Quyết định số 06/2025/QĐST-DS ngày 23/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Quyết định số 06/2025/QĐST-DS
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Quyết định số 06/2025/QĐST-DS
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Quyết định 06/2025/QĐST-DS
| Tên Quyết định: | Quyết định số 06/2025/QĐST-DS ngày 23/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 06/2025/QĐST-DS |
| Loại văn bản: | Quyết định |
| Ngày ban hành: | 23/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu của người được thi hành án ông Lê Minh C và bà Nguyễn Thị C1, về việc “Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án”. |
Tóm tắt Quyết định
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - TÂY NINH
Số: 06/2025/QĐST-DS
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Tây Ninh, ngày 23 tháng 9 năm 2025
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản
chung để thi hành án
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Phương.
Thư ký phiên họp: Ông Lê Hoàng Liêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh tham gia phiên
họp: Ông Nguyễn Phan Hoàng Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây
Ninh cơ sở Dương Minh Châu, tiến hành mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc
dân sự thụ lý số: 03/2025/TLST-DS, ngày 18 tháng 8 năm 2025, về việc “Yêu
cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung
để thi hành án”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự
số: 01/2025/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2025, gồm những người tham gia
tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lê Minh C, sinh năm 1976,
CCCD số 072076012087 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1973, CCCD số
072171008398; cùng địa chỉ: Tổ E, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là
xã C, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện hợp pháp của ông C, bà C1: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm
1993. Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là xã D, tỉnh
Tây Ninh); vắng mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị N, sinh năm
1973, CCCD số 072173009592; anh Tống Quốc T1, sinh năm 2000, CCCD số
072200009984 và chị Tống Thị Anh T2, sinh năm 2002, CCCD số
072173009592. Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là
xã C, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Theo đơn yêu cầu đề ngày 06/8/2025 và các lời khai trong quá trình
giải quyết việc dân sự, người yêu cầu là ông Lê Minh C và bà Nguyễn Thị C1
trình bày: Bà Phạm Thị N phải thi hành án cho ông, bà số tiền 321.022.221
2
đồng, theo Quyết định số 06/2025/QĐCNHGT-DS ngày 27/02/2025 của Tòa án
nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh và Quyết định số 234/QĐ-
CCTHADS ngày 07/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương
Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, bà N không tự nguyện thi hành. Bà N và
ông Tống Văn Q (đã chết) có khối tài sản chung là các thửa đất số 38 và 155, tờ
bản đồ số 33, diện tích 5.490 m², tọa lạc tại xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Để cơ
quan Thi hành án dân sự có cơ sở tiến hành cưỡng chế, ông bà yêu cầu Tòa án
xác định phần tài sản của bà N trong khối tài sản chung với ông Q.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Phạm Thị N trình bày:
Bà và ông Tống Văn Q là vợ chồng, có giấy chứng nhận kết hôn số 12
ngày 12/08/2002. Ông Q chết ngày 27/9/2023. Vợ chồng có hai con là Tống
Quốc T1 (sinh năm 2000) và Tống Thị Anh T2 (sinh năm 2002). Cả hai hiện
cùng cư trú với bà tại ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Cha ông Q là Tống
Văn D (chết ngày 27/02/2006), mẹ là Nguyễn Thị H (chết ngày 26/6/2019).
Trong thời gian chung sống, vợ chồng bà có tạo lập (nhận chuyển
nhượng) quyền sử dụng đất tại các thửa số 38 và 155, tờ bản đồ số 33, diện tích
5.490 m², tại ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CS03766 ngày 29/8/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T
cấp mang tên Tống Văn Q và Phạm Thị N. Đây là tài sản hình thành từ nguồn
tiền tích lũy chung của vợ chồng, hiện đang được sử dụng để trồng mì.
Ngoài ra, vào năm 2013, mẹ chồng bà là Nguyễn Thị H có tặng cho riêng
ông Q thửa đất số 39, tờ bản đồ số 33, tại ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH06598 ngày 13/11/2013 do UBND
Huyện D cấp cho ông Q. Trên đất có căn nhà cấp 4 (không tô, không trần), hiện
là nơi bà và các con đang ở.
Đối với yêu cầu của ông C, bà C1 về việc xác định phần tài sản của bà
trong khối tài sản chung với ông Q tại các thửa đất số 38 và 155 nêu trên, bà
đồng ý. Bà xác định phần quyền sở hữu, sử dụng của mình trong khối tài sản
chung là ½ giá trị. Do đó, đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật để giải
quyết. Ngoài ra, bà không có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết và trình tự tiến hành phiên họp
Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy
định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết yêu cầu việc dân sự: Đề nghị Thẩm phán căn cứ các
Điều 33, 66 Luật HNGĐ; Điều 149 BLTTDS; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
3
- Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu, xác định bà N có ½ phần
quyền trong QSDĐ thửa số 38, 155, tờ bản đồ số 33, diện tích 5.490m
2
, tại xã C,
Huyện D, tỉnh Tây Ninh, Giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ CS03766, do Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 19/8/2020 cho bà N và ông Q.
- Về lệ phí: Đương sự phải chịu lệ phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được
thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại
phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hồ sơ thể hiện Chấp hành viên đã thông báo cho
người phải thi hành án là bà Phạm Thị N và những người có quyền sở hữu
chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất để họ tự thỏa thuận phân chia hoặc yêu
cầu Tòa án giải quyết. Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo mà
các bên không thỏa thuận, cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Chấp
hành viên đã thông báo cho người được thi hành án là ông Lê Minh C và bà
Nguyễn Thị C1 về quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản,
phần quyền sử dụng đất của bà N trong khối tài sản chung với ông Tống Văn Q.
Trên cơ sở thông báo của Chấp hành viên, ông C và bà C1 đã có đơn yêu
cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu, sử dụng tài sản của bà N trong khối tài
sản chung với ông Q để thi hành án. Do đó, căn cứ Điều 74 Luật Thi hành án
dân sự; khoản 9 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm n khoản 2 Điều 39 Bộ
luật Tố tụng dân sự, đây là “Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài
sản, phân chia tài sản chung để thi hành án”, thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu. Sau ngày 01/7/2025, căn cứ Nghị
quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 – tỉnh
Tây Ninh.
[2] Xét yêu cầu của ông C, bà C1: Bà Phạm Thị N là người phải thi hành
án theo Quyết định số 06/2025/QĐCNHGT-DS ngày 27/02/2025 của Tòa án
nhân dân Huyện Dương Minh Châu và Quyết định số 234/QĐ-CCTHADS ngày
07/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu. Theo đó,
bà N phải thi hành số tiền 321.022.221 đồng và lãi suất chậm thi hành án.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có cơ sở xác định, bà N và
chồng là ông Tống Văn Q (chết ngày 27/9/2023) có tài sản chung là quyền sử
dụng đất tại các thửa số 38 và 155, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại xã C, Huyện D,
tỉnh Tây Ninh (nay là xã C, tỉnh Tây Ninh). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số CS03766 ngày 29/8/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp đứng
tên ông Q và bà N. Bà N xác định bà và ông Q có quyền sở hữu, sử dụng ngang
4
nhau đối với khối tài sản chung này. Xác định đó phù hợp với quy định tại các
Điều 29, 33, 66 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Do vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Lê Minh C và bà Nguyễn
Thị C1; xác định bà N và ông Q, mỗi người có quyền sở hữu, sử dụng ½ giá trị
khối tài sản chung nêu trên.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây
Ninh tại phiên họp là có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Về lệ phí: Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Lê Minh C và bà Nguyễn Thị
C1 phải chịu 300.000 đồng lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm n khoản 2 Điều
39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày
27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; các Điều 29, 33, 66 Luật Hôn nhân
và Gia đình 2014; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của người được thi hành án ông Lê Minh C và bà
Nguyễn Thị C1, về việc “Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài
sản, phân chia tài sản chung để thi hành án”.
Xác định quyền sử dụng đất tại các thửa số 38, 155, tờ bản đồ số 33, tại xã
C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ CS03766,
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 19/8/2020 là tài sản chung của
ông Tống Văn Q và bà Phạm Thị N. Trong đó phần sở hữu, sử dụng của bà
Phạm Thị N là 1/2 (chiếm 50%) trong khối tài sản này để thi hành án theo quy
định pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Minh C và bà Nguyễn
Thị C1 phải chịu 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng).
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng
cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời
hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.
4. Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
5
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
VKSND KV.11 - TN;
- THADS tỉnh Tây Ninh; (ĐÃ KÝ)
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ việc dân sự;
- Lưu tập QĐ.
Phan Thị Phương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng