Quyết định số 04/2025/QĐST-DS ngày 17/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Quyết định số 04/2025/QĐST-DS
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Quyết định số 04/2025/QĐST-DS
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Quyết định 04/2025/QĐST-DS
| Tên Quyết định: | Quyết định số 04/2025/QĐST-DS ngày 17/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang |
| Số hiệu: | 04/2025/QĐST-DS |
| Loại văn bản: | Quyết định |
| Ngày ban hành: | 17/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Người yêu cầu anh Vần Mí S yêu cầu tuyên chị S Thị D mất tích |
Tóm tắt Quyết định
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 04/2025/QĐST-DS
Tuyên Quang, ngày 17 tháng 9 năm 2025
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Hoàng Thị Vân.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hồng - Thư ký viên Tòa án nhân dân
khu vực 8 - Tuyên Quang.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang tham gia
phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang mở
phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2024/TLST-DS
ngày 24/4/2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định
mở phiên họp số 05/2025/QĐST-DS ngày 03/9/2025.
Người yêu cầu: Anh Vần Mí S, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn M, xã S1,
huyện Đ, tỉnh H (nay là thôn M, xã Sà Phìn, tỉnh Tuyên Quang). Người đại diện
theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ 15 phường N,
thành phố H, tỉnh H (nay là phường H 1, tỉnh T). Có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người yêu cầu: Bà Nguyễn
Thị H1, sinh năm 1985; Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý
Nhà nước tỉnh H (nay là Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2 tỉnh T). Có
mặt
Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Chị S Thị D, sinh năm: 1984; Nơi cư
trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn M, xã S1, huyện Đ, tỉnh H (nay là thôn
M, xã Sà Phìn, tỉnh T).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp người yêu cầu,
người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu trình bày: Anh Vần Mí S là em
họ của anh Vần Sính S (sinh năm 1980). Năm 2002 anh Vần Sính S chung sống
như vợ chồng với chị chị S Thị D (sinh năm 1984) cùng trú tại Thôn M, xã S1,
huyện Đ, tỉnh H. Quá trình chung sống anh Vần Sính S và chị chị S Thị D có 02
con chung là cháu Vần Thị C (sinh ngày 16/1/2008) và cháu Vần Mí D (sinh
ngày 28/5/2012). Tháng 3 năm 2018 chị S Thị D đã bỏ nhà đi không rõ tung
2
tích, đến tháng 6 năm 2021 anh trai họ của anh Vần Mí S là Vần Sính S mắc
bệnh chết và bỏ lại hai cháu là Vần Thị C (sinh ngày 16/1/2008) và cháu Vần Mí
D (sinh ngày 28/5/2012) hiện đang sinh sống với anh Vần Mí S. Do anh Vần
Sính S không còn người thân (Bố, mẹ, anh chị em ruột đều đã chết) nên anh Vần
Mí S là người giám hộ của các cháu Vần Thị C, Vần Mí D. Sau khi chị D bỏ đi
anh Vần Mí S và gia đình đã báo chính quyền địa phương để tìm kiếm nhưng
vẫn không có tin tức gì, hiện nay không biết chị S Thị D đã đi đâu, còn sống hay
đã chết, sau khi bỏ đi chị S Thị D không liên lạc về với gia đình. Để đảm bảo
quyền lợi cho hai cháu trong việc hưởng chính sách bảo trợ xã hội mồ côi, anh
Vần Mí S làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị S Thị D mất tích.
Tại phiên họp, người yêu cầu và người đại diện theo ủy quyền của người
yêu cầu giữ nguyên quan điểm về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị S Thị D mất
tích.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang tham
gia phiên họp: Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ việc cho đến khi mở phiên họp và tại
phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự; đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình,
hợp tác tốt với Tòa án. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên
Quang đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự về tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng không thấy chị Lầu
Thị Máy quay về địa phương. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang
đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang áp dụng khoản 3 Điều 27,
điểm b, khoản 2 Điều 39, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm
2025; Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12; Điều 14;
khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Vần Mí S, tuyên bố
chị S Thị D mất tích. Về lệ phí, anh Vần Mí S là người dân tộc thiểu số, sinh sống
ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn lệ phí dân sự sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, Cng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được
thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên
họp, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn yêu cầu của anh Vần Mí S về việc yêu cầu Tòa án
tuyên bố chị S Thị D mất tích được Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang
thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27;
điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội.
[2] Về nội dung việc dân sự: Anh họ của anh Vần Mí S là anh Vần Sính S
(sinh năm 1980) chung sống với chị S Thị D (sinh năm 1984) cùng trú tại Thôn
M, xã S1, huyện Đ, tỉnh H từ năm 2002. Anh Vần Sính S và chị S Thị D có 02
3
con chung là cháu Vần Thị C (sinh ngày 16/1/2008) và cháu Vần Mí D (sinh
ngày 28/5/2012). Đến tháng 3 năm 2018 thì chị dâu anh S là S Thị D đã bỏ nhà
đi không rõ tung tích, đến tháng 6 năm 2021 anh trai họ của anh S là Vần Sính S
mắc bệnh chết và bỏ lại hai cháu là Vần Thị C (sinh ngày 16/1/2008) và cháu
Vần Mí D (sinh ngày 28/5/2012) hiện đang sinh sống với anh S. Do anh Vần
Sính S không còn người thân (Bố, mẹ, anh chị em ruột đều đã chết) nên anh Vần
Mí S là người giám hộ của các cháu Vần Thị C, Vần Mí D. Sau khi chị D bỏ đi
anh Vần Mí S và gia đình đã báo chính quyền địa phương để tìm kiếm nhưng
vẫn không có tin tức gì, hiện nay không biết chị S Thị D đã đi đâu, còn sống hay
đã chết, sau khi bỏ đi chị S Thị D không liên lạc về với gia đình. Việc chị S Thị
D biệt tích đã được Công an xã và Uỷ ban nhân dân xã Sà Phìn, tỉnh Tuyên
Quang xác nhận chị S Thị D đi khỏi nơi cư trú từ tháng 3/2018 cho đến nay chị D
không có mặt tại nơi cư trú và không có tin tức gì về chị S Thị D. Để đảm bảo
quyền lợi cho hai cháu trong việc hưởng chính sách bảo trợ xã hội mồ côi, anh
Vần Mí S làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị S Thị D mất tích.
Sau khi thụ lý việc dân sự theo đơn yêu cầu của anh Vần Mí S Tòa án
nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người
bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị S Thị D. Thông báo tìm kiếm chị S Thị
D đã được Đài tiếng nói Việt Nam đã phát tin nhắn tìm chị S Thị D trong 03
ngày liên tiếp, phát vào 19 giờ 25 phút ngày 07 và ngày 08/5/2025; vào hồi 15
giờ 00 đến 16 giờ 00 ngày 19/5/2025. Báo Công lý đăng tin trên 03 số báo liên
tiếp số 39, 40, 41 ra các ngày 14, 16, và ngày 21/5/2025. Đến nay đã hết thời
hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị S Thị D còn sống hay
đã chết. Từ những nhận định trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ
khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của anh
Vần Mí S.
[3] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Vần Mí S là người dân tộc
thiểu số, sinh sống xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có
đơn xin miễn lệ phí nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều
39, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc
Hội; Điều 68 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 12; khoản 5 Điều 16 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của anh Vần Mí S.
1. Tuyên bố chị S Thị D, sinh năm: 1984; Nơi cư trú cuối cùng trước khi
biệt tích: Thôn M, xã S1, huyện Đ, tỉnh H (nay là thôn M, xã Sà Phìn, tỉnh T)
mất tích.
4
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Vần Mí S được miễn lệ phí
dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo
quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; Người bị yêu
cầu tuyên bố mất tích có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày
kể từ ngày quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng
nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng
nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND KV8 - Tuyên Quang;
- Các đương sự;
- UBND xã Sà Phìn, Tuyên Quang;
- TGVPL;
- Lưu hồ sơ VDS, VP.
THẨM PHÁN
Hoàng Thị Vân
5
khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều
387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số
85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; Điều 68 của Bộ luật Dân sự;
điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng