Quyết định số 108/2024/QĐST-KDTM ngày 14/06/2024 của TAND TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại việt nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Quyết định 108/2024/QĐST-KDTM

Tên Quyết định: Quyết định số 108/2024/QĐST-KDTM ngày 14/06/2024 của TAND TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại việt nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại
Quan hệ pháp luật: Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 108/2024/QĐST-KDTM
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 14/06/2024
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Tóm tắt Quyết định

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số: 108/2024/QĐ-PQTT Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 6 năm 2024
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm có:
Thẩm phán, Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung.
Các Thẩm phán: Ông Đào Quốc Thịnh.
Bà Phùng Thị Như Mai.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đức Vũ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
họp: Bà Huỳnh Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 08/5/2024, ngày 11/6/2024, ngày 14/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự thụ
số 38/2024/KDTM-ST ngày 20/02/2024 về việc: “Yêu cầu hủy phán quyết
trọng tài” theo Quyết định mở phiên họp số 1850/2024/QĐ-MPH ngày
23/4/2024.
1. Người yêu cầu: Đoàn Phương L; địa chỉ: Số A đường Q, phường
T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty R3; địa chỉ: Vistra
Corporate Services Centre Wickhams C, R, T, VG1110, British V.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Ông Lương Văn T1; địa chỉ: P,
Tầng B, Trung tâm Thương mại S1, Số C đường T, phường B, Quận A, Thành
phố Hồ Chí Minh; là Luật thuộc Đoàn Luật Thành phố H (theo T2 chỉ
định luật ngày 07/3/2024). Ông Lương Văn T1 mặt tại phiên họp xét đơn
ngày 11/6/2024 nhưng vắng mặt tại phiên họp xét đơn ngày 14/6/2024.
Người đại diện theo y quyền: Ông Phạm Thanh C; địa chỉ: P, Tầng B,
Trung tâm Thương mại S1, Số C đường T, phường B, Quận A, Thành phố H
2
Chí Minh (theo Thư chỉ định và ủy quyền ngày 07/3/2024). Ông Phạm Thanh C
vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Minh T3; địa chỉ: P, Tầng B,
Trung tâm Thương mại S1, Số C đường T, phường B, Quận A, Thành phố H
Chí Minh (theo Thư chỉ định ủy quyền ngày 07/3/2024). Ông Dương Minh
T3 có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Sơn H; địa chỉ: P, Tầng B,
Trung tâm Thương mại S1, Số C đường T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ
Chí Minh (theo Thư chỉ định ủy quyền ngày 16/5/2024). Ông Nguyễn Sơn H
mặt tại phiên họp xét đơn ngày 11/6/2024 nhưng vắng mặt tại phiên họp xét
đơn ngày 14/6/2024.
2.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Walter August B; địa
chỉ: A N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Walter August
B vắng mặt.
Người đại diện theo y quyền: Đoàn Phương L; địa chỉ: Số A đường
Q, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền ngày
11/3/2024 được công chứng tại Văn phòng C3 ngày 11/3/2024). Đoàn
Phương L có mặt.
Các đương sự có mặt tại phiên họp.
NHẬN THẤY:
Theo đơn yêu cầu ngày 01/02/2024 của người yêu cầu bà Đoàn
Phương L trình bày như sau:
Đoàn Phương L yêu cầu hủy phán quyết trọng tài cho vụ tranh chấp số
161/22 HCM được lập vào ngày 08/01/2024 của V1 (Trung tâm T9) với những
lý do cụ thể như sau:
1. VIAC không thẩm quyền giải quyết tranh chấp do không tho
thuận trọng tài
1.1. Theo Hồ khởi kiện của Nguyên đơn, Nguyên đơn đã cung cấp các
i liệu sau đây để chứng minh cho sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài thỏa
thuận trọng tài là hợp pháp:
+ “Thỏa Thuận Bảo Lãnh Nhân (P) được cho đã kết ngày
17/12/2019 giữa Nguyên đơn và các Bị đơn;
+ Vi bằng về các email để trích xuất file “Thỏa Thuận Bảo Lãnh
Nhânu trên.
3
- Theo ý kiến của Nguyên đơn và Vi bằng mà đại diện của Nguyên đơn đã
nộp (Tài liệu “Trả lời Phản đối Thẩm quyền Trọng tài Response to
Challenges to jurisdiction), Nguyên đơn cho rằng:
+ Ngày 12/12/2019, Nguyên đơn đã gửi email dự thảo Hợp đồng cho vay,
hợp đồng bổ sung, bảo lãnh doanh nghiệp và bảo lãnh nhân ngày
13/12/2019, ông Matthew W1 c nhận đã nhận được các dự thảo văn bản đó”.
+ Ngày 14/12/2019, “ông Matthew W1 đã gửi các trang chữ ký cho
phần lớn các văn bản (bao gồm chữ ký trong bảo lãnh cá nhân) chký của
Nguyên đơn và Bị đơn (ông W)”.
+ Ngày 16/12/2019, Nguyên đơn cũng gửi Hợp đồng cho vay và hợp
đồng bổ sung được cập nhật; và ông Matthew W1 c nhận đã nhận được và
giới thiệu Chung T4 là cố vấn nội bộ của ông W.
+ Ngày 19/12/2019, ông C2 gửi 12 bản hồ giao dịch có chữ ký, trong
đóBảo lãnh cá nhân chữ ký bằng mực ướt của Bị đơn (ông W bà L)
ông C2.
1.2. Với các i liệu, chứng cứ có trong hvụ tranh chấp, Nguyên đơn
hoàn toàn không cung cấp được bất kỳ bản chính hoặc bản sao có ng chứng,
chứng thực hợp pháp o về tài liệu “Thỏa Thuận Bảo Lãnh Nhân (P) được
cho đã kết ngày 17/12/2019 trong đó được coi là bao gồm Thỏa thuận
trọng tài giữa Nguyên đơn Bị đơn. Tài liệu này chỉ đơn thuần là bản in, sao
chụp bởi chính Nguyên đơn.
1.3. Tại thời điểm khởi kiện, Nguyên đơn không cung cấp nguồn gốc các
tài liệu chứng cứ về các i liệu Nguyên đơn đã nộp (Thỏa Thuận Bảo Lãnh
Nhân, Thỏa Thuận vay,..) mà chỉ cung cấp bản in trong khi L và ông W
không lưu giữ các i liệu này. Bà Lông W cũng không được nhận qua email
các i liệu này. Do đó, L và ông W đã phản đối giá trị chứng cứ của các tài
liệu này không nguồn gốc của các i liệu này. Sau khi phản đối của
L ông W, Nguyên đơn mới cung cấp vi bằng các email trên. Tuy nhiên, đối
với các i liệu được dẫn chiếu qua email mà Nguyên đơn lập vi bằng để cho
rằng có tồn tại thỏa thuận trọng tài theo Điều 16.2.a của Luật Trọng tài thương
mại và Luật Giao dịch điện tử thì cũng không chứng minh được các email của
L ông W trong các giao dịch. Không bất kỳ email nào của Đoàn
Phương L trong các giao dịch giữa các bên thể hiện sđàm phán đồng ý của
bà L trong các giao dịch cũng như việc xác lập thỏa thuận trọng tài.
4
1.4. Như Nguyên đơn đã đề cập, Nguyên đơn cho rằng các email được gửi
bởi ông Matthew W1, ông C2. Theo hồ sơ, không chứng cứ cho thấy những
người này (ông Matthew W1, ông C2) được ủy quyền, có thẩm quyền nhân danh
L ông W để xác lập thỏa thuận trọng tài giữa Nguyên đơn và Bị đơn, đặc
biệt là đối với L. Như tài liệu của Nguyên đơn đã thể hiện (cũng như lời khai
của Người làm chứng là ông Matthew W1), Chung T4 là cố vấn nội bộ của ông
W, ông C2 không phải là người đại diện cho L càng không thẩm
quyền trong việc xác nhận giao dịch hay xác lập thỏa thuận trọng tài nhân danh
i. Hội đồng trọng tài cũng không làm vấn đnày trong Phán quyết mà vẫn
c định L ông W có c lập thỏa thuận trọng tài với Nguyên đơn là
không phù hợp.
1.5. Ngoài ra, trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, L ng đã nhiều
lần phản đối về thẩm quyền giải quyết trọng tài của VIAC thể hiện qua các Bản
tự bảo vệ ngày 08/03/2023 ngày 17/03/2023; Bản phản đối thẩm quyền trọng
tài ngày 15/06/2023; Bản nêu ý kiến và u cầu của Bị đơn ngày 15/08/2023 và
trong tố tụng trọng tài, hơn nữa vào ngày 04/01/2024 một lần nữa L đã gửi
văn bản khiếu nại về thẩm quyền đến VIAC và được VIAC nhận vào ngày
05/01/2024 theo thông báo số 69/VIAC HCM ngày 08/01/2024 nhưng không
được VIAC giải quyết. Bản tự bảo vệ của bà L và ông W cũng đã được gửi đúng
thời hạn, được gia hạn đúng quy định của VIAC theo thông o số 228/VIAC
HCM ngày 13/02/2023 nên không bị mất quyền phản đối như trong phán quyết
nhận định.
1.6. Như vậy, không có thỏa thuận trọng tài hợp pháp, có hiệu lực giữa
Nguyên đơn Bị đơn, đặc biệt là không thỏa thuận trọng tài giữa Nguyên
đơn (R&R F) với bà Đoàn Phương L.
1.7. Do đó, theo khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại, trọng tài
không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo Đơn khởi kiện của Nguyên đơn
và căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010 và điểm
a khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, Phán quyết Trng tài cn
được hủy để xét x li theo t tng tòa án để đảm bo quyn và li ích hp pháp
ca các bên.
2. Thủ tục tố tụng trọng tài trái với quy định của Luật Trọng tài thương
mại năm 2010
2.1. Thủ tục khởi kiện của Nguyên đơn không đảm bảo về việc ủy quyền
Trong quá trình tố tụng trọng tài, B đơn đã phản đối, khiếu nại về vi
phạm liên quan đến thủ tục tố tụng trọng tài về tư cách khởi kiện và tham gia tố
5
tụng của đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn. Theo hồ khởi kiện của
Nguyên đơn, Đơn khởi kiện được ký nộp bởi ông Phạm Thanh C thuộc
Công ty L4 Chi nhánh Thành phố H. Tuy nhiên, L cho rằng việc ủy quyền
này là không phù hợp và do vậy Nguyên đơn không đủ cách khởi kiện. Cụ
thể, theo hồ sơ:
- Nguyên đơn (R&R F) được đại diện bởi bà Mabel M, Giám đốc. Theo
Nghị quyết của Hội đồng quản trị ngày 19/10/2022, R&R Fitness Hodings L1 đã
chỉ định ông Randy Gene Dm đại diện theo ủy quyền giải quyết tranh chấp và
tham gia tố tụng.
- Theo Giấy ủy quyền ngày 19/10/2022, ông Randy Gene D ủy quyền lại
cho Công ty L4 Chi nhánh Thành phố H (sau đây gọi là L5 Chi nhánh T) đ
giải quyết tranh chấp và tham gia tố tụng.
- Ngày 19/12/2022, Công ty L4 Chi nhánh Thành phố H chỉ định và ủy
quyền lại cho ông Phạm Thanh C (và 02 nhân sự khác ông Dương Minh T3,
ông Nguyễn Anh H1) tham gia tố tụng tại Trọng tài (V1).
L ông W cho rằng và thực tế đã phản đối tại Trọng tài về việc ủy
quyền nêu trên không phù hợp vì khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015 của
Việt Nam quy định nhân, pháp nhân thể uỷ quyền cho cá nhân, pháp
nhân khác c lập, thực hiện giao dịch dân sự”. Việc ủy quyền phải cho cá nhân
hoặc pháp nhân nhưng Nguyên đơn không ủy quyền cho pháp nhân ủy
quyền cho Chi nhánh của Công ty L4 Chi nhánh ng ty luật tiếp tục ủy
quyền lại (chỉ định) cho nhân sự tham gia tố tụng trọng tài cũng như tên trên
Đơn khởi kiện là không phù hợp. Nói cách khác, người đại diện theo ủy quyền
của Nguyên đơn ký tên trên đơn khởi kiện và tham gia tố tụng trọng tài trong vụ
tranh chấp trên tại V1 là không đủ thẩm quyền. Do đó, việc khởi kiện là không
phù hợp, không có căn cứ để trọng tài và Hội đồng trọng tài thụ lý, giải quyết.
2.2 Từ các svà phân tích nêu trên, căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều
68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và điểm b khoản 2 Điều 14 Ngh quyết
01/2014/NQ-TP, Phán quyết Trng tài cn được hủy để xét x li theo t
tng tòa án để đảm bo quyn và li ích hp pháp ca các bên.
3. Phán quyết trọng tài nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội
đồng trọng tài
Tại mục 4.3.1.1.5 của Phán quyết trọng tài, Hội đồng trọng tài nhận định:
4.3.1.1.5. Sau khi xem xét các bằng chứng và lập luận mà Nguyên đơn đưa ra
trước đó, Hội đồng trọng tài nhận thấy rằng Churchill đã vi phạm Hợp đồng cho
6
vay về việc thanh toán khoản nợ tồn đọng dẫn đến Nghĩa vụ bảo lãnh của Bị đơn
theo Bảo lãnh nhân. Hội đồng trọng tài kết luận rằng Bị đơn trách nhiệm
hoàn trả số nợ còn tồn đọng của 2.050.000 USD cho Nguyên đơn”. Dựa vào hồ
Nguyên đơn cung cấp trong Vụ tranh chấp số 161/HCM thì tại Điều 6 Hợp
đồng vay ký giữa Công ty R3 Công ty C4 vào ngày 17/12/2019 quy định:
“Nếu có bất kỳ tranh chấp nào phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng vay
y, bao gồm bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến sự tồn tại, hiệu lực hoặc chấm
dứt của Hợp đồng này, sẽ được chuyển đến và cuối cùng được giải quyết bằng
trọng tài tại Singapore theo Quy tắc Trọng tài của Trung tâm T10 (“Quy tắc
SIAC)”. Việc Hội đồng trọng tài V1 nhận định rằng C4 đã vi phạm Hợp đồng
vay về việc thanh toán khoản nợ tồn đọng là không tôn trọng pháp luật
Singapore, không đúng với quy định trong Hợp đồng vay giữa các n đã thỏa
thuận. Đối với Hợp đồng vay thì nếu xảy ra tranh chấp thì thẩm quyền giải quyết
phải là Trung tâm T11 chủ thể liên quan là Nguyên đơn (Công ty R3)
Công ty C4. Do đó, việc nhận định của Hội đồng trọng tài VIAC trong phần nội
dung này vượt quá thẩm quyền giải quyết. Căn c Điểm c khoản 2 Điều 68
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và điểm c khoản 2 Điều 14 Ngh quyết
01/2014/NQ-TP, Phán quyết Trng tài cn được hủy để xét x li theo t
tng tòa án để đảm bo quyn và li ích hp pháp ca các bên.
4. Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc bản của pháp luật Việt
Nam
n cứ Khoản 4 Điều 11 Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Khoản 4 Điều 3
Nghị định 120/2016/NĐ-CP quy định thì phí lệ phí thu tại Việt Nam phải
bằng đồng Việt Nam. Tuy nhiên, tại mục 4.3.1.2 của Phán quyết Trọng tài ngày
08/01/2024 thì Nguyên đơn nộp chi phí trọng tài bằng USD và V1 cũng thu và
nhận phí trọng tài bằng USD. Vì vậy, việc nộp phí của Nguyên đơn thu phí
của V1 bằng tiền USD là trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Ngoài ra, bà L cho rằng Hội đồng trọng tài cũng đã không khách quan khi
đánh g c chứng cứ có trong hồ sơ vụ tranh chấp. Điều này là vi phạm
nguyên tắc tại khoản 2 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Trọng tài
viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật).
Căn cứ Điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và
điểm đ khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, Phán quyết Trng tài
cn được hủy để xét x li theo t tng tòa án để đảm bo quyn và li ích hp
pháp ca các bên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty R3 trình bày như sau:
7
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty R3 đề nghị Tòa án không chấp
nhận yêu cầu của bà Đoàn Phương L với những lý do cụ thể như sau:
1. Đối với luận điểm về VIAC không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Công ty C4 phản bác toàn bộ các lập luận trên. Cụ thể, Công ty C4 đã
cung cấp chuỗi thư điện tử thể hiện quá trình đàm phán và kết Hợp đồng Bảo
lãnh nhân (trong đó quy định rõ về thỏa thuận trọng tài) cũng đã cung
cấp vi bằng xác nhận nội dung các thư điện tử này. Đồng thời, Công ty C4 cũng
đã trình bày rằng:
a. Vợ chồng ông W và bà L có quan điểm về sự tồn tại của Hợp đồng Bảo
lãnh nhân một cách không thống nhất. Theo đó, vợ chồng ông W bà L
thừa nhận sự việc này trong Bản tự bảo vệ nhưng lại phủ nhận toàn bộ kể từ khi
ông Kiều Anh V luật sư của vợ chồng ông W và bà L tham gia vụ việc.
b. Việc vợ chồng ông W và L, đại diện theo ủy quyền (bà Nguyễn Thị
T5) và luật của vợ chồng ông W và L (ông Kiều Anh V) phủ nhận các sự
thật này (bao gồm việc phủ nhận sự tồn tại của Hợp đồng Bảo lãnh nhân) đ
trốn tránh trách nhiệm trả nợ đã dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản, và cần quan điều tra vào cuộc. Do đó, Công ty C4 đãu ý kiến
u cầu V1 chuyển hồ sơ cho quan điều tra (Phòng Cảnh sát kinh tế - PC03)
theo Điều 5, Điều 145 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm c Khoản 1 Điều 18,
Điều 20 của Luật Tổ chức quan điều tra hình sự vì việc vchồng ông W và
L chối bỏ trách nhiệm khi cam kết bảo lãnh đC4 hợp đồng vay ban đầu
khả năng cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175
của Bộ luật Hình sự năm 2015.
c. Liên quan đến việc khẳng định tranh chấp tại Hợp đồng Bảo lãnh
nhân phát sinh từ Hợp đồng vay nên Trung tâm T10 thẩm quyền giải quyết,
Công ty C4 nhấn mạnh rằng Hợp đồng Bảo lãnh nhân và Hợp đồng vay có
hiệu lực pháp độc lập theo khoản 2 Điều 407 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 29
của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP (Đoạn 47 của Đơn khởi kiện). Đồng thời,
Công ty C4 cũng nêu rằng các quy định trong Hợp đồng Bảo lãnh nhân
(Khoản 1 Điều 2, Khoản 3 Điều 3) cũng thể hiện tính độc lập của Hợp đồng Bảo
lãnh nhân với Hợp đồng vay (Đoạn 41-46 của Đơn khởi kiện) nên Hội đồng
trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ việc này.
d. Như vậy, Công ty C4 đã cung cấp được Hợp đồng Bảo lãnh nhân,
các tài liệu, chứng cứ khác. Công ty C4 cũng đã làm rõ nguồn gốc, truy xuất của
các i liệu, chứng cứ này. L thể không được gửi cùng (CC) trong chuỗi
email trao đổi giữa các bên, nhưng L tên xác nhận vào phần ký n của
8
các tài liệu, hợp đồng. Điều này đã thể hiện rất đầy đý chí về sự đồng ý của bà
L đối với giao dịch, Hợp đồng Bảo lãnh cá nhân cũng như các tài liệu khác. Nếu
L không thừa nhận chữ ký của mình trong Hợp đồng Bảo lãnh nhân cũng
như các tài liệu khác thì điều này phải được hiểu là L đang chối bỏ các hợp
đồng, thỏa thuận này cần phải chuyển hồ sơ, đề nghị khởi tố vụ ánnh sự
có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
đ. thể bà L không được cùng trong chuỗi email trao đổi giữa các bên,
nhưng việc bà L ký tên vào c hợp đồng, tài liệu liên quan đến giao dịch vay,
giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là sự thật và sự thật này không thể chối cãi
bằng bằng chứng là chữ ký của bà L tại phần ký tên của các i liệu này. Việc ký
tên này cũng thể hiện sự đồng ý của bà L đối với việc giao kết các hợp đồng,
thỏa thuận mà đặc biệt là Hợp đồng Bảo lãnh cá nhân. Vấn đđặt ra là tại sao bà
L thể ký tên vào Hợp đồng Bảo lãnh doanh nghiệp, Hợp đồng Thế chấp phần
vốp góp nhưng lại chối bỏ về việc biết được, nhận thức được Hợp đồng Bảo
lãnh nhân trong khi các i liệu này đều trong cùng một kiện tài liệu cho giao
dịch vay, giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Đó chưa kể, phần nội dung
của các hợp đồng, tài liệu này đều ghi là gửi cho bà Đoàn Phương L.
e. Với cách là vợ của ông W, người cùng một nhà với ông W, n
người quản lý, người đại diện theo pháp luật của VTA, S, đồng thời ký n
o Hợp đồng Bảo lãnh doanh nghiệp, Hợp đồng Thế chấp phần vốn góp đđại
diện cho các ng ty này các hợp đồng này đều trong cùng một kiện hợp
đồng trong giao dịch vay, giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nhưng L lại
bảo không biết và chối bỏ Hợp đồng Bảo lãnh nhân là một điều hết sức vô lý.
Trong khi đó, theo một số thông tin công khai, bà L xuất hiện với tư cách là một
nữ doanh nhân giỏi và thành ng trong hoạt động kinh doanh, quản lý doanh
nghiệp. Theo đó, việc chối bỏ Hợp đồng Bảo lãnh nhân một sự trắng trợn,
ngang nhiên trong việc phủ nhận những sự thật rất hiển nhiên chỉ để trốn tránh
nghĩa vụ bảo lãnh của chính mình và trả nợ cho Công ty mà nh sở hữu của bà
L. Điều này sẽ dẫn đến hậu quả là giúp Công ty C4 trực tiếp chiếm đoạt tài sản
giúp bà Ly gián T6 chiếm đoạt tài sản của Công ty C4.
f. Đáng i hơn L không chỉ nhận được thông tin về Hợp đồng Bảo
lãnh cá nhân trong Vụ Trọng tài này mà trước đây bà L n được gửi các Thông
o Sự Kiện Vi Phạm (D) đngày 22/12/2020, Thư Cảnh Báo (W) đề ngày
03/11/2021, thông tin về việc C1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng
vay. Nếu bà L thật sự không liên quan, thì tại sao bà L lại không gửi bất kỳ phản
9
hồi nào đến C4 để thông tin rằng bà L không liên quan cả, bà L cũng không
biết Hợp đồng Bảo lãnh cá nhân, nên đừng gửi bất kỳ văn bản nào cho bà ấy.
g. Mặc dù vợ chồng ông W và bà L khẳng định là không biết, nhưng trong
Bản tự bảo vệ đề ngày 08 tháng 3 năm 2023, vchồng ông W L đã thể
hiện ý chí ngược lại là vợ chồng ông W L vẫn hành xử và tuân theo như
thể là Hợp đồng Bảo lãnh nhân hiệu lực khi không phản đối về sự tồn tại
của thỏa thuận trọng tài mà vợ chồng ông W và bà L còn tranh luận về trung tâm
trọng tài giải quyết tranh chấp trong thỏa thuận trọng tài: cụ thể: Tại Mục I của
Bản tự bảo vệ, vợ chồng ông W L còn thừa nhận rằng: “Phần mở đầu của
Hợp Đồng Bảo Lãnh Nhân đó Hợp Đồng Vay được ký giữa R & R và C5
vào ngày 17 tháng 12 năm 2019.”. Vợ chồng ông W và bà L còn phản đối VIAC
nơi giải quyết tranh chấp trong vụ trọng tài này do Thư Thỏa Thuận
Chọn Trung Tâm Trọng Tài bởi ông Trần Minh T7 trong vụ việc cũ, và
không n hiệu lực trong vụ này ông Trần Minh T7 không còn đại diện
theo ủy quyền của R & R trong vụ này (Mục I của Bản Tự Bảo Vệ đngày
08/3/2023).
Từ các căn cứ trên thể thấy rằng, việc phủ nhận sự tồn tại của Hợp
đồng Bảo lãnh nhân thỏa thuận trọng tài trong đó sai sự thật, cũng như
mâu thuẫn với tất cả nội dung trước đó đã tranh luận và khẳng định bởi vợ
chồng ông W và bà L.
2. Đối với luận điểm về việc thủ tục tố tụng trọng tài không hợp lệ
Công ty C4 đã nộp bản sao của bản hợp pháp hóa nh sự của giấy ủy
quyền cho Hội đồng Trọng tài và Công ty C4 cũng nêu rằng sẽ trình diện bản
gốc cho Hội đồng Trọng tài theo yêu cầu của Hội đồng Trọng tài (Mục 5 Bản
Phản Hồi đề ngày 10 tháng 5 năm 2023 (“Bản Phản Hồi 10/5/2023”), Công ty
C4 còn nêu rõ tại Mục III.3 của Bản Phản Hồi đối với Thư Phản Đ Thẩm Quyền
đề ngày 21/08/2023 (“Bản Phản Hồi 21/8/2023”) và trong phiên họp như sau:
a. Các giấy ủy quyền của Công ty C4 cho Lexcomm thể hiện ý chí thực sự
của Công ty C4 về việc ủy quyền cho L2 tham gia vụ việc (Giấy Ủy quyền của
Công ty C4 cho Lexcomm đề ngày 19 tháng 10 năm 2022 (“Giấy Ủy Quyền của
R & R”) và Giấy Chỉ định của L2 đề ngày 19 tháng 12 năm 2022).
b. Tài liệu T2 Xác nhận đề ngày 10 tháng 05 năm 2023 (“Thư Xác Nhận”)
đã c nhận việc các giấy ủy quyền phản ánh đúng ý chí của Công ty C4 ủy
quyền cho L2. C4 cũng đã thừa nhận việc ủy quyền cho L2 nhân sự của L2
chưa bao giờ phản đối bất cứ vấn đề nào liên quan đến việc ủy quyền cho L2
hay nhân sự của L2 (bao gồm nhân sự của chi nhánh L5).
10
c. Ngoài ra, chính vợ chồng ông W L cũng nêu rằng: “Chúng tôi đã
cung cấp Giấy ủy quyền: Số 050623/POA-BWA-KAV và số 050623/POA-
DPL-KAV ngày 05 tháng 6 năm 2023. Mặc dù c văn bản này không được
ng chứng nhưng không yêu cầu bắt buộc phải công chứng Giấy ủy quyền.
Giấy ủy quyền đó là hợp pháp hợp lệ, chúng tôi không cần cung cấp Giấy ủy
quyền có ng chứng theo yêu cầu của VIAC theo công văn số 1192/VIAC-
HCM ngày 23/06/2023. để nói rằng giấy y quyền dù không được công chứng
vẫn có hiệu lực pháp lý (Đoạn 6 của Ý kiến và u cầu của vợ chồng ông W
bà L đề ngày 15 tháng 8 năm 2023).
d. Như vậy, ông W L cũng đang bị mâu thuẫn với chính mình trong
quan điểm về tính hợp lệ của giấy ủy quyền, và mặc dù không vi phạm quy định
pháp luật, Công ty C4 cũng vẫn đã nộp đầy đủ cho Hội đồng Trọng tài ngay từ
ban đầu. Đây ràng một hành vi nhằm cản trở tố tụng mà ông W bà L đã
liên tục thực hiện trong xuyên suốt quá trình tố tụng trọng tài trong vụ việc này.
e. Giấy ủy quyền của Công ty C4 là giấy ủy quyền hợp lệ vì ủy quyền cho
L2 chứ không phải chi nhánh L5, vì:
i. Giấy ủy quyền này ghi nhận thông tin đầy đủ của L2, theo đó ghi nhận
L2pháp nhân.
ii. Việc ghi thêm thông tin của chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ
một sự thể hiện ý chí của Công ty C4 rằng Công ty C4 đồng ý mong muốn
Lexcomm chỉ định nhân sự của chi nhánh của L2 tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia giải quyết vụ tranh chấp vì địa điểm giải quyết tranh chấp trong vụ việc
này là tại Thành phố Hồ Chí Minh.
f. ng ty C4 cũng muốn nói thêm rằng, ngoài việc Công ty C4 đã ủy
quyền cho L2, chứ không phải chi nhánh L5 như trình bày trên, thì trên thông lệ
thị trường, vẫn nhiều hợp đồng được ký giữa các đối tác chi nhánh của
công ty, và thực tế, quy định về kế toán cũng cho phép chi nhánh i khoản
ngân hàng i khoản thuế độc lập. Quan trọng hơn, điều này đã được Luật
Kiều A V thừa nhận trong phiên họp và được ghi nhận trong Phán quyết VIAC
(Đoạn 3.2.3.3, Đoạn 3.2.3.4 của Phán quyết VIAC).
g. Cuối cùng, việc Người yêu cầu cho rằng việc ký Đơn khởi kiện bởi ông
Phạm Thanh C không phù hợp theo quy định của Điều 30 của Luật Trọng tài
thương mại là một vấn đề mới mà Người yêu cầu nêu ra chỉ tại Yêu cầu hủy
phán quyết. Theo đó, Người yêu cầu đã mất quyền phản đối theo Điều 13 của
Luật Trọng tài thương mại. Đồng thời, ông Phạm Thanh C cũng có quyền ký
11
Đơn khởi kiện như đã phân tích trên. vậy, lý do này không sở đ
chấp nhận.
3. Đối với luận điểm Hội đồng Trọng tài không khách quan khi đánh giá
c chứng cứ trong hồ của Vụ Tranh chấp, không thể hiện sự bình đẳng,
dẫn đến vi phạm quy định của Điều 4, Khoản 2 của Luật Trọng tài thương mại
a. Thứ nhất, ngay tại Phần I, Mục 1.2, đoạn đầu tiên của Phán quyết
VIAC, Hội đồng Trọng tài đã nêu để thuận tiện cho việc tham chiếu, các tài
liệu được đính m/kèm theo các đệ trình y sẽ không được dẫn đề cập trong
Phán quyết VIAC, mặc dù chúng đã được Hội đồng Trọng tài xem xét cẩn thận.
Đồng thời, với cách tiếp cận một cách thận trọng, Hội đồng Trọng tài đã m tắt
lại các trình bày, u cầu của các n tại Phần III của Phán quyết V1. Theo đó,
Phán quyết V1 đã cho thấy Hội đồng Trọng tài đã xem xét rất kỹ các i liệu,
thông tin các n đệ trình, n sẽ không việc bỏ sót bất kỳ tài liệu, thông
tin nào.
b. Thứ hai, Hội đồng Trọng tài đã xem xét một cách cụ thể, kỹ lưỡng, toàn
diện và đầy đủ các u cầu của các bị đơn (bao gồm Người yêu cầu). Cụ thể,
Hội đồng Trọng tài đã xem xét (i) yêu cầu về thẩm quyền, (ii) yêu cầu về việc đ
cử, chỉ định trọng tài viên, (iii) u cầu về giấy ủy quyền, (iv) yêu cầu tuyên
L không phải là Bị Đ1. Hội đồng Trọng tài đã phân tích từng yêu cầu, từng vấn
đề và đrồi kết luận rằng các u cầu, các vấn đề mà c bị đơn nêu ra chỉ là
những vấn đề, yêu cầu chiến thuật mà không phản ánh thực tế, và các yêu cầu,
vấn đề này cũng thiếu trung thực và không có căn cứ để chấp nhận.
c. Thứ ba, trong toàn bộ quá trình tranh chấp, Hội đồng Trọng tài đã tạo
rất nhiều hội đcho các bị đơn trình bày, thậm chí đã gia hạn cho Các Bị
Đơn nhiều lần để có đầy đủ thời gian, hội trình bày (ví dụ: gia hạn thời gian
để nộp bản tự bảo vệ theo Thông o số 228/VIAC-HCM đngày 13/02/2023,
Thông báo hoãn phiên xử theo yêu cầu của các bđơn số 1864/VIAC-HCM đ
ngày 23/08/2023). Thậm chí, ngay cả khi các bđơn cố tình nại ra lý do về việc
Nguyên đơn đã đề xuất trọng tài viên trong vụ tranh chấp trước đây thành
viên của Hội đồng Trọng tài trong Vụ Trọng tài y để cho rằng việc chỉ định
Hội đồng Trọng tài có vấn đề và đánh vào uy n để làm giảm sự tin cậy của Hội
đồng Trọng tài thì Hội đồng Trọng tài vẫn khách quan, bình đẳng và đầy shỗ
trợ để tạo rất nhiều cơ hội cho c bị đơn trình bày; xem xét các yêu cầu, vấn đ
(bao gồm cả yêu cầu xin hoãn) của các bị đơn và sẵn sàn chấp nhận các yêu cầu,
vấn đnày nếu như sở thực tế, sở pháp . Đó chưa kể, Hội đồng
Trọng tài còn tạo hội cho các bị đơn nộp thêm i liệu sau phiên họp cuối
12
ng để chứng minh rằng bên vay đã thực hiện nghĩa vụ của mình theo Hợp
đồng vay và vậy nghĩa vụ bảo đảm của các bị đơn chưa được kích hoạt. Tuy
nhiên, các bị đơn đã không thể nộp được các tài liệu này.
d. Thứ tư, chính các bị đơn mới là n thiếu trung thực trong Vụ Trọng
i. Để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ và chiếm đoạt khoản vay, tiền lãi và c
khoản tiền khác theo Hợp Đồng vay, Hợp đồng Bảo lãnh nhân, c bị đơn đã
thay đổi quan điểm liên tục trong quá trình của Vụ Trọng tài. Ban đầu các bị đơn
đã chấp nhận và dựa vào Hợp đồng vay, Hợp đồng Bảo lãnh nhân để trình
bày các lập luận của mình. Sau đó, c bị đơn mà đặc biệt là L đã từ chối các
hợp đồng, thỏa thuận này. Sau đó nữa, tại phiên họp giải quyết tranh chấp, khi
nghe nhận thức được trách nhiệm hình sự liên quan đến hành vi chối bỏ các
hợp đồng, thỏa thuận là rất nặng nề,c bị đơn đã thừa nhận các hợp đồng, thỏa
thuận này. Quan trọng không kém, Người yêu cầu cho rằng Hội đồng Trọng tài
đã không khách quan khi đánh giá chứng cứ, nhưng Người yêu cầu đã không thể
nộp bất kỳ chứng cứ nào cho Hội đồng Trọng tài trong suốt quá trình của Vụ
Trọng tài cũng không thể chỉ ra được Hội đồng Trọng tài đã không khách
quan khi xem xét chứng cứ nào. Trong khi đó, Hội đồng Trọng tài luôn tạo mọi
cơ hội có thể để cho các bị đơn trình bày, cung cấp các tài liệu chứng cứ.
Như vậy, Hội đồng Trọng tài đã khách quan, bình đẳng khi đánh giá
chứng cứ, yêu cầu và vấn đề mà các n trong Vụ Trọng tài nêu ra. Theo đó,
không có cơ sở thực tế để cho rằng đãsự vi phạm quy định tại Điều 4, Khoản
2 của Luật Trọng tài thương mại “Trọng tài viên phải độc lập, khách quan,
tư và tuân theo quy định của pháp luật.”.
Ngoài ra, còn các chứng khác thể hiện sự tồn tại của hợp đồng bảo lãnh.
a. Vào ngày 18/12/2019 (01 ngày sau khi kết Hợp đồng vay và Hợp
đồng Thế chấp phần vốn góp), C1S đã nộp phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp
bảo đảm, hợp đồng với các nội dung đúng như theo quy định của Hợp đồng Thế
chấp phần vốn góp và đã nhận Văn bản Chứng nhận Đăng ký biện pháp bảo
đảm, hợp đồng vào cùng ngày.
b. Vào thời điểm ký kết Hợp đồng Bảo lãnh doanh nghiệp (ngày
17/9/2019), bà L người đại diện theo pháp luật của VTA (với chức danh
chủ tịch hội đồng quản trị). Căn cứ theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
của VTA, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 11/12/2017 thể hiện rõ rằng bà L
người đại diện theo pháp luật với chức danh là Chủ tịch hội đồng quản trị của
ng ty. Căn cứ theo Báo o tổng hợp về lịch sử đăng ký doanh nghiệp trong
03 năm, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ mới được đăng ký thay đổi
13
lần thứ 4 vào ngày 17 tháng 01 năm 2024, và với nội dung thay đổi là thay đổi
về địa chỉ và thông tin về thuế. Do đó, trong khoảng thời gian từ ngày 11 tháng
12 năm 2017 đến ngày kết Hợp Đồng Bảo Lãnh Doanh Nghiệp, không sự
thay đổi gì đối với người đại diện theo pháp luật của VTA và do đó một sự thật
không thể chối cãi bà L chính người đại diện theo pháp luật của VTA vào
thời điểm ký kết hợp đồng này. L (đại diện cho V2) đã thừa nhận và đồng ý
đối với toàn bộ nội dung của Hợp Đồng Bảo Lãnh Doanh Nghiệp này bằng việc
tên vào trang của hợp đồng và sử dụng con dấu công ty của VTA đđóng
dấu lên phần chữ ký. Như vậy, có thể khẳng định một sự thật không thể chối cãi
L đã biết, hiểu rõ thừa nhận toàn bộ các nội dung và vấn đđề cập
trong hợp đồng.
c. Ngày 17/12/2019, VTA đã tổ chức họp đại hội đồng cổ đông nhằm (i)
ng bố và c nhận với Công ty C4 rằng VTA thừa nhận sự tồn tại và hiệu lực
của Hợp đồng vay (Churchill vay C4) (ii) thông qua Hợp đồng Bảo lãnh
doanh nghiệp. Kết quả của cuộc họp là VTA đã thừa nhận sự tồn tại của Hợp
đồng vay và đồng thời thông qua Hợp đồng Bảo lãnh doanh nghiệp bảo lãnh cho
nghĩa vụ của C1 tại Hợp đồng vay nêu trên. Căn cứ vào Nghị quyết của Đ2 của
VTA ngày 17/12/2019 và Biên bản họp hội đồng cổ đông của VTA vào ng
ngày. Tại biên bản họp và cả nghị quyết cổ đông thì L đều thay mặt và đại
diện ký thay mặt công ty. Đối với nghị quyết cổ đông thì với cách chủ
tịch hội đồng quản trị và biên bản họp là chủ tọa.
5. Phán Quyết VIAC không vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam: Công ty C4 một pháp nhân nước ngoài (Quần đảo Virgin thuộc A)
không hiện diện thương mại tại Việt Nam và C4 thực hiện quyền khởi kiện
bằng chính cách của mình. Do đó, đây một giao dịch xuyên biên giới giữa
một người t(V1) người không trú (C4) theo quy định của Pháp lệnh
Ngoại hối 2005 (sửa đổi, bổ sung). Theo quy định tại Điều 28 của Luật Trọng tài
thương mại, Trung tâm trọng tài quyền “cung cấp dịch vụ trọng tài, hoà giải
c phương thức giải quyết tranh chấp thương mại khác theo quy định của
pháp luật” thu phí trọng tài các khoản hợp pháp khác liên quan đến
hoạt động trọng tài. Theo đó, hoạt động cung cấp dịch vụ trọng tài cho các n
trong Vụ Trọng tài hoạt động cung cấp dịch vụ xuyên biên giới cho doanh
nghiệp nước ngoài (Nguyên Đơn Công ty C4 trong Vụ Trọng tài), cụ thể
trong trường hợp này, V1 nguồn thu ngoại tệ tviệc xuất khẩu dịch vụ theo
Điều 7, Khoản 1 và Điều 7, Khoản 2 của Pháp lệnh Ngoại hối 2005, được hướng
dẫn bởi Điều 5 của Nghị định số 70/2014/NĐ-CP.
14
6. Đối với vấn đề Phán quyết VIAC có nội dung không thuộc thẩm quyền
của Hội đồng Trọng tài
6.1. Tại Mục 3 của Yêu cầu hủy phán quyết, Người yêu cầu trích dẫn
Đoạn 4.3.1.1.5 của Phán quyết VIAC nêu ra đánh giá của Hội đồng Trọng tài về
một tình tiết thực tế là C1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán để từ đó đưa đến sự
ch hoạt nghĩa vụ bảo lãnh theo Hợp đồng Bảo lãnh nhân, để cho rằng Phán
quyết VIAC thuộc Điểm c, Khoản 2, Điều 68 của Luật Trọng tài thương mại
“Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài vậy cần
bị hủy. Đây nhận định không sthực tế và thể hiện sự thiếu hiểu biết
cũng như việc viện dẫn một cách tội vạ các spháp lý liên quan đến việc
hủy phán quyết trọng tài theo tiêu chí thà viện dẫn nhầm còn hơn bỏ sót của
Người yêu cầu.
6.2. Theo Luật Trọng tài thương mại, Quy tắc VIAC, Hội đồng Trọng tài
quyền làm ng tỏ các vấn đề có liên quan đến Vụ Trọng tài. Trong Vụ
Trọng tài này, có một vấn đề hết sức cốt lõi bất kỳ người có kiến thức,
duy, hiểu biết thông thường nào cũng biết rằng cần phải làm ng tỏ, đó , C1
(bên vay) vi phạm nghĩa vụ của mình theo Hợp Đồng Vay hay không. Theo
đó và rất hiển nhiên, Hội đồng Trọng tài phải xem xét, c định về vấn đề này.
lẽ đó, Phán quyết VIAC có nội dung nhận định của Hội đồng Trọng tài về
việc Churchill vi phạm nghĩa vụ theo Hợp đồng vay là phù hợp và trong thẩm
quyền của Hội đồng Trọng tài.
6.3. Công ty C4 cũng xin lưu ý rằng việc xác định có vi phạm nghĩa vụ
theo Hợp đồng vay không phải là việc giải quyết tranh chấp, vấn đphát sinh
theo Hợp đồng vay mà là việc làm ng tỏ các nh tiết thực tế của Vụ Tranh
chấp. Trong toàn bộ Phán quyết VIAC, không hề có một đoạn nào giải quyết các
vấn đề của Hợp đồng vay. Hợp đồng vay hoàn toàn bám theo và căn cứ vào Hợp
đồng Bảo lãnh cá nhân, các tài liệu chứng cứ có liên quan đến giải quyết các yêu
cầu của các bên Hợp đồng Bảo lãnh nhân cũng độc lập về mặt pháp với
Hợp đồng vay như đã trình bày, phân tích trên.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Walter August B trình bày
như sau: Ông thống nhất với các ý kiến của Đoàn Phương L ông đề nghị
hủy phán quyết trọng tài trên.
Tại phiên họp hôm nay:
Người yêu cầu vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình. Người có quyền, nghĩa vụ liên
quan vẫn giữ nguyên ý kiến.
15
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý
kiến:
Qua kiểm sát vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán
đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ việc, Tòa án quyết
định mở phiên họp và gửi hcho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn,
cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát
theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng mở phiên họp: Tại phiên họp hôm
nay, phiên họp tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã thực hiện đúng các quyền
và nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Không sở chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
của bà Đoàn Phương L
XÉT THẤY:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây việc dân sự về yêu cầu kinh doanh
thương mại liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh
chấp, i Hội đồng trọng tài tuyên phán quyết trọng tài Thành phố Hồ C
Minh, do đó, căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 31, Điểm b Khoản 1 Điều
37, Điểm o Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Khoản 2,
Khoản 3 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, yêu cầu này thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thời hiệu: Ngày 08/01/2024 ngày công bố Phán quyết Trọng tài
vụ tranh chấp số 161/22 HCM. Ngày 01/02/2024, Đoàn Phương L nộp đơn
yêu cầu a án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy phán quyết trọng tài
còn trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài Thương
mại.
[3] Về nội dung: Xét người yêu cầu của Đoàn Phương L đề nghị hủy
Phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 161/22 HCM ngày 08/01/2024 cho
rằng: Phán quyết này vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài và trái với các nguyên tắc
bản của pháp luật Việt Nam vi phạm tố tụng trọng tài. Đây những vấn
đề cần xem xét.
[3.1] Xét thấy: Tại phiên họp, bà Đoàn Phương L cho rằng VIAC không có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp do các bên không thỏa thuận trọng tài. Cụ
thể, các chứng cứ phía Công ty R&R nộp cho VIAC chỉ bản sao, không
16
email nào thể hiện bà thừa nhận sự tồn tại của hợp đồng bảo lãnh, tại phiên
họp trọng tài bà đã phản đối thẩm quyền trọng tài nhưng không được giải quyết.
[3.2] Hội đồng xét đơn đã tạm dừng phiên họp đphía Công ty R4 nộp
chứng cứ cũng như thu thập chứng cứ từ phía V1. Xét thấy các chứng cứ
phía Công ty R4 nộp cho tòa những bản chính tài liệu lập vi bằng của Văn
phòng T12 lập, các bản dịch được công chứng. Tại phiên họp, Hội đồng xét đơn
đã nhiều lần hỏi bà Đoàn Phương L về việc có cần biết, sao chụp các tài liệu mà
phía Công ty R&R nộp không, bà L trả lời không cần vì những tài liệu này bà đã
được cung cấp tại V1 và bà đã phủ nhận tính pháp lý của các tài liệu này.
[3.3] Xét thấy, tại phiên họp, Đoàn Phương L cũng trình bày, địa chỉ
email mà ông Water B1 sử dụng là địa chỉ: W.Blocker@VNtrack.vnTheo bộ V3
lập thì trong nội dung trao đổi qua lại tđiện tử giữa các bên cho thấy sự tồn
tại của hợp đồng bảo lãnh, cụ thể trang 12 của bản sao Hợp đồng Bảo lãnh
nhân đầy đủ chữ ký của Bà Đoàn Phương L, ông W với cách bên bảo
lãnh ông Trần Viết C2 với cách người làm chứng. Trang chữ ký y đã
được ông Matthew W1 (cố vấn tài chính cho C1 trong giao dịch vay) gửi bằng
email cho Nguyễn Thu T8 (email: nguyenthuth[email protected]om), luật
của C4 (email: counsel@arcwarden.com), ông W (email:
walter.blocker@vntrade.vn), ông Trần Viết C2 (TranViet.Chung@vntrade.vn)
vào ngày 14/12/2019 như được thể hiện tại trang 36-37 40 của Vi bằng số
425/2023/VB-TPL đề ngày 25/08/2023. Hợp đồng chứa trang chữ ký này sau
đó cũng được ông Trần Viết C2 gửi bằng email cho luật của Công ty C4 vào
địa chỉ email counsel@arcwarden.com và đồng thời gửi tới ông R1 (đại diện của
C4), ông W, bà Nguyễn Thu T8, ông Matthew Allan W1 vào ny
19/12/2019 như được thể hiện tại trang 88-89, 106 của Vi bằng. Đồng thời, tại
các trang 5-7 (nêu về việc các điều kiện chính để ký kết khoản vay, trong đó
bảo lãnh nhân), 15-20 (nêu về việc gửi các bản dự thảo cho các hợp đồng,
trong đó hợp đồng bảo lãnh cá nhân), 36-42 (vviệc gửi các trang có chữ ký
của ông W L cho việc ký kết các hợp đồng này), 72-77 (về việc gửi các
chấp thuận nội bộ của VTA cho việc bảo lãnh doanh nghiệp và được ký bởi bà
L), 88-99 (về việc ông C2 gửi các hợp đồng và các tài liệu liên quan chký
của bà L ông W cho C4), 105-108 (về việc R & R gửi lại các hợp đồng có
chữ ký của Công ty C4, trong đó Hợp đồng Bảo lãnh nhân) của Vi bằng,
việc trao đổi qua lại bằng email và xác nhận việc ký kết hợp đồng cũng đã được
thể hiện rõ theo đúng quy định tại Điều 4.12, 10, 11, 12, 13 và Điều 14 của Luật
Giao dịch điện tử 2005.
17
[3.4] Ngoài ra, phía Công ty R3 còn nộp cho Tòa án Biên bản họp cổ đông
của Công ty L6 đề ngày 17/12/2019 do Đoàn Phương L chủ tọa, ông Trần
Viết C2 là thư ký, Nghị quyết đề ngày 17/12/2019 của VTA do Bà L với
cách Chủ tịch Hội đồng Quản trị vào ngày 18/12/201 được thể hiện qua trang
88-89 và 97-98 của Vi bằng.
[3.5] Bên cạnh đó, trong Bản tự Bảo vệ ngày 31/03/2022 trong vụ trọng tài
144/21, L ông W cũng đã c nhận sự tồn tại của Hợp đồng Bảo lãnh
nhân và thẩm quyền của V1 khi nêu rõ rằng: “Sau khi được Trung tâm T10 phán
quyết và c quan nnước có liên quan nếu Churchill Downs Holdings L3
không trả được nợ thì các nhân/tổ chức đã hợp đồng bảo lãnh xảy ra
tranh chấp trong thỏa thuận bảo lãnh này thì hồ vụ án thể xem xét đ
Trung tâm T9 giải quyết theo sự thỏa thuận giữa các bên.”.
[3.6] Xét thấy tại Điều 17.1 của Hợp đồng Bảo lãnh nhân đã nêu :
“Bất kỳ tranh chấp phát sinh hoặc liên quan đến Hợp đồng này, bao gồm bất kỳ
u hỏi nào liên quan đến sự tồn tại, tính hợp lệ hoặc chấm dứt của Hợp đồng,
sẽ được đưa ra giải quyết cuối cùng bằng trọng tài tại Việt Nam theo Quy
Tắc T của Trung tâm T9 (“Quy Tắc VIAC”) hiện hành, quy tắc này coi như
được tham chiếu trong điều khoản này.”. Như vậy, VIAC thẩm quyền giải
quyết vụ tranh chấp giữa Công ty C4 với bà L ông W như đã thể hiện trong
Phán quyết của vụ trọng tài 161/22 HCM lập vào ngày 08/01/2024.
[3.7] do Phán quyết Trọng tài nội dung vi phạm điều cấm của pháp
luật Việt Nam là thu phí trọng tài bằng ngoại tệ là trái với quy định của pháp
luật Việt Nam, cụ thể là trái với Pháp lệnh ngoại hối năm 2005.
Xét thấy: Hợp đồng giữa Công ty R3 doanh nghiệp của Anh với ông W
và bà L đã thỏa thuận bảo lãnh cho khoản vay bằng USD. Khi xảy ra tranh chấp,
Công ty R3 khởi kiện tại trọng tài nên Trung tâm trọng tài u cầu nguyên đơn
phải nộp lệ phí trọng tài bằng ngoài ngoại tệ là phù hợp, không trái với quy định
của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005. Do Công ty R3 thắng kiện nên Trung m
trọng tài buộc L phải hoàn trả lại phí trọng tài Công ty R3 đã nộp bằng
ngoại tệ là phù hợp do Công ty R3 trụ sở tại Anh, không phải là doanh
nghiệp hoạt động tại Việt Nam thì không thể quy đổi ra tiền Việt như ý kiến của
L. Do đó, lý do y của Đoàn Phương L nêu ra không căn cứ để chấp
nhận.
[3.8] Đối với lý do u cầu hủy Phán quyết trọng tài vi phạm vVIAC vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về thụ lý đơn khởi kiện.
18
Xét Công ty R3 ủy quyền cho ông Phạm Thanh C không hợp lệ để tham
gia tố tụng trong vụ tranh chấp với bà Đoàn Phương L. Do đó, VIAC thụ lý Đơn
khởi kiện của Công ty R3 do ông Phạm Thanh Cvới tư cách đại diện theo ủy
quyền là trái quy định của Luật Trọng tài thương mại và Quy tắc VIAC. Nhận
thấy ngày 19/10/2022 tại Công ty R3 Giấy ủy quyền chỉ định Công ty L7
được quyền chuẩn bị, đệ trình, gửi hoặc chuyển và/hoặc nhận bất kỳ tất cả
các đơn, tài liệu, giấy tờ, đtrình, các yêu cầu, thông báo các nội dung trao
đổi khác liên quan đến bất kỳ vấn đvề thủ tục và/hoặc nội dung nào cần thiết
hoặc được phép hoặc theo yêu cầu của Tòa án thẩm quyền, V1, hội đồng
trọng tài, Viện kiểm sát thẩm quyền, quan thi hành án..., chỉ định các luật
sư, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty trong các vụ tranh chấp,
ủy quyền lại, chỉ định cho bất kỳ nhân nào khác để thực hiện các hành động,
công việc được liệt ntrên liên quan đến giải quyết tranh chấp liên quan
đến Hợp đồng Bảo lãnh nhân ngày 17/12/2019 giữa R2 với ông W,
Phương L. Công ty L7 được quyền ủy quyền lại cho người khác. Sau đó, Công
ty L7 giấy ủy quyền để ủy quyền lại cho ông Phạm Thanh C để làm đại diện
theo ủy quyền để thay mặt và đại diện cho Công ty R3 trong vụ tranh chấp với
Đoàn Phương L. Việc ủy quyền đã được chứng nhận Hợp pháp hóa lãnh
ssự vào ngày 09/12/2022 tại Đ3 tại C Singapore. Công ty L5 ủy quyền cho
ông Phạm Thanh C khởi kiện tại Trung tâm trọng tài phù hợp với ý chí cùng
Giấy ủy quyền ngày 19/10/2022 của Công ty R3. Do đó, ông Phạm Thanh C đã
được ủy quyền hợp lệ để đại diện Công ty R3 thực hiện các thủ tục khởi kiện tại
trọng tài là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3.9] Các căn cứ khác yêu cầu hủy phán quyết trọng tài bà Đoàn
Phương L nêu ra, xét thấy không có cơ sở nên không được chấp nhận.
[3.10] Ti phiên họp hôm nay, đi din Vin kiểm sát đ ngh không chp
nhn yêu cu v vic hy phán quyết trọng tài, đ ngh phù hp vi nhận định
ca hội đồng xét đơn nên được ghi nhn.
[3.11] T nhng nhận định trên, có cơ sở không chp nhn yêu cu ca của
Đoàn Phương L về việc Phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 161/22 HCM
ngày 08/01/2024 của Trung tâm T9 bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp
Việt Nam – V1.
[4] V l phí: Căn cứ Khoản 3 Điu 39 Ngh quyết s
326/2016/UBTVQH14 quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun
s dng án phí l phí Tòa án do Ủy ban Thường v Quc hi ban hành thì
trường hp yêu cu hy phán quyết trng tài phi chu l phí Tòa án. Tuy nhiên,
19
trong phn danh mc l phí Tòa án thì lại không quy định rõ đối vi loi vic
yêu cu hy phán quyết trng tài l phí là bao nhiêu. Vì vy, bà Đoàn Phương L
không phi chu l phí.
Bởi các lẽ trên,
Căn cứ Khoản 2 Điều 31, Điểm a Khoản 3 Điều 38, Khoản 3 Điều 414
Điều 415 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 43, Điều 68, Khoản 1 Điều 69, Điều 71, Điều 72
Luật Trọng tài thương mại;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng
Thẩm phán a án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định Luật
Trọng tài Thương mại.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đoàn Phương L về việc hủy Phán
quyết Trọng tài vtranh chấp số 161/22 HCM ngày 08/01/2024 của Trung tâm
T9 bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam V1.
2. Bà Đoàn Phương L không phải chịu lệ phí.
3. Quyết định này quyết định cuối cùng hiệu lực thi hành kể từ
ngày ký, tức ngày 14/6/2024. Các bên, Hội đồng Trọng tài không quyền
khiếu nại, kháng cáo, Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị.
HỘI ĐỒNG XÉT ĐƠN YÊU CẦU
CÁC THẨM PHÁN
Đào Quốc Thịnh Phùng Thị Như Mai
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
Nguyễn Thị Thùy Dung
Tải về
Quyết định số 108/2024/QĐST-KDTM Quyết định số 108/2024/QĐST-KDTM

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Quyết định số 108/2024/QĐST-KDTM Quyết định số 108/2024/QĐST-KDTM

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Quyết định cùng lĩnh vực

Quyết định mới nhất