Quyết định số 13/2020/QĐ-PT ngày 13/02/2020 của TAND cấp cao tại TP.HCM
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Quyết định số 13/2020/QĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Quyết định 13/2020/QĐ-PT
| Tên Quyết định: | Quyết định số 13/2020/QĐ-PT ngày 13/02/2020 của TAND cấp cao tại TP.HCM |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại TP.HCM |
| Số hiệu: | 13/2020/QĐ-PT |
| Loại văn bản: | Quyết định |
| Ngày ban hành: | 13/02/2020 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | giữ nguyên quyết định sơ thẩm |
Tóm tắt Quyết định
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 13/2020/QĐ-PT
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 02 năm 2020.
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Nhựt Bình
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Minh
Ông Phạm Trí Tuấn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên họp: Ông Nguyễn Kim Đoạn - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số
15/2019/QĐST-HC ngày 30 tháng 7 năm 2019 và Quyết định số 56/QĐ-
SCBSBA ngày 01 tháng 8 năm 2019 về việc sửa chữa, bổ sung Quyết định số
15/2019/QĐST-HC.
Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143
của Luật tố tụng hành chính, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về
khiếu kiện “Hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang”, giữa:
- Người khởi kiện: Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Ấp C, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Ngọc P, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Tổ 6, khu phố S1, phường S2, thị xã S3, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: số 23 Đường 30/4, Phường 1, thành phố S, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ban quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy Lợi 9.
Địa chỉ: số 2 Trường Sa, Phường 17, quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang.
2
Địa chỉ: Khu phố Trung Lương, Phường 10, thành phố S, tỉnh Tiền Giang.
3. Ủy ban nhân dân huyện G1, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: số 09 Nguyễn Văn Côn, thị trấn T1, huyện G1, tỉnh Tiền Giang.
4. Ủy ban nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: số 12 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
5. Bà Ngô Thị M1, sinh năm 1933.
Địa chỉ: Ấp C, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 16 tháng 8 năm 2019, người khởi kiện bà
Huỳnh Thị M kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án hành chính nêu trên với lý do: Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng;
cách xác định thời hiệu khởi kiện như vậy là ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi
gia đình bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu quan điểm: đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và
quyết định sửa chữa bổ sung của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
XÉT THẤY:
[1] Ngày 20/12/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang nhận được đơn
khởi kiện của bà Huỳnh Thị M với nội dung “Yêu cầu Tòa án tuyên hành vi của
Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang về việc thu hồi 5.577,0m
2
, thửa đất số
28708.02.1043, tờ bản đồ BDC2 tại ấp C, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay
là thị xã G, tỉnh Tiền Giang) nhưng không ban hành quyết định thu hồi đất,
không đền bù, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất cho gia đình bà là trái pháp luật.
Yêu cầu Tòa án buộc Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành quyết định về
việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho gia đình bà do Nhà
nước thu hồi đất theo qui định pháp luật.”
[2] Ngày 30/7/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành Quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án sơ thẩm số 15/2019/QĐST-HC, do hết thời hiệu khởi
kiện.
[3] Xét thấy, năm 1997, Ủy ban nhân dân huyện G1 thực hiện Dự án làm
Kênh B (kênh tiếp nước B) thuộc Cộng trình khu 2 vùng 3 - Dự án Ngọt hóa G,
tỉnh Tiền Giang do Bản quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 9 làm chủ đầu tư.
Kênh B có chiều dài 8,4km nhằm dẫn nước ngọt đê tưới tiêu úng, cải tại môi
trường phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Thực hiện Dự án trên, Ủy ban nhân
3
dân không ban hành quyết định thu hồi, không đền bù hỗ trợ đất mà chỉ hỗ trợ,
đền bù hoa màu, tài sản và vật kiến trúc bị ảnh hưởng trên cơ sở vận động nhân
dân hiến đất. Trong đó, có 52 hộ dân bị ảnh hưởng bởi Dự án, bao gồm hộ bà
Huỳnh Thị M. Tại Biên bản xác minh ngày 13/3/2018 của Ủy ban nhân dân xã
B, công trình kênh B đã được các ngành, các cấp tổ chức họp dân thống nhất
không bồi thường về diện tích đất ruộng bị ảnh hưởng mà chỉ hỗ trợ kinh phí di
dời, công trình phụ, cây trái, hoa màu, vật kiến trúc.
[4] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại chính đơn khởi kiện của bà M
thể hiện tại thời điểm Dự án Kênh B đi vào hoạt động vào năm 1997, bà M biết
được việc Ủy ban nhân dân huyện G1 không ban hành quyết định thu hồi đất
cũng như quyết định bồi thường, nhưng bà M không thực hiện quyền khởi kiện
của mình.
[5] Tại Điều 31 của Luật khiếu nại tố cáo năm 1998 quy định: “Thời hiệu
khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết
được có hành vi hành chính. Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi
công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người
khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu, thì thời
gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại”. Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi bổ sung năm 1998) quy định:
“Người khởi kiện Quyết định hành chính, hành vi hành chính phải làm đơn yêu
cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính trong hạn 30 ngày kể từ
ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của luật khiếu nại
tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày giải quyết khiếu nại
lần đầu mà không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại đó”. Tại Điều 3
Nghị quyết số 56/2010/QH2 ngày 24/11/2010 của Quốc Hội; khoản 2 Điều 2
Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao và điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính
năm 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc
biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.
[6] Đối chiếu với qui định pháp luật, bà M cho rằng đã khiếu nại kéo dài
Ủy ban nhân dân không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại nên trường
hợp của bà là trở ngại khách quan là không có cơ sở chấp nhận. Hết thời hạn giải
quyết khiếu nại nhưng bà M không khởi kiện. Đến ngày 20/12/2018, bà M có
đơn khởi kiện hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang là đã hết
thời hiệu khởi kiện nên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
là đúng.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng phiên họp không chấp nhận yêu cầu
4
kháng cáo của bà M và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và
Quyết định sửa chữa bổ sung của Tòa án cấp sơ thẩm như đề nghị của đại diện
Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở chấp
nhận.
[8] Án phí hành chính phúc thẩm: bà Huỳnh Thị M có đơn xin miễn nộp
tiền án phí, với lý do có hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình thuộc hộ cận
nghèo. Căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên Hội đồng phúc
thẩm miễn án phí hành chính phúc thẩm cho bà M.
Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Huỳnh Thị
M.
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số
15/2019/QĐST-HC ngày 30 tháng 7 năm 2019 và Quyết định sửa chữa, bổ sung
số 56/QĐ-SCBSBA ngày 01 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền
Giang.
2. Án phí hành chính phúc thẩm: bà Huỳnh Thị M được miễn.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
Nguyễn Văn Minh
Phạm Trí Tuấn
Phan Nhựt Bình
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm