứ loại trừ bảo hiểm theo Giấy chứng nhận bảo hiểm
1616HH03232607: “Cam kết rằng phương tiện vận chuyển phải đủ điu kiện hoạt
động và chở hàng theo quy định của Đăng kiểm Việt Nam và phải được bảo hiểm
trách nhiệm dân sự của chủ phương tiện đối với hàng hóa nhận chuyên chở”. Xét
Công ty V2 chủ tàu Gia Bảo 19 có Giấy chứng nhận bảo hiểm tàu thuyn số
69/23/HD-TT.3/057-KDBH05 ngày 17/4/2023 của Tổng Công ty Cổ phần B5 (bảo
17
hiểm trách nhiệm dân sự), thời hạn bảo hiểm: Từ 00h00 ngày 05/5/2023 đến 23h59
ngày 04/5/2024. Và từ nhận định [9.3] thì tàu Gia Bảo 19 có đủ điu kiện hoạt động
và chở hàng theo quy định. Như vậy, bị đơn căn cứ điu khoản này để loại trừ trách
nhiệm bảo hiểm là không có căn cứ.
[10.5] Từ các nhận định [10.1] đến [10.4], xét nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn
tàu Gia Bảo 19 không thuộc một trong các căn cứ loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo
điểm 3.2 Điu 3 của Hợp đồng và Giấy chứng nhận bảo hiểm 1616HH03232607. Bị
đơn đã vi phạm nghĩa vụ giải thích điu khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy
định trong Quy tắc bảo hiểm của BHV. Mặt khác, các điểm loại trừ bị đơn căn cứ
theo Quy tắc bảo hiểm BHV để loại trừ bảo hiểm đối với nguyên đơn cũng không
có căn cứ. Như vậy, căn cứ điểm đ khoản 2 Điu 20, điểm e khoản 21 Luật Kinh
doanh bảo hiểm, bị đơn phải trả tin bảo hiểm hàng hóa cho nguyên đơn theo Hợp
đồng bảo hiểm đã ký kết.
[11] Giá trị và số tin bảo hiểm: Theo Chứng thư thẩm định thì hàng hóa trên
tàu Gia Bảo 19 được xem xét tổn thất toàn bộ thực tế. Điu 51 của Luật Kinh doanh
bảo hiểm quy định: Số tin bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm… phải trả cho
người được bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá thị trường của tài sản được bảo
hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế, trừ trường hợp có
thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Theo điểm 2.1 Điu 2 của Hợp đồng các
bên thỏa thuận: Giá trị và số tin bảo hiểm cho từng chuyến hàng được tính tối đa
bằng 110% giá trị hàng hóa tham gia bảo hiểm vận chuyển ghi trên hóa đơn hay
phiếu xuất kho của người được bảo hiểm. Việc bị đơn trình bày nguyên đơn không
chứng minh được giá trị hàng hóa bị thiệt hại là không có căn cứ.
[12] V các căn cứ bị đơn từ chối bồi thường cho nguyên đơn liên quan đến
hồ sơ yêu cầu bồi thường: Xét bản chính Giấy chứng nhận bảo hiểm là tài liệu cần
thiết có trong hồ sơ yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, nguyên đơn trình bày bị đơn
chưa cung cấp bản chính Giấy chứng nhận bảo hiểm cho nguyên đơn. Bị đơn trình
bày không khẳng định được có cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cho nguyên đơn hay
không và không khẳng định được có giao bản chính Giấy chứng nhận bảo hiểm cho
nguyên đơn hay không, nhưng lại từ chối bồi thường bảo hiểm cho nguyên đơn với
lý do không cung cấp đầy đủ hồ sơ yêu cầu bồi thường. Mặt khác, tại Công văn số
057/2025/CV-TGĐ-HH ngày 25/4/2025 v việc bị đơn thông báo từ chối bồi thường
bảo hiểm cho nguyên đơn và trong suốt quá trình hai bên liên hệ làm việc với nhau
v việc bồi thường bảo hiểm thì bị đơn cũng chưa lần nào đưa ra căn cứ từ chối bồi
thường là do bị đơn không nộp đủ hồ sơ bồi thường và yêu cầu nguyên đơn phải nộp
bổ sung các tài liệu nào còn thiếu của hồ sơ yêu cầu bồi thường. Theo điểm 7.1 Điu
7 của Hợp đồng quy định: Người bảo hiểm phải hướng dẫn Người được bảo hiểm
làm các thủ tục cần thiết để hoàn chỉnh hồ sơ đòi bồi thường. Vì vậy, các căn cứ từ
18
chối bồi thường của bị đơn liên quan đến hồ sơ yêu cầu bồi thường không được chấp
nhận.
[13] V việc bị đơn cho rằng nguyên đơn không phản đối việc từ chối bồi
thường của bị đơn trong thời hạn quy định: Ngày 25/4/2025 BHV ban hành Thông
báo từ chối bồi thường. Theo bị đơn trình bày BHV đã gửi Thông báo này cho
nguyên đơn qua dịch vụ bưu chính viễn thông, có xác nhận phát thành công vào
ngày 29/4/2025 và gửi qua email cho nguyên đơn ngày 28/10/2025. Tuy nhiên, theo
tài liệu thể hiện nội dung phát thư thành công thì không thể hiện tài liệu gửi là tài
liệu gì. Nguyên đơn trình bày nguyên đơn không nhận được bản chính Thông báo
này qua bưu điện mà chỉ nhận được qua email vào ngày 28/10/2025. Như vậy, chỉ
có căn cứ xác định nguyên đơn nhận được thông báo từ chối bồi thường của bị đơn
vào ngày 28/10/2025. Ngày 20/11/2025 nguyên đơn có Công văn số
20112025/YC/CV không đồng ý với thông báo từ chối bồi thường của bị đơn. Như
vậy, nguyên đơn không vi phạm thời hạn phản đối việc từ chối bồi thường theo điểm
8.7 của Quy tắc bảo hiểm: “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo
bồi thường hoặc từ chối bồi thường của BHV mà Người được bảo hiểm không có ý
kiến bằng văn bản thì xem như đã đồng ý với phương án giải quyết bồi thường của
BHV và vụ khiếu nại đó coi như đã kết thúc”. Mặt khác như đã nêu tại mục [10.2]
thì BHV đã vi phạm nghĩa vụ giải thích Quy tắc bảo hiểm cho nguyên đơn. Vì vậy,
bị đơn từ chối bồi thường theo căn cứ này là không được chấp nhận.
[14] V quyn truy đòi người thứ ba: Bị đơn cho rằng nguyên đơn không áp
dụng biện pháp cần thiết để người bảo hiểm có thể thực hiện quyn truy đòi người
thứ ba. Cụ thể không thực hiện các hành động pháp lý để đòi các bên vận chuyển
bồi thường. Xét: Theo điểm e Điu 21 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định bên mua
bảo hiểm có quyn: Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường, trả tin bảo hiểm
khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Điểm e Điu 20 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định
doanh nghiệp bảo hiểm có quyn: Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tin mà doanh
nghiệp B6 đã bồi thường cho người được bảo hiểm đối với thiệt hại v tài sản do
người thứ ba gây ra. Điu 54 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: Khi xảy ra sự
kiện bảo hiểm, trường hợp người thứ ba có trách nhiệm bồi thường do hành vi gây
thiệt hại cho người được bảo hiểm thì thực hiện như sau: Sau khi doanh nghiệp bảo
hiểm trả tin bồi thường, người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển cho
doanh nghiệp bảo hiểm quyn yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tin mà doanh
nghiệp đã bồi thường. Như vậy, nguyên đơn không buộc phải có nghĩa vụ yêu cầu
người vận chuyển bồi thường thiệt hại v hàng hóa trước khi yêu cầu bị đơn bồi
thường bảo hiểm. Mặt khác, ngày 17/12/2023 khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, nguyên
đơn có Thông báo tổn thất cùng ngày 17/12/2023 gửi người vận chuyển, BHV H và
các bên liên quan. Ngày 20/12/2023 nguyên đơn có T dự kháng gửi Công ty Đ3 K
và chủ tàu Gia Bảo 19 thông báo v tổn thất xảy ra đối với lô hàng vận chuyển trên
19
tàu Gia Bảo 19 và bảo lưu quyn khiếu nại đối với tổn thất. Như vậy, nguyên đơn
đã thực hiện các biện pháp cần thiết để bị đơn có thể thực hiện quyn truy đòi người
thứ ba. Vì vậy, bị đơn đưa ra căn cứ liên quan đến việc truy đòi người thứ ba để từ
chối bồi thường bảo hiểm cho nguyên đơn là không được chấp nhận.
[15] Từ các nhận định trên xét cần chấp nhận yêu cầu bồi thường bảo hiểm
của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tin bảo hiểm là
1.876.164.570 đồng.
[16] V nghĩa vụ chậm thi hành án: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điu
13 Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm
cho đến khi thi hành án xong bị đơn còn phải chịu khoản tin lãi của số tin còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điu 468 của Bộ luật Dân sự.
[17] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn Tổng Công ty cổ phần B2; địa chỉ: Tầng
E Tòa nhà S, A đường C, phường H, thành phố Hà Nội có đơn kháng cáo đối với
Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 24/2026/KDTM-ST ngày 12 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng, đnghị Toà án cấp phúc thẩm:
Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn; hoặc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; hoặc hủy
toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm
quyn để giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị đơn Tổng Công ty cổ phần B2 không cung cấp
thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới làm căn cứ cho HĐXX xem xét kháng cáo của
mình.
Xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn Tổng Công ty
cổ phần B2; giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 24/2026/KDTM-
ST ngày 12 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng theo quy
định tại khoản 1 Điu 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[18] V án phí: Căn cứ khoản 2 Điu 26, khoản 1 Điu 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
V án phí sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ
phần T1 được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại
sơ thẩm số tin là:
36.000.000 đồng + 3% × (1.876.164.570 đồng - 800.000.000 đồng) =
68.284.937 đồng (sáu mươi tám triệu hai trăm tám mươi tư nghìn chín trăm ba mươi
bảy đồng).
V án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận
nên bị đơn Tổng Công ty cổ phần B2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc
20
thẩm số tin là 2.000.000 đồng. Đối trừ với tin tạm ứng án phí phúc thẩm Tổng
Công ty cổ phần B2 đã nộp là 2.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Toà án số 0007669 ngày 19 tháng 06 năm 2026 tại Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 3 - Hải Phòng. Tổng Công ty Cổ phần B2 đã nộp đủ tin án phí kinh doanh
thương mại phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điu 30, điểm b khoản 1 Điu 38, Điu 147, Điu 148,
khoản 3 Điu 228, khoản 2 Điu 244, Điu 273, khoản 1 Điu 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự;
Căn cứ vào các điu 117, 119 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các vào các điu 16, 17, 18, 19, 20, 21, 31, 45 và 51 của Luật Kinh doanh
bảo hiểm;
Căn cứ vào khoản 2 Điu 26; khoản 1 Điu 29 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Tổng Công ty cổ phần B2; giữ
nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 24/2026/KDTM-ST ngày 12
tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng.
1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn v việc buộc
Tổng Công ty Cổ phần B2 phải trả cho Công ty Cổ phần T1 tin lãi phát sinh do
chậm trả tin bảo hiểm là 128.504.423 đồng (một trăm hai mươi tám triệu năm trăm
linh tư nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng).
2. Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần T1:
Buộc Tổng Công ty Cổ phần B2 phải trả cho Công ty Cổ phần T1 số tin bảo
hiểm là 1.876.164.570 đồng (một tỷ tám trăm bảy mươi sáu triệu một trăm sáu mươi
tư nghìn năm trăm bảy mươi đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
Tổng Công ty Cổ phần B2 còn phải chịu khoản tin lãi của số tin còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điu 468 của Bộ luật Dân sự.
3. V án phí:
21
V án phí sơ thẩm: Bị đơn Tổng Công ty Cổ phần B2 phải chịu án phí kinh
doanh thương mại sơ thẩm số tin là 68.284.937 đồng (sáu mươi tám triệu hai trăm
tám mươi tư nghìn chín trăm ba mươi bảy đồng).
Trả lại cho nguyên đơn Công ty Cổ phần T1 số tin tạm ứng án phí sơ thẩm
đã nộp là 36.046.000 đồng (ba mươi sáu triệu không trăm bốn mươi sáu nghìn đồng)
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000622 ngày 14 tháng 01 năm
2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
V án phí phúc thẩm: Bị đơn Tổng Công ty Cổ phần B2 phải chịu án phí kinh
doanh thương mại phúc thẩm số tin là 2.000.000 đồng. Đối trừ với tin tạm ứng án
phí phúc thẩm Tổng Công ty cổ phần B2 đã nộp là 2.000.000 đồng theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007669 ngày 19 tháng 06 năm 2026 tại Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 3 - Hải Phòng. Tổng Công ty Cổ phần B2 đã nộp đủ tin án
phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điu 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyn
thỏa thuận thi hành án, quyn yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điu 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điu 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 3 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 3 - Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 42/2026/KDTM-PT Bản án số 42/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 42/2026/KDTM-PT Bản án số 42/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất