Quyết định số 121/2025/QĐST-KDTM ngày 19/06/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại việt nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Quyết định số 121/2025/QĐST-KDTM
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Quyết định số 121/2025/QĐST-KDTM
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Quyết định 121/2025/QĐST-KDTM
| Tên Quyết định: | Quyết định số 121/2025/QĐST-KDTM ngày 19/06/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại việt nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 121/2025/QĐST-KDTM |
| Loại văn bản: | Quyết định |
| Ngày ban hành: | 19/06/2025 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | yêu cầu hủy phán quyết trọng tài do trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam |
Tóm tắt Quyết định
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 121/2025/QĐST-KDTM
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 6 năm 2025
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm có:
Thẩm phán, Chủ tọa phiên họp: Bà Mai Thị Thanh Tú
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Quốc Đạt.
Bà Đỗ Thanh Hương.
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Hồ Thị Kim Oanh
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
họp: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 5; ngày 12 và ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở
Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tiến hành phiên họp giải quyết
việc dân sự thụ lý số 58/2025/KDTMST ngày 24 tháng 3 năm 2025 về việc yêu
cầu hủy phán quyết trọng tài theo Quyết định mở phiên họp số 2074/2025/QĐ-
MPH ngày 17- 4 -2025; Quyết định hoãn phiên họp số 1646/2025/QĐ-HPH
ngày 08-5-2025 giữa:
Người yêu cầu: Công ty TNHH T.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà L, số 41A T, Phường T1, Quận K, Thành phố
Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền:
1/ Ông Trần Duy T, sinh năm 1972.
Địa chỉ: 217/59 B, Phường H, quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Ông Nguyễn Hoàng B, sinh năm 1972.
Địa chỉ: 192 Đ, phường B, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền ngày 07/5/2025.)
Là Nguyên đơn trong phán quyết trọng tài.
Người liên quan: CÔNG TY CỔ PHẦN D
Địa chỉ: 32-34 T3, phường L, thành phố N, Tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Hồng Q.
Người đại diện theo ủy quyền:
1/ Bà Hoàng Thị Hoài Th, sinh năm 1980.
2/ Ông Nguyễn Công Duy Th (vắng mặt)
2
3/ Bà Trịnh Phối Yến Nh, sinh năm 1994.
Cùng địa chỉ: Phòng 802 (Tầng 8), Tòa nhà C, số 72- 74 K, Phường V, Quận
B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Đinh Quang Th.
Các đương sự có mặt tại phiên họp.
NỘI DUNG:
Theo Đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài của Công ty TNHH T đề
ngày 10/01/2025:
Để triển khai Dự án Crowne Plaza Nha Trang, tọa lạc tại 32 - 34 P, thành
phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam mà Bị đơn là Chủ đầu tư (“Dự án”),
Nguyên đơn và Bị đơn đã ký kết các Hợp đồng sau:
a) Hợp đồng cung cấp dịch vụ quản lý xây dựng ngày 03 tháng 10 năm
2011 (viết tắt là Hợp đồng QLXD"). Theo đó, Chi nhánh A cung cấp cho C dịch
vụ quản lý xây dựng đối với Dự án với tổng giá trị Hợp đồng QLXD là
2.244.578 USD (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng – VAT). Trong quá trình
thực hiện Hợp đồng QLXD, Chi nhánh A đã thực hiện thêm công việc với giá trị
phát sinh mà C phải trả là 16.500 USD (chưa VAT), được Các Bên thống nhất
tại Biên bản thanh lý Hợp đồng – Phát hành B số: FLA/VN010/GmK/1113 ngày
15 tháng 11 năm 2013. Tổng giá trị Hợp đồng QLXD và phát sinh là 2.261.078
USD (chưa VAT).
b) Hợp đồng cung cấp dịch vụ thiết kế/điều phối trên công trường ngày 08
tháng 5 năm 2011 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng DVTK”). Theo đó, Chi nhánh
A cung cấp cho C dịch vụ thiết kế/ điều phối trên công trường Dự án với tổng
giá trị Hợp đồng DVTK là 103.500 USD (chưa VAT).
Như vậy, tổng giá trị Các Hợp đồng (gồm phí phát sinh) là 2.364.578 USD
(chưa VAT).
Tính đến khi ký Biên bản thanh lý Hợp đồng vào ngày 15/11/2013, C mới
chỉ thanh toán cho A số tiền 1.872.763,75 USD (đã bao gồm VAT) tương ứng
1.702.512,5 USD (chưa VAT). Sau đó, lần lượt các ngày 06/4/2016, ngày
04/8/2016 và ngày 23/9/2016, C tiếp tục thanh toán cho A tổng số tiền là
4.000.000.000 VND (đã bao gồm VAT) được quy đổi là 179.674,35 USD (đã
bao gồm VAT) tương ứng 163.340,32 USD (chưa VAT).
Như vậy, tổng số tiền nợ gốc của Các Hợp đồng mà C còn nợ A là
498.725,18 USD (chưa VAT), bao gồm nợ gốc của Hợp đồng QLXD là
476.225,18 USD và nợ gốc của Hợp đồng DVTK là 22.500 USD. Ngoài ra, do
C đã vi phạm thời hạn thanh toán các đợt theo thỏa thuận, nên A yêu cầu C trả
lãi cho các khoản chậm thanh toán/chưa thanh toán công nợ gốc của các Hợp
đồng.
Do C vi phạm nghĩa vụ thanh toán và các bên không thể tự giải quyết tranh
chấp nên A đã khởi kiện Công ty C ra VIAC với các yêu cầu khởi kiện như sau:
3
(a) Buộc C thanh toán cho A số tiền (chưa VAT) là: 39.667.201.381 VND
(Ba mươi chín tỷ, sáu trăm sáu mươi bảy triệu, hai trăm lẻ một nghìn, ba trăm
tám mươi mốt Đồng Việt Nam), bao gồm các khoản:
(i) Công nợ gốc Hợp đồng QLXD trị giá 476.225,18 USD (Bốn trăm bảy
mươi sáu nghìn, hai trăm hai mươi lăm phẩy mười tám Đô La Mỹ) hay
12.037.543.989 VND (Mười hai tỷ, không trăm ba mươi bảy triệu, năm trăm
bốn mươi ba nghìn, chín trăm tám mươi chín Đồng Việt Nam) theo tỷ giá mua
chuyển khoản của Ngân hàng Vietcombank ngày 24/5/2024 là 25.277
VND/USD;
(ii) Công nợ gốc Hợp đồng DVTK trị giá 22.500 USD (Hai mươi hai nghìn
năm trăm Đô La Mỹ) hay 568.732.500 VND (Năm trăm sáu mươi tám triệu, bảy
trăm ba mươi hai nghìn, năm trăm Đồng Việt Nam) theo tỷ giá mua chuyển
khoản của Ngân hàng Vietcombank ngày 24/5/2024 là 25.277 VND/USD;
(iii) Lãi chậm thanh toán công nợ gốc Hợp đồng QLXD tính từ ngày đến
hạn thanh toán theo các hóa đơn do A đã phát hành đến ngày 24/5/2024 là
25.946.483.431 VND (Hai mươi lăm tỷ, chín trăm bốn mươi sáu triệu, bốn trăm
tám mươi ba nghìn, bốn trăm ba mươi mốt Đồng Việt Nam), với lãi suất được
xác định theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là 17%/ năm;
(iv) Lãi chậm thanh toán công nợ gốc Hợp đồng DVTK tính từ ngày đến
hạn thanh toán theo các hóa đơn do A đã phát hành đến ngày 24/5/2024 là
1.114.441.462 đồng, với lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị
trường là 17%/ năm.
Ngày 12/12/2024, Hội đồng Trọng tài (viết tắt là HĐTT) thuộc Trung tâm
Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) ban hành Phán quyết trọng tài số 152/24.
Không đồng ý với Phán quyết trọng tài, ngày 10/01/2025, Nguyên đơn có
đơn yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy Phán quyết trọng tài
vụ tranh chấp số 152/24 của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần D trình bày:
Công ty A yêu cầu hủy PQTT là không có căn cứ, Công ty A cho rằng
PQTT trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là không đúng vì
HĐTT luôn tôn trọng thỏa thuận hợp pháp của C và A liên quan đến hồ sơ thanh
toán, liên quan đến tiền lãi chậm trả. HĐTT luôn đảm bảo sự khách quan khi
đánh giá chứng cứ; đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng trọng tài theo quy định
của pháp luật; HĐTT đã có đủ cơ sở để xác định giá trị của yêu cầu khởi kiện
của A bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ từ Ngân hàng Vietcombank do
A cung cấp và được sự đồng ý của C; HĐTT không vi phạm thời hạn bầu Chủ
tịch HĐTT và PQTT đã được gửi cho các bên đúng thời hạn quy định của pháp
luật; không có căn cứ hay dấu hiệu nào cho thấy HĐTT không công bằng trong
quá trình giải quyết vụ tranh chấp.
Do vậy, trình bày của A về yêu cầu hủy PQTT là không có căn cứ, không
phù hợp với thực tế và quy định pháp luật, Quy tắc VIAC cũng như thỏa thuận
4
của các bên nên đề nghị Hội đồng xét đơn không chấp nhận yêu cầu hủy PQTT
của A.
Tại phiên họp các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến.
Nội dung phán quyết trọng tài:
Tại Phần IV Phán quyết trọng tài số 152/24 HCM đã quyết định như sau:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – Công ty
TNHH T, buộc Bị đơn – Công ty Cổ phần D thanh toán cho Nguyên đơn các
khoản tiền sau:
(i) Khoản nợ gốc của Các Hợp đồng là 12.606.276.489 VND (Bằng chữ:
Mười hai tỷ, sáu trăm lẻ sáu triệu, hai trăm bảy mươi sáu nghìn, bốn trăm tám
mươi chín Đồng Việt Nam);
(ii) Một phần phí trọng tài là 279.638.810 VND (Bằng chữ: Hai trăm bảy
mươi chín triệu, sáu trăm ba mươi tám nghìn, tám trăm mười Đồng Việt Nam);
và
(iii) Một phần chi phí đi lại, ở của Trọng tài viên là 5.173.078 VND (Bằng
chữ: Năm triệu, một trăm bảy mươi ba nghìn, không trăm bảy mươi tám Đồng
Việt Nam).
2/ Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Nguyên đơn toàn bộ khoản tiền nêu
tại Mục IV.1 của Phán quyết này trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày
lập Phán quyết. Trong trường hợp chậm thanh toán, Bị đơn có nghĩa vụ thanh
toán thêm tiền lãi với mức lãi suất là 10%/năm, tương ứng với số tiền chậm trả
và thời gian chậm trả.
Phán quyết trọng tài này được ba thành viên Hội đồng Trọng tài biểu quyết
nhất trí và được lập vào ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại Thành phố Hồ Chí
Minh, Việt Nam. Phán quyết Trọng tài này là chung thẩm, ràng buộc các Bên và
có hiệu lực kể từ ngày lập.
Nội dung yêu cầu và căn cứ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài:
Nguyên đơn đề nghị Tòa án hủy Phán quyết trọng tài số 152/24 HCM của
Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) do phán quyết trọng tài trái với
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam theo quy định tại điểm đ khoản 2
Điều 68 Luật Trọng tài thương mại. Trong vụ việc này:
- PQTT không tôn trọng thỏa thuận của các bên trong các hợp đồng liên
quan đến hồ sơ thanh toán và liên quan đến tính lãi chậm trả;
- HĐTT không khách quan khi đánh giá chứng cứ;
- Thủ tục tố tụng trọng tài trái với quy định của pháp luật cụ thể:
+ HĐTT không thu thập tỷ giá ngoại tệ của Ngân hàng để ban hành PQTT;
không thu thập lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường.
5
+ HĐTT thu thập chứng cứ sau khi đã quyết định tổ chức phiên họp giải
quyết vụ tranh chấp.
+ HĐTT vi phạm thời hạn bầu Chủ tịch HĐTT.
+ PQTT được gửi cho A sau thời hạn pháp luật quy định.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý
kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét đơn; Thư
ký phiên họp và của người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét đơn không chấp nhận yêu cầu của
Nguyên đơn về việc huỷ Phán quyết Trọng vụ tranh chấp số 152/24 HCM ngày
12 -12-2024 do không có căn cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi xem xét Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài ngày 10-01-2025
của Nguyên đơn đối với Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 152/24 HCM
ngày 12-12-2024 của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế
Việt Nam (VIAC) - (sau đây gọi tắt là Phán quyết số 152/24 HCM), Hội đồng
xét đơn nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là việc dân sự về yêu cầu kinh doanh
thương mại liên quan đến việc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)
giải quyết tranh chấp, nơi Hội đồng trọng tài tuyên phán quyết trọng tài là Thành
phố Hồ Chí Minh, do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 31, điểm b khoản 1
Điều 37, Điểm 0 khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2, 3
Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010, yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải
quyết của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thời hạn nộp đơn yêu cầu: Phán quyết trọng tài số 152/24 HCM
ban hành ngày 12/12/2024, ngày 10/01/2025 Nguyên đơn nộp đơn yêu cầu Tòa
án hủy phán quyết trọng tài là còn trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều
69 Luật Trọng tài thương mại.
[3] Xét, Nguyên đơn yêu cầu huỷ Phán quyết Trọng tài số 152/24 HCM
do trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam theo quy định tại điểm
b, điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại - Hội đồng xét đơn nhận
thấy:
* Tại Đoạn 81 Phán quyết Trọng tài nêu trên thể hiện: “Các quy định trên
của Hợp đồng đều xác định điều kiện thanh toán là có hóa đơn hoặc hóa đơn
hợp lệ, tuy nhiên, Hồ sơ Vụ tranh chấp không cho thấy các Bên có định nghĩa
về hình thức hoặc yêu cầu pháp lý của “hóa đơn” và “hóa đơn hợp lệ”. Căn
cứ các quy định có hiệu lực tại thời điểm các Bên thực hiện Các Hợp đồng (ký
kết Biên bản thanh lý), trong đó có điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị định số
51/2010/NĐ-CP), Hội đồng Trọng tài xác định “hóa đơn hợp lệ” trong trường
hợp này là hóa đơn giá trị gia tăng”, như vậy, Hội đồng Trọng tài nhận định
6
điều kiện thanh toán là có hóa đơn hoặc hóa đơn hợp lệ là hóa đơn giá trị gia
tăng. Hội đồng Trọng tài căn cứ quy định của điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị định
số 51/2010/NĐ-CP để xác định “hóa đơn hợp lệ” là hóa đơn giá trị gia tăng.
* Tại Đoạn 82 Phán quyết Trọng tài nêu trên quy định: “Xét rằng,
Nguyên đơn chỉ cung cấp cho Hội đồng Trọng tài các hóa đơn nháp (không
phải hóa đơn giá trị gia tăng) và Nguyên đơn thừa nhận rằng chưa xuất hóa
đơn giá trị gia tăng cho Bị đơn đối với tiền nợ còn lại của Các Hợp đồng, do
đó, nghĩa vụ thanh toán của Bị đơn được xem là chưa đến hạn theo quy định
của Các Hợp đồng. Nói cách khác, Bị đơn chưa bị xem là chậm thanh toán
khoản nợ gốc 12.606.276.489 VND nêu trên”, như vậy, Hội đồng Trọng tài cho
rằng, A chưa xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho C nên nghĩa vụ thanh toán của C
được xem là chưa đến hạn, C chưa bị xem là chậm thanh toán khoản nợ gốc.
Tại khoản 1 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Trọng tài viên
phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều
cấm và trái đạo đức xã hội”
Tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự quy định: “Cá nhân, pháp nhân xác
lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự
nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm
của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải
được chủ thể khác tôn trọng”
Tại Điều 2.d phần “Điều kiện cam kết” của Các Hợp đồng quy định C có
trách nhiệm: “Thanh toán cho A chi phí hàng tháng vào hay trước 30 ngày kể từ
ngày xuất hóa đơn (không thanh toán phí trong thời gian đã thỏa thuận có thể
dẫn đến trả thêm lãi theo lãi suất hiện hành của ngân hàng cộng thêm 2%)”.
Tại khoản 1, Điều 4 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của
Chính phủ quy định: Loại, hình thức và nội dung hóa đơn:
1/ Hóa đơn quy định tại Nghị định này gồm các loại sau:
a) Hóa đơn xuất khẩu là hóa đơn dung trong hoạt động kinh doanh xuất
khẩu;
b) Hóa đơn giá trị gia tăng là hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ nội địa dành
cho các tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ;
c) Hóa đơn bán hàng là hóa đơn hàng hóa, dịch vụ nội địa dành cho các
tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp;
d) Các loại hóa đơn khác gồm: vé, thẻ hoặc các chứng từ có tên gọi khác
nhưng có hình thức và nội dung quy định tại các khoản 2, 3 Điều này.
Căn cứ Điều 404 Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định:
“1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều
khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí
7
của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập,
thực hiện hợp đồng.
2. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính chất
của hợp đồng.
3. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải
thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng.
4. Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ
với nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung
hợp đồng.
5. Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ
sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp
đồng.
6. Trong trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi
cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia.”
Hội đồng Trọng tài đã áp dụng điểm b khoản 4 Nghị định số 51/2010/NĐ-
CP để xác định “hóa đơn hợp lệ” là hóa đơn giá trị gia tăng. Xét, tại hợp đồng
các bên thỏa thuận “Thanh toán cho A chi phí hàng tháng vào hay trước 30 ngày
kể từ ngày xuất hóa đơn (invoice)” nên việc HĐTT giải thích điều khoản như
trên là không rõ ràng, bởi điều khoản này không quy định về “hóa đơn hợp lệ"
hoặc định nghĩa “hóa đơn hợp lệ” là hóa đơn giá trị gia tăng, việc giải thích như
trên của HĐTT không phù hợp với ý chí của các bên, đồng thời việc giải thích
này cũng chưa phù hợp với thực tiễn giao dịch thanh toán của các bên. Bởi các
đương sự đều thừa nhận tại phiên họp thì thực tế thanh toán Công ty A xuất hóa
đơn (invoice) và Công ty TD sẽ thanh toán bằng tiền Việt Nam đồng, sau đó
Công ty A mới xuất hóa đơn giá trị gia tăng. HĐTT chưa xem xét các quy định
của Điều 404 Bộ luật dân sự mà đã xác định “hóa đơn hợp lệ” là hóa đơn giá trị
gia tăng là chưa phù hợp.
Như vậy, Hội đồng Trọng tài đã không tôn trọng thỏa thuận của các bên
khi giải quyết Vụ tranh chấp.
* Phán quyết trọng tài không tôn trọng thỏa thuận của các bên trong Các
Hợp đồng liên quan đến tính lãi chậm trả.
Trong Các Hợp đồng, các bên chỉ thỏa thuận về lãi chậm trả tại Điều 2.d
phần “Điều kiện cam kết” quy định về trách nhiệm của C: “Thanh toán cho A
chi phí hàng tháng vào hay trước 30 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn (không thanh
toán phí trong thời gian đã thỏa thuận có thể dẫn đến trả thêm lãi theo lãi suất
hiện hành của ngân hàng cộng thêm 2%)”.
Tại Biên bản thanh lý hợp đồng ngày 15/11/2013 thể hiện: “Thanh khoản
sẽ có hiệu lực dựa theo điều J6 của hợp đồng được ký kết. Nếu trong trường hợp
việc chi trả thanh khoản trễ hơn ngày được đề ra, lãi suất được tính theo điều J8
và hạng mục 476 của Bộ luật dân sự Việt Nam.” Biên bản này được xem là sự
8
kiện pháp lý xác lập làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên nhưng HĐTT
không ghi nhận là vi phạm nguyên tắc cơ bản pháp luật theo quy định tại khoản
3 Điều 3 Bộ luật dân sự: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa
thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái
đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thế khác
tôn trọng.”
Như vậy, các bên thỏa thuận ngay sau 30 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn, A
có quyền yêu cầu C trả lãi chậm trả, không phụ thuộc vào việc C đã nhận được
hóa đơn hay chưa, cũng không phụ thuộc hình thức hóa đơn này do A tự phát
hành hay hóa đơn giá trị gia tăng. Việc thỏa thuận này của các bên cho thấy ý
chí của các bên xuyên suốt trong quá trình thực hiện hợp đồng từ khi ký kết hợp
đồng cho đến khi thanh lý hợp đồng đều thừa nhận nếu bên chậm thực hiện
nghĩa vụ thanh toán sẽ phải chịu lãi suất.
Tại phiên họp, các bên thừa nhận thực tế từ khi ký Biên bản thanh lý hợp
đồng ngày 15/11/2013, các bên đã thực hiện việc thanh toán, điều kiện thanh
toán không phụ thuộc vào việc Công ty A xuất hóa đơn VAT trước thì Công ty
D mới có nghĩa vụ thanh toán. Thực tế, từ ngày 06/4/2016 đến ngày 04/8/2016,
công ty D thanh toán cho A 03 tỷ đồng nhưng đến ngày 06/9/2016 A mới xuất
VAT; và ngày 23/9/2016 thanh toán 01 tỷ đồng nhưng đến ngày 09/01/2017
công ty A mới xuất VAT cho D.
Như vậy, việc HĐTT nhận định “Xét rằng, Nguyên đơn chỉ cung cấp cho
Hội đồng Trọng tài các hóa đơn nháp (không phải hóa đơn giá trị gia tăng) và
Nguyên đơn thừa nhận rằng chưa xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Bị đơn đối
với tiền nợ còn lại của Các Hợp đồng, do đó, nghĩa vụ thanh toán của Bị đơn
được xem là chưa đến hạn” (phải có hóa đơn VAT trước mới thanh toán) là đã
không tôn trọng thỏa thuận của các bên khi giải quyết Vụ tranh chấp, vi phạm
nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại khoản 2 Điều 3 BLDS năm
2015.
* Tại mục 79 của PQTT thể hiện: “….Do không xác định được thời điểm
thanh toán được các Bên thỏa thuận trong Biên bản thanh lý, nên Hội đồng
Trọng tài sẽ xem xét thỏa thuận của các Bên tại Hợp đồng về điều kiện và thời
hạn thanh toán”
Như trên đã nhận định, trong hợp đồng và biên bản thanh lý hợp đồng các
bên có thỏa thuận về lãi suất, đây là ý chí tự nguyện của các bên, trường hợp
này, thể hiện mặc dù có thỏa thuận về lãi suất tuy nhiên thỏa thuận này không rõ
ràng và có tranh chấp về phần lãi nên cần xem xét theo Điều 357, 468 của Bộ
luật dân sự 2015.
Như vậy, Hội đồng Trọng tài đã không tôn trọng thỏa thuận của các bên
khi giải quyết Vụ tranh chấp, vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.
Mặt khác, Tại mục 58 của PQTT thể hiện: “Hội đồng Trọng tài xét thấy,
ngay cả khi việc Các Bên thỏa thuận ghi giá bằng ngoại tệ trên Các Hợp đồng
9
là không phù hợp với Pháp lệnh ngoại hối, thì thỏa thuận này cũng không bị vô
hiệu do vi phạm điều cấm của luật theo Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015.” HĐTT
nhận định như trên là có sự mâu thuẫn, chưa rõ ràng.
Xét, các lý do Công ty A đưa ra như: Hội đồng Trọng tài không khách
quan khi đánh giá chứng cứ; không thu thập tỷ giá ngoại tệ của ngân hàng để ra
Phán quyết Trọng tài; không thu thập lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị
trường: Hội đồng Trọng tài thu thập chứng cứ sau khi đã quyết định tổ chức
phiên họp giải quyết Vụ tranh chấp; Hội đồng Trọng tài vi phạm thời hạn bầu
Chủ tịch Hội đồng Trọng tài; Hội đồng Trọng tài không công bằng trong quá
trình giải quyết Vụ tranh chấp là không có cơ sở nên HĐ xét đơn không xét.
Tại phiên họp, Công ty D viện dẫn Thông tư số 39/2014/TT-BTC để cho
rằng “hóa đơn” hay “hóa đơn hợp lệ” và cho rằng hóa đơn hợp lệ phải là hóa
đơn giá trị gia tăng. Xét, việc Công ty D viện dẫn như trên để làm căn cứ xác
định tính hợp lệ của hóa đơn phải là hóa đơn giá trị gia tăng là chưa chính xác
bởi Thông tư này không quy định áp dụng hồi tố đối với các hợp đồng đã ký kết
và chấm dứt hợp đồng trước ngày 01/6/2014.
Công ty D viện dẫn nội dung quy định tại Pháp lệnh ngoại hối năm 2013
để lập luận cho rằng Công ty D chỉ tạm thanh toán cho Công ty A theo email
ngày 31/3/2016 là chưa phù hợp với thực tế giao dịch của các bên; các lý do mà
Công ty D đưa ra tại các đơn trình bày ý kiến và tại phiên họp cũng như ý kiến
của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho Công ty D là không phù hợp với nhận định ở
phần trên của Hội đồng xét đơn nên không được chấp nhận.
Xét, Phán quyết trọng tài số 152/24 HCM, có cơ sở xác định Hội đồng
trọng tài vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
[7] Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu
cầu hủy Phán quyết Trọng tài của Người yêu cầu, là không phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét đơn không nên chấp nhận.
[8] Từ những phân tích trên, nhận thấy Phán quyết Trọng tài vụ tranh
chấp số 152/24 HCM ngày 12-12-2024 của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm
Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) là thuộc một trong các trường hợp phán
quyết trọng tài bị hủy theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật Trọng tài
thương mại 2010, nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài
của Người yêu cầu Công ty TNHH T.
[9] Về lệ phí: Căn cứ khoản 3 Điều 39 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án
thì trường hợp yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải chịu lệ phí Toà án. Tuy
nhiên, trong phần danh mục lệ phí Toà án thì lại không quy định rõ đối với loại
việc yêu cầu hủy phán quyết trọng tài lệ phí là bao nhiêu. Vì vậy, Người yêu cầu
không phải chịu lệ phí.
Bởi các lẽ trên,
10
Căn cứ khoản 2 Điều 31, điểm a khoản 3 Điều 38, khoản 3 Điều 414 và
Điều 415 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 68, khoản 1 Điều 69, Điều 71, Điều 72 Luật Trọng tài
Thương mại 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20-3-2014 của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định Luật
Trọng tài Thương mại.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Hủy Phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 152/24 HCM ngày 12 –12 -
2024 của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
(VIAC) về việc giải quyết Vụ tranh chấp giữa:
Nguyên đơn: Công ty TNHH T.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà L, số 41A T, Phường T1, quận K, Thành phố Hà
Nội.
Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Th
Bị đơn: CÔNG TY CỔ PHẦN D
Địa chỉ: 32-34 P, phường L, Thành phố N, Tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Hồng Q.
2. Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký;
các bên, Hội đồng Trọng tài không có quyền khiếu nại, kháng cáo, Viện Kiểm sát
không có quyền kháng nghị.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT ĐƠN YÊU CẦU
- TAND Tối cao; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
- TAND Cấp cao;
- VKSND Cấp cao;
- VKSND TP. HCM;
- Cục THADS TP. HCM;
- Hội đồng Trọng tài;
- Các bên đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ.
Mai Thị Thanh Tú
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng