Bản án số 24/2026/LĐ-ST ngày 21/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 24/2026/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 24/2026/LĐ-ST ngày 21/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Số hiệu: 24/2026/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/09/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Phương T đối với Công ty Cổ phần Dịch vụ C về việc “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” gồm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 24/2026/LĐ-ST Bản án số 24/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 24/2026/LĐ-ST Bản án số 24/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 24/2026/LĐ-ST
Ngày: 21/9/2026
V/v “Tranh chấp về đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Chinh
Ông Phạm Hồng Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Tưởng Duy Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Bin – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà
Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số: 10/2026/TLST-LĐ ngày
25 tháng 5 năm 2026 về “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”
theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1008/2026/QĐXXST-LĐ ngày 07 tháng 8
năm 2026, quyết định hoãn phiên tòa số: 1006/2026/QĐST-LĐ ngày 27/8/2026,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Phương T, sinh năm 1993, CCCD số: …; Nơi cư
trú: A T, phường H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên hệ: K T, phường H, thành phố
Đà Nẵng. Có mặt.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần D; Trụ sở: Thôn A, xã B, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Lâm A, chức danh: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hồ Thị Thu L, CCCD số: … và ông
Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991, CCCD số: …; Địa chỉ liên hệ: C B, phường H,
thành phố Đà Nẵng (Theo giấy ủy quyền số 91/2026/GUQ/BNC ngày 29/6/2026 của
ông Nguyễn Lâm A). Bà L vắng mặt, ông T1 có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/5/2026, quá trình tố tụng và tại phiên tòa
nguyên đơn bà Lê Thị Phương T trình bày:
Bà là người lao động ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn với
Công ty Cổ phần D (sau đây viết tắt là công ty D treo Bà N) số
227/2020/HĐLĐ/BNC ngày 19/6/2020, chức danh Trợ lý Giám đốc và làm việc
trực tiếp dưới sự quản lý của Giám đốc công ty. Ngày 08/4/2025, Giám đốc nhắn
tin trong nhóm Viber công việc chung yêu cầu bà chấm dứt công việc hiện tại của
mình từ ngày 08/4 và bàn giao tất cả công việc cho nhân sự khác, yêu cầu bà làm
việc với Phòng Nhân sự về vị trí công việc mới, đồng thời trong ngày Phòng Nhân
sự gửi email thông báo đến toàn thể Cán bộ quản lý về việc bà không còn là đầu
mối công việc Trợ lý nữa, nguyên nhân là vì mâu thuẫn cá nhân giữa Giám đốc và
bà trước đó. Đến cuối ngày Giám đốc mới báo với bà là vị trí Trợ lý đã được công
ty cắt bỏ. Việc Giám đốc đơn phương cắt bỏ vị trí Trợ lý để ép buộc bà chuyển vị
trí là hành vi lạm quyền, việc này vi phạm Hợp đồng lao động đã ký kết, đồng thời
khiến bà vô cùng suy sụp và tổn hại danh dự trong công việc, dẫn đến bà không thể
tiếp tục đi làm dài ngày sau đó. Bà nghỉ việc từ ngày 10/4/2025 đến 02/6/2025 vì
không được công ty sắp xếp bố trí phương án lao động mới. Ngày 03/6/2025 bà đến
công ty làm việc với Giám đốc và Phòng Nhân sự theo thư mời của công ty, sau đó
bà đi làm lại từ ngày 07/6/2025, vẫn thấy chức danh trên hệ thống công ty là Trợ lý
giám đốc. Sau khi đi làm trở lại từ 07/6/2025, đến ngày 20/6/2025, Phòng Nhân sự
tiếp tục làm việc với bà về việc điều chuyển sang vị trí khác vì công ty đã cắt vị trí
Trợ lý, bà không đồng ý vì các vị trí công ty đề xuất đều thấp hơn vị trí hiện tại,
mức lương cũng thấp hơn. Ngày 26/6/2025, bà sang phòng Giám đốc gặp trực tiếp
để trao đổi về vấn đề này, Giám đốc yêu cầu Phòng an ninh lập Biên bản xử lý kỷ
luật bà vì “đi vào khu vực không phận sự” (trong khi chức danh của bà vẫn là Trợ
lý giám đốc), việc này một lần nữa khiến bà tổn thương và suy sụp tinh thần, dẫn
đến ngày 30/6/2025 khi không chịu đựng được sự tổn thương, bà đã nhắn tin xin
nghỉ việc với Giám đốc.
Từ ngày 01/7 đến 07/7/2025 bà đã không đi làm vì tổn thương tinh thần, ngày
08/7/2025 công ty G Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với bà với lý do: “Từ
ngày 1/7/2025 đến ngày 7/7/2025, bà Lê Thị Phương T không đến nơi làm việc,
không có mặt ở vị trí làm việc để thực hiện công việc mà không có bất kỳ lý do
chính đáng nào và cũng chưa có sự đồng ý của người quản lý trực tiếp. Căn cứ pháp
lý: Điểm e khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động (Người Lao động tự ý bỏ việc mà
3
không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên)”. Ở đây, công ty D
treo Bà N đã vi phạm Bộ luật Lao động như sau:
- Ngày 08/4/2025, Giám đốc yêu cầu bà chấm dứt công việc hiện tại và bàn
giao cho nhân sự khác, thông báo đến toàn thể cán bộ quản lý khi không báo trước,
chưa có sự thỏa thuận với bà hay phương án lao động mới cho bà, công ty đã vi
phạm Điều 29 Bộ luật Lao động. Việc Giám đốc đơn phương cắt bỏ vị trí Trợ lý để
ép buộc bà chuyển vị trí là hành vi lạm quyền.
- Công ty cho rằng bà “tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng” là không
đúng. Lý do mà bà đã không thể tiếp tục đi làm tại thời điểm đó là vì:
Bà bị tổn thương tinh thần và suy sụp bởi chính các hành vi sai trái của công
ty gây ra. Công ty đã vi phạm nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người lao
động; phân biệt đối xử trong lao động. Đây là lỗi của người sử dụng lao động gây
áp lực tâm lý quá mức cho người lao động, không thể coi là "tự ý bỏ việc không lý
do".
Bản chất vụ việc là xử lý kỷ luật, không phải đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động. Việc công ty cho rằng bà “tự ý bỏ việc” phát sinh từ một chuỗi vi phạm
của người sử dụng lao động, nên bản chất là tranh chấp kỷ luật lao động, không
phải trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 36, công ty
cần phải thực hiện đầy đủ thủ tục xử lý kỷ luật lao động (Sa thải) tại Điều 122 của
Bộ luật Lao động (thông báo bằng văn bản, tổ chức họp kỷ luật, lập biên bản, ra
quyết định). Việc công ty Á thay vì thực hiện quy trình xử lý kỷ luật theo Điều 122
và Điều 125 là nhằm né tránh nghĩa vụ pháp lý.
Công ty thiếu thiện chí, nhân văn và có hành vi trục lợi phúc lợi của người lao
động: Khi nhân viên của mình nghỉ việc dài ngày liên tục và không có thông tin,
công ty không liên hệ hỏi thăm tình hình và xem xét lý do (trong trường hợp người
lao động ốm đau, nằm viện, chấn thương...) mà ngay lập tức chấm dứt hợp đồng lao
động và trái luật, thể hiện sự thiếu nhân văn, thiện chí và đạo đức của một doanh
nghiệp lớn với uy tín cao trên thị trường tuyển dụng lao động. Việc công ty C chấm
dứt hợp đồng lao động khi bà đã cống hiến hơn 8 năm (chỉ còn 2 năm là nhận căn
hộ nhà ở trị giá 4 tỷ đồng theo chính sách An cư lạc nghiệp của Tập đoàn) là dấu
hiệu của việc lạm dụng quyền đơn phương chấm dứt để tước đoạt lợi ích vật chất
lớn của người lao động.
Tại phiên tòa, bà xác định xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với các yêu
cầu sau:
4
+ Buộc công ty D treo Bà N thanh toán tiền thâm niên chưa thanh toán từ
tháng 12/2024 đến hết tháng 6/2025 với số tiền 21.000.000 đồng.
+ Buộc công ty D treo Bà N bồi thường 90% giá trị căn hộ An cư lạc nghiệp
tương ứng số tiền là 3.600.000.000 đồng.
Nay bà xác định yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung:
1. Yêu cầu buộc công ty D treo Bà N hủy quyết định chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật số 57/2025/QĐ-GĐ/BNC ngày 07/7/2025, nhận bà trở lại làm
việc theo vị trí công việc mới do 2 bên thỏa thuận.
2. Yêu cầu buộc công ty D treo Bà N bồi thường cho bà do công ty chấm dứt
hợp đồng lao động trái pháp luật, thời gian tính từ ngày 08/7/2025 đến khi bà được
nhận trở lại làm việc, bao gồm:
+ Tiền lương: 19.000.000 đồng/tháng tạm tính từ ngày 08/7/2025 đến tháng 9
năm 2026 là: 19.000.000 đồng x 15 tháng = 285.000.000 đồng.
+ Tiền thưởng service charge: 4.000.000 đồng/tháng tạm tính từ 08/7/2025
đến tháng 9 năm 2026 là: 4.000.000 đồng x 15 tháng = 60.000.000 đồng.
+ Tiền thâm niên: 3.000.000 đồng/tháng tạm tính từ ngày 08/7/2025 đến
tháng 9 năm 2026 là: 3.000.000 đồng x 15 tháng = 45.000.000 đồng.
+ Tiền thưởng tháng 13 của năm 2025 là: 19.000.000 đồng.
+ Bồi thường tối thiểu 02 tháng lương theo hợp đồng lao động là: 38.000.000
đồng.
+ Bồi thường tổn hại uy tín danh dự cá nhân và sức khỏe tinh thần do các
hành vi trái pháp luật của công ty gây ra với mức 10 tháng lương là: 190.000.000
đồng.
3. Bổ sung đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho bà trong thời
gian bà nghỉ việc do công ty chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cho đến
thời điểm bà được nhận trở lại làm việc.
Tại bản trình bày ý kiến đề ngày 30/6/2026, quá trình tố tụng và tại phiên
tòa, bị đơn công ty D Bà N thông qua người đại diện của mình trình bày:
Bà T và Công ty D treo Bà N có giao kết hợp đồng lao động không xác định
thời hạn số 227/2020/HD/BNC ngày 19/06/2020. Quá trình làm việc, thì trong
khoảng thời gian từ ngày 01/7/2025 đến ngày 07/7/2025 bà T tự ý nghỉ việc, không
đi làm mà không có đơn xin phép, không thông báo lý do chính đáng. Căn cứ quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động có
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp người lao động tự
5
ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên và quy
định tại Điều 37 Bộ luật Lao động về các trường hợp người sử dụng lao động không
được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, Công ty đã ban
hành quyết định số: 57/2025/QĐ-GĐ/BNC ngày 07/7/2025 về việc chấm dứt Hợp
đồng lao động với bà T. Thời điểm chấm dứt Hợp đồng lao động từ ngày
07/7/2025. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động, khi đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp này, công ty không phải báo trước
cho người lao động. Việc công ty ban hành quyết định số: 57/2025/QĐ-GĐ/BNC
ngày 07/7/2025 để đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động với bà T là có căn cứ
và phù hợp với Bộ luật Lao động.
Công ty cũng xin lưu ý rằng trước đó bà T đã nhiều lần tự ý bỏ việc mà
không có lý do chính đáng, cụ thể là trong thời gian từ ngày 10/4/2025 đến ngày
02/6/2025 bà T nghỉ việc không đi làm nhưng không có đơn xin phép được công ty
C1. Do đó, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty, việc ban hành
quyết định đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động với bà T là hoàn toàn hợp
pháp, hợp lý và cần thiết.
Quyết định số: 57/2025/QĐ-GĐ/BNC ngày 07/7/2025 được công ty ban hành
đúng quy định pháp luật và Hợp đồng lao động giữa bà T và công ty đã chấm dứt kể
từ ngày 07/7/2025. Do đó, Công ty không có trách nhiệm chỉ trả bất kỳ các khoản
tiền, lợi ích liên quan đến Hợp đồng lao động phát sinh từ ngày 07/7/2025. Đối với
các khoản tiền, lợi ích liên quan đến Hợp đồng lao động phát sinh trước ngày
07/7/2025 thì công ty đã thanh toán đầy đủ cho bà T. Công ty không đồng ý và đề
nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người
tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng
xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng
những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng đề
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn
cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị
đơn tranh chấp về việc bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, bị đơn có trụ sở
tại phường H, thành phố Đà Nẵng. Do vậy, đây là tranh chấp phương chấm dứt hợp
đồng lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đà
Nẵng theo quy định tại Điều 32, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định xin rút một phần yêu cầu khởi kiện
đối với các yêu cầu: Buộc công ty Cáp treo Bà N thanh toán tiền thâm niên chưa
thanh toán từ tháng 12/2024 đến hết tháng 6/2025 với số tiền 21.000.000 đồng và
buộc công ty D treo Bà N bồi thường 90% giá trị căn hộ An cư lạc nghiệp tương
ứng số tiền là 3.600.000.000 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn là tự nguyện nên căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng
xét xử đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện đã rút.
Về nội dung vụ án:
[3] Bà Lê Thị Phương T và Công ty D treo Bà N ký kết hợp đồng lao động
số: 227/2020/HD/BNC ngày 19/06/2020, loại hợp đồng lao động không xác định
thời hạn, chức danh chuyên môn: Thư ký Ban Giám đốc, bộ phận: Phòng Hành
chính, nhân sự cấp: 7A. Theo thỏa thuận tại Điều 2 của hợp đồng lao động về thời
giờ làm việc như sau: Không quá 48 giờ một tuần, cụ thể là: Từ thứ 2 đến thứ 7
hàng tuần: Từ 08:00 giờ đến 17:00 giờ; Thời gian nghỉ trưa: Từ 12:00 giờ đến 13:00
giờ. Hợp đồng lao động được thỏa thuận bằng văn bản, đảm bảo các nguyên tắc khi
ký kết nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên, xác lập quan hệ
lao động giữa hai bên, do vậy người lao động và người sử dụng lao động phải có
nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết. Ngày 01/7/2022 bà T được công
ty D treo Bà N bổ nhiệm chức vụ: Trợ lý Giám đốc; cấp nhân sự: 3B; đơn vị/bộ
phận: Phòng Hành chính theo quyết định số 2052/2022/QĐ-GĐ/BNC ngày
01/7/2022. Ngày 07/7/2025 công ty D treo Bà N ban hành quyết định số:
57/2025/QĐ-GĐ/BNC với nội dung: “1. Chấm dứt Hợp đồng Lao động với bà Lê
Thị Phương T (Mã nhân viên 008951; Chức danh: Trợ lý Giám đốc) kể từ ngày
07/07/2025. 2. Lý do, căn cứ pháp lý chấm dứt Hợp đồng Lao động: Lý do: Từ ngày
01/07/2025 đến ngày 07/07/2025, bà Lê Thị Phương T không đến nơi làm việc,
7
không có mặt ở vị trí làm việc để thực hiện công việc mà không có bất kỳ lý do
chính đáng nào và cũng chưa có sự đồng ý của người quản lý trực tiếp. Căn cứ
pháp lý: Điểm e khoản 1 Điều 36 Bộ Luật Lao Động (Người Lao động tự ý bỏ việc
mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên)”.
[4] Tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất xác định từ ngày 10/4/2025
đến ngày 02/6/2025 bà T nghỉ việc không đi làm nhưng không có đơn xin phép
được công ty C1; từ ngày 01/7/2025 đến ngày 07/7/2025 bà T nghỉ việc nhưng
không xin phép và không được sự đồng ý của người sử dụng lao động. Đây là các
tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[5] Xét việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty D treo Bà
N thì thấy: Điều 36 Bộ luật Lao động quy định: “1. Người sử dụng lao động có
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây: ... e)
Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên
tục trở lên... 3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và
điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho
người lao động”. Tại Điều 11 Nội quy lao động của Công ty Cáp treo Bà N quy
định “1. Nghỉ không có lý do chính đáng là việc người lao động không đến nơi làm
việc, không có mặt tại vị trí làm việc khi chưa có sự đồng ý của Người quản lý trực
tiếp... 3. Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn,
bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm
quyền và trường hợp khác được Cấp có thẩm quyền phê duyệt”. Điều 13 Nội quy
lao động của Công ty D Bà N quy định: “3. Thủ tục xin nghỉ theo chế độ: ...b)
Trường hợp đột xuất, bất khả kháng, NLĐ phải báo cáo ngay cho Người quản lý
trực tiếp thông qua thư điện tử (email) hoặc điện thoại. NLĐ phải bổ sung thủ tục
đăng ký ngày ngày đầu tiên khi đi làm trở lại”.
[6] Bà T thừa nhận trong khoảng thời gian từ ngày 01/7/2025 đến ngày
07/7/2025 bà T không đến nơi làm việc, tuy nhiên bà cho rằng việc bà tự ý nghỉ
việc là có lý do chính đáng, cụ thể là do bị tổn thương tinh thần vì bị điều chuyển vị
trí công việc mà không có sự đồng ý của bà, xúc phạm danh dự của bà. Căn cứ Điều
11 Nội quy lao động của Công ty D Bà N thì trường hợp tự ý nghỉ việc của bà T
không được xem là nghỉ việc có lý do chính đáng. Việc bà T cho rằng công ty điều
chuyển vị trí công việc không đúng thì có quyền khiếu nại, khởi kiện yêu cầu giải
quyết để bảo vệ quyền lợi của mình chứ không thể lấy đó làm lý do để tự ý bỏ việc.
8
Mặt khác, đến tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động thì phía công ty chưa hề
có quyết định chính thức nào điều chuyển vị trí công việc đối với bà T, bà T vẫn
nhận lương ở vị trí công việc là Trợ lý Giám đốc.
[7] Xét thấy, trong khoảng thời gian từ ngày 01/7/2025 đến ngày 07/7/2025
bà T không đến nơi làm việc, không có mặt tại vị trí làm việc khi chưa có sự đồng ý
của Người quản lý trực tiếp nên được xác định là đã tự ý bỏ việc mà không có bất
kỳ lý do chính đáng nào theo như quy định tại nội quy lao động của công ty. Do
vậy, việc công ty D treo Bà N ban hành quyết định số: 57/2025/QĐ-GĐ/BNC ngày
07/7/2025 chấm dứt hợp đồng lao động với bà T là đúng quy định của pháp luật,
phù hợp với điểm e khoản 1 Điều 36, Điều 37 Bộ luật Lao động. Mặt khác, cũng
cần thấy rằng ngoài khoảng thời gian từ ngày 01/7/2025 đến ngày 07/7/2025 bà T tự
ý bỏ việc ra thì trước đó từ ngày 10/4/2025 đến ngày 02/6/2025 bà T cũng đã tự ý
nghỉ việc nhưng không có đơn xin phép được công ty chấp thuận theo đúng quy
định của nội quy lao động. Đồng thời theo như tài liệu là tin nhắn mà phía công ty
cung cấp và thừa nhận của bà T tại phiên tòa thì vào ngày 12/4/2025 và 19/5/2026
bà T đã gửi tin nhắn tới bộ phận nhân sự xin nghỉ việc, bà T cũng thừa nhận vào
ngày 30/6/2025 bà T đã có nhắn tin xin nghỉ việc với giám đốc. Điều này thể hiện ý
chí của bà T trong việc đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động với công ty. Việc đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động của công ty D treo Bà N với bà T là đúng
pháp luật nên việc bà T khởi kiện yêu cầu công ty D treo Bà N phải hủy quyết định
chấm dứt hợp đồng lao động, nhận bà T trở lại làm việc và bồi thường thiệt hại do
chấm dứt hợp đồng trái pháp luật là không có cơ sở để chấp nhận.
[8] Về án phí lao động sơ thẩm: Bà Lê Thị Phương T được miễn án phí theo
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.
[9] Ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 32, 35, 39, 147, 235, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Căn cứ Điều 34; điểm e khoản 1, khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Lao động năm
2019;
9
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Phương T đối với Công
ty Cổ phần D Bà N về việc “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động” gồm:
- Buộc Công ty Cổ phần D Bà N hủy quyết định chấm dứt hợp đồng lao động
trái pháp luật số 57/2025/QĐ-GĐ/BNC ngày 07/7/2025, nhận bà Lê Thị Phương T
trở lại làm việc theo vị trí công việc mới do 2 bên thỏa thuận.
- Buộc Công ty Cổ phần D Bà N bồi thường cho bà Lê Thị Phương T do
chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, thời gian tính từ ngày 08/7/2025 đến khi
bà Lê Thị Phương T được nhận trở lại làm việc, bao gồm:
+ Tiền lương: 19.000.000 đồng/tháng tạm tính từ ngày 08/7/2025 đến tháng 9
năm 2026 là: 19.000.000 đồng x 15 tháng = 285.000.000 đồng.
+ Tiền thưởng service charge: 4.000.000 đồng/tháng tạm tính từ ngày
08/7/2025 đến tháng 9 năm 2026 là: 4.000.000 đồng x 15 tháng = 60.000.000 đồng.
+ Tiền thâm niên: 3.000.000 đồng/tháng tạm tính từ ngày 08/7/2025 đến
tháng 9 năm 2026 là: 3.000.000 đồng x 15 tháng = 45.000.000 đồng.
+ Tiền thưởng tháng 13 của năm 2025 là: 19.000.000 đồng.
+ Bồi thường tối thiểu 02 tháng lương theo hợp đồng lao động là: 38.000.000
đồng.
+ Bồi thường tổn hại uy tín danh dự cá nhân và sức khỏe tinh thần do các
hành vi trái pháp luật của công ty gây ra với mức 10 tháng lương là: 190.000.000
đồng.
- Buộc Công ty Cổ phần D Bà N bổ sung đóng BHXH, BHYT, BHTN,
BHTNLĐ-BNN cho bà Lê Thị Phương T trong thời gian nghỉ việc do công ty chấm
dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cho đến thời điểm bà Lê Thị Phương T được
nhận trở lại làm việc.
2. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê
Thị Phương T về các yêu cầu đã rút sau:
- Buộc Công ty Cổ phần D Bà N thanh toán tiền thâm niên chưa thanh toán từ
tháng 12/2024 đến hết tháng 6/2025 với số tiền 21.000.000 đồng.
10
- Buộc Công ty Cổ phần D Bà N bồi thường 90% giá trị căn hộ An cư lạc
nghiệp tương ứng số tiền là 3.600.000.000 đồng.
Quyền khởi kiện lại của nguyên đơn đối với phần yêu cầu khởi kiện đã đình
chỉ xét xử được thực hiện theo Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự.
3. Về án phí lao động sơ thẩm: Miễn án phí lao động sơ thẩm cho bà Lê Thị
Phương T.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND khu vực 4 – Đà Nẵng;
- Phòng THADS khu vực 4 – Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ;
Phạm Anh Tuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 24/2026/LĐ-ST Bản án số 24/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 24/2026/LĐ-ST Bản án số 24/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất