Quyết định 17/2012/QĐ-UBND Vĩnh Phúc quy định về quản lý di tích, di vật, cổ vật

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Tìm từ trong trang
Tải văn bản
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC
--------

Số: 17/2012/QĐ-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Vĩnh Phúc, ngày 05 tháng 7 năm 2012

 

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH, DI VẬT, CỔ VẬT, BẢO VẬT QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

----------

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

 

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND các cấp năm 2003;

Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Di sản Văn hoá năm 2001; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá năm 2009; Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hoá và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá; Nghị định số 01/2012/NĐ-CP ngày 04-01-2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ các quy định có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14-7-2011 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử-văn hoá và danh lam thắng cảnh;

Theo đề nghị của Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tại tờ trình số 393/TTr-SVHTTDL ngày 03 tháng 7 năm 2012,

 

QUYẾT ĐỊNH:

 

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia trên địa bàn tỉnh.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ban hành và thay thế Quyết định số 34/2009/QĐ-UBND ngày 12 tháng 6 năm 2009.

Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Thủ trưởng các sở, ban, ngành; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành, thị; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn; các tổ chức và cá nhân liên quan có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 

 

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH




Phùng Quang Hùng

 

QUY ĐỊNH

QUẢN LÝ DI TÍCH, DI VẬT, CỔ VẬT, BẢO VẬT QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
(Ban hành kèm theo Quyết định số 17/2012/QĐ-UBND Ngày 05 tháng 7 năm 2012 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc)

 

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy định này quy định về quản lý di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là di tích), di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; trách nhiệm, mối quan hệ phối hợp của các cấp, các ngành trong quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Cơ quan nhà nước, tổ chức, công dân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài có liên quan đến các hoạt động quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

Điều 3. Di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong bản quy định này gồm

1. Di tích lịch sử-văn hoá, danh lam thắng cảnh được quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Di sản văn hoá ngày 29/6/2001 và khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá ngày 18/6/2009.

2. Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được quy định tại khoản 5, 6, 7 Điều 4 Luật Di sản văn hoá ngày 29/6/2001.

Điều 4. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Các hình thức mở rộng, mua, bán, hiến tặng đất đai di tích trái pháp luật; xây dựng, sửa chữa di tích khi chưa được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Tự ý thay đổi, sửa chữa, bổ sung đồ thờ trong di tích.

3. Các hành vi: đặt nhiều hòm công đức, đặt nhiều ban thờ mới, cài tiền lên tay tượng, đặt ra các khoản phí, lệ phí trái phép tại di tích.

4. Các hoạt động có tính chất mê tín dị đoan diễn ra tại di tích: Đốt nhiều đồ mã, đốt hình nhân thế mạng, dùng các hình thức ma thuật để chữa bệnh, lên đồng phán truyền, gọi hồn, bói toán.

5. Cư trú bất hợp pháp tại di tích của người không tu hành hoặc người tu hành không đăng ký với chính quyền địa phương và không được các cơ quan có thẩm quyền cho phép.

6. Tự ý lập sự tích, xuyên tạc lịch sử làm tổn hại đến truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, có tác động xấu đến nhân dân, gây tác hại đến an ninh trật tự của địa phương và của quốc gia.

7. Tự ý thay đổi, bổ sung về nội dung, địa điểm, thời gian, chương trình lễ hội đã được duyệt.

8. Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luật.

Chương II

QUẢN LÝ DI TÍCH

 

Mục 1. XẾP HẠNG DI TÍCH

Điều 5. Tiêu chí xếp hạng di tích

1. Là các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học được quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Di sản văn hoá ngày 29/6/2001 và khoản 9, 10 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá ngày 18/6/2009;

2. Có quỹ đất hợp pháp, không có tranh chấp;

3. Được sự đồng thuận của chính quyền và nhân dân địa phương, dòng họ (đối với nhà thờ họ) về đề nghị xếp hạng di tích.

Điều 6: Lập hồ sơ khoa học để đề nghị xếp hạng di tích

1. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích.

2. Hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

3. Thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích thực hiện theo khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày 18/6/2009.

Điều 7. Tổ chức trao bằng xếp hạng di tích

1. Phân cấp trao bằng xếp hạng di tích

a) Đối với bằng di tích quốc gia đặc biệt: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Đối với bằng di tích quốc gia: Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

c) Đối với bằng di tích cấp tỉnh: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, thành, thị xã.

2. Uỷ ban nhân dân cấp xã có di tích được xếp hạng chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình lễ trao bằng xếp hạng di tích báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện.

Mục 2. QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ DI TÍCH

Điều 8. Phân cấp quản lý di tích

1. Uỷ ban nhân dân tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn tỉnh.

2. Uỷ ban nhân dân tỉnh phân cấp cho các Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã chịu trách nhiệm về quản lý, bảo vệ và khai thác di tích trên địa bàn.

3. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn là cấp quản lý trực tiếp di tích có trách nhiệm thành lập và quy định nội quy, quy chế hoạt động của ban quản lý di tích cấp xã, tiểu ban quản lý di tích tại địa phương.

Điều 9. Các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích

1. Các di tích đã được xếp hạng hoặc chưa xếp hạng nhưng đã được đưa vào danh mục kiểm kê của tỉnh phải được bảo vệ nguyên trạng. Khi di tích xuống cấp hoặc bị xâm hại, UBND xã, phường, thị trấn quản lý trực tiếp phải có phương án bảo vệ kịp thời và báo cáo cơ quan chức năng cùng phối hợp bảo vệ, tu bổ.

2. Các tổ chức, cá nhân khi phát hiện di tích xuống cấp hoặc hư hại phải báo cáo ngay cho chính quyền địa phương nơi có di tích, để có biện pháp xử lý kịp thời.

3. Ban quản lý di tích cấp xã có trách nhiệm:

a) Cử người trực tiếp trông coi, quản lý di tích;

b) Kiểm tra di tích và kiểm kê đồ thờ trong di tích theo định kỳ hàng quý, năm, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã về hiện trạng di tích và đồ thờ trong di tích.

c) Thường xuyên tuần tra, canh gác, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm di tích;

d) Trong trường hợp khẩn cấp như hỏa hoạn, thiên tai, di tích sập đổ…phải phối hợp với tiểu ban quản lý di tích, người trực tiếp trông coi di tích có biện pháp ứng phó, giảm thiểu hư hại cho di tích, báo cáo kịp thời với UBND cấp xã.

4. Tiểu ban quản lý di tích, người trực tiếp trông coi di tích hoặc các chức sắc tôn giáo và nhà tu hành (đối với các di tích có chức sắc tôn giáo và nhà tu hành trụ trì) có trách nhiệm:

a) Trực tiếp bảo quản di tích và các hiện vật trong di tích;

b) Không được tự ý làm thay đổi hiện trạng di tích.

c) Khi phát hiện di tích và hiện vật trong di tích có dấu hiệu xuống cấp hoặc mất hiện vật phải kịp thời báo cáo Ban quản lý di tích và Ủy ban nhân dân cấp xã;

d) Trong trường hợp khẩn cấp (hỏa hoạn, thiên tai, di tích sập đổ…), phải báo cáo ngay với chính quyền địa phương để huy động các lực lượng ứng phó, có biện pháp thích hợp để giảm thiểu hư hại cho di tích.

Điều 10. Tổ chức lễ hội tại di tích

1. Việc tổ chức lễ hội tại di tích phải tuân thủ theo Điều 22 Luật Di sản văn hóa ngày 29/6/2001; Khoản 7, Điều 1 Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ngày 18/6/2009; Quy chế tổ chức lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 23/8/2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin và các quy định của pháp luật hiện hành; phải phù hợp với tính chất, đặc điểm lịch sử của di tích, phù hợp với thuần phong mỹ tục và tình hình kinh tế - xã hội của địa phương. Nội dung hoạt động lễ hội và các dịch vụ có liên quan phải được cơ quan trực tiếp quản lý di tích phê duyệt.

2. Đối với những lễ hội được tổ chức thường xuyên, liên tục, định kỳ; lễ hội lịch sử cách mạng tiêu biểu có ý nghĩa giáo dục truyền thống tại di tích phải báo cáo bằng văn bản với cơ quan nhà nước về thời gian, địa điểm, nội dung, kịch bản (nếu có) và danh sách Ban Tổ chức lễ hội trước thời gian tổ chức lễ hội 20 ngày. Việc báo cáo được thực hiện như sau:

a. Lễ hội do cấp thôn tổ chức báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp xã.

b. Lễ hội do cấp xã tổ chức báo cáo Phòng Văn hoá và Thông tin, Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

c. Lễ hội do cấp huyện tổ chức báo cáo Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

d. Lễ hội do cấp tỉnh tổ chức báo cáo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

3. Đối với những lễ hội được tổ chức lần đầu; lễ hội lần đầu được khôi phục lại sau nhiều năm gián đoạn; lễ hội đã được tổ chức định kỳ nhưng có thay đổi nội dung, thời gian, địa điểm so với truyền thống; lễ hội kéo dài quá 3 ngày; lễ hội tôn giáo vượt ra ngoài khuôn viên di tích là cơ sở tôn giáo; lễ hội tôn giáo ở trong khuôn viên di tích là cơ sở tôn giáo nhưng chưa đăng ký tổ chức hàng năm theo quy định khi tổ chức phải lập hồ sơ đề nghị UBND tỉnh xét duyệt, cho phép.

Hồ sơ xin phép tổ chức lễ hội và việc thẩm định, cho phép tổ chức lễ hội thực hiện theo Điều 6 Quy chế tổ chức lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 23/8/2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin.

4. Đối với các lễ hội tôn giáo được tổ chức hàng năm tại các di tích là cơ sở tôn giáo như: Vu Lan, Phật đản, Nô-en, Phục sinh...,ngoài việc thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều này phải thực hiện theo quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18/6/2004 và Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ.

5. Các lễ hội đã được phê duyệt nội dung, kịch bản, ban tổ chức lễ hội thực hiện theo đúng nội dung, kịch bản đã được phê duyệt.

Điều 11. Các hoạt động khai thác, sử dụng, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về di tích

1. Các hoạt động nghiên cứu khoa học, biểu diễn nghệ thuật, cắm trại, dịch vụ du lịch tại di tích... phải thực hiện theo sự hướng dẫn và giám sát của cấp chính quyền quản lý trực tiếp di tích.

2. Các tổ chức, cá nhân là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc tổ chức hợp tác khoa học đa quốc gia có nhu cầu nghiên cứu khoa học tại các di tích trên địa bàn tỉnh phải đăng ký với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Sở Ngoại vụ, Sở Nội vụ báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh bằng văn bản.

Trường hợp tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo là người nước ngoài đến Vĩnh Phúc để tiến hành các hoạt động có liên quan đến tôn giáo tại các di tích là cơ sở tôn giáo trên địa bàn tỉnh phải có sự chấp thuận bằng văn bản của Ban Tôn giáo Chính phủ.

Điều 12. Sử dụng và quản lý các nguồn thu từ di tích.

1. Các nguồn thu từ di tích bao gồm: tiền bán vé tham quan di tích (nếu có), tiền thu qua công đức (gồm: hòm công đức, ghi phiếu công đức), tiền đặt trên các ban thờ…đối với các di tích là đình, đền, miếu, chùa (nơi chưa có nhà sư trụ trì) do Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý di tích cấp xã trực tiếp quản lý và sử dụng vào việc bảo vệ, tu bổ và phát huy giá trị di tích.

2. Đối với các di tích: nhà thờ, nhà chùa đã có ban hành giáo hoặc nhà sư trụ trì, những nguồn thu: tiền nhân dân cúng cho chức sắc tôn giáo, nhà tu hành được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng và tôn giáo. Các nguồn thu khác: hòm công đức, ghi phiếu công đức, tiền đặt trên các ban thờ…do ban quản lý di tích cấp xã và chức sắc tôn giáo quản lý và sử dụng vào việc tu bổ, tôn tạo di tích.

3. Việc quản lý, sử dụng các nguồn thu nêu trên phải được công khai, minh bạch và được sự giám sát, kiểm tra của chính quyền cấp quản lý trực tiếp di tích.

Điều 13. Tiếp nhận, bổ sung đồ thờ mới vào di tích

Việc tiếp nhận, bổ sung đồ thờ mới vào di tích phải đảm bảo:

a) Được sự đồng thuận của nhân dân nơi có di tích, được sự đồng ý và hướng dẫn cụ thể của chính quyền địa phương.

b) Đồ thờ được bổ sung phải có giá trị thẩm mỹ; kích thước, kiểu dáng, màu sắc phù hợp với không gian kiến trúc và nội thất của di tích.

2. Việc bổ sung hoặc tiếp nhận các đồ thờ mới vào di tích phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa. Cụ thể:

a) Đối với di tích chưa xếp hạng: Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, thành phố, thị xã.

b) Đối với di tích cấp tỉnh, di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Điều 14. Quản lý đất di tích:

1. Các di tích đã xếp hạng phải được tổ chức cắm mốc giới khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích. Việc cắm mốc giới các khu vực bảo vệ di tích thực hiện theo điều 14 Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa.

2. Đối với các di tích đã bị đổ nát, chỉ còn là phế tích, còn địa điểm mặt bằng nhưng đã giao quyền sử dụng đất cho chủ khác, không còn các dấu tích vật chất như: ngọc phả, sắc phong, tượng pháp, bia ký…thì không được xây dựng lại.

3. Đối với các di tích đã bị đổ nát, chỉ còn là phế tích nhưng chưa giao quyền sử dụng đất cho chủ khác và còn các dấu tích vật chất như: ngọc phả, sắc phong, tượng pháp, bia ký…nếu nhân dân có nguyện vọng khôi phục, xây dựng mới, Ủy ban nhân dân cấp xã phải xem xét, nghiên cứu kỹ những điều kiện của việc xây dựng lại để báo cáo Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã xem xét và đề nghị các Sở: Nội vụ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường thẩm định, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.

4. Đối với đất di tích đã chuyển mục đích sử dụng làm các công trình công cộng, khu công nghiệp, khu liên doanh với nước ngoài, công trình an ninh quốc phòng và các công trình khác của nhà nước thì không trả lại đất để làm nơi thờ tự.

5. Những nơi di dân tái định cư đến nơi ở mới nhưng chưa có nơi thờ tự, nếu nhân dân có nhu cầu xây dựng mới nơi thờ tự, Ủy ban nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét cụ thể về nhu cầu, số lượng tín đồ, quy mô xây dựng, kinh phí xây dựng…nếu có đủ điều kiện, Ủy ban nhân dân cấp huyện báo cáo sở, ngành liên quan để trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.

Địa điểm xây dựng nơi thờ tự phải tuân theo quy hoạch sử dụng đất của địa phương.

Mục 3. TU BỔ VÀ PHỤC HỒI DI TÍCH

Điều 15. Nguyên tắc tu bổ, phục hồi di tích

1. Việc tu bổ và phục hồi di tích phải tuân thủ Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh ban hành kèm theo Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT ngày 06/02/2003 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin.

2. Tổ chức, cá nhân lập dự án, thiết kế kỹ thuật, thi công tu bổ, phục hồi di tích phải có đủ điều kiện về năng lực, chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Nhà nước.

3. Sửa chữa, tôn tạo, thay đổi, bổ sung hiện vật không được làm ảnh hưởng yếu tố gốc cấu thành di tích và cảnh quan môi trường, không gian văn hóa và yếu tố mỹ quan của di tích.

Điều 16. Tu bổ, phục hồi di tích

1. Các hoạt động tu bổ thường xuyên, không ảnh hưởng đến kết cấu kiến trúc của di tích như: đảo ngói, thay hoành, dui, lát nền...Uỷ ban nhân dân cấp xã trực tiếp chỉ đạo việc tu bổ và báo cáo kết quả tu bổ với Phòng Văn hoá và Thông tin cấp huyện.

2. Các hoạt động tu bổ ảnh hưởng đến kiến trúc của di tích, phục hồi di tích, tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc được giao quản lý di tích phải xin phép và lập thành dự án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Hồ sơ đề nghị tu bổ, phục hồi di tích có 01 bộ (đối với di tích chưa xếp hạng), 02 bộ (đối với di tích cấp tỉnh), 03 bộ (đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt); thành phần hồ sơ gồm:

a) Ảnh chụp hiện trạng di tích

b) Bản vẽ kỹ thuật hiện trạng di tích

c) Bản vẽ kỹ thuật phương án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

d) Bản thuyết minh giải pháp bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

đ) Tổng dự toán

e) Văn bản của tổ chức, cá nhân đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt hoặc đề nghị Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thẩm định về chuyên ngành (đối với di tích cấp tỉnh)

g) Văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của tổ chức, cá nhân đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thẩm định hoặc phê duyệt (đối với di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt) kèm theo văn bản đề nghị của Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

3. Trình tự thẩm định hồ sơ đề nghị tu bổ, phục hồi di tích:

a) Đối với di tích chưa xếp hạng: Phòng Văn hoá và Thông tin cấp huyện tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

b) Đối với di tích cấp tỉnh: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tiếp nhận hồ sơ, thẩm định về chuyên ngành, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt trong thời hạn 30 ngày.

c) Đối với di tích cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tiếp nhận hồ sơ, thẩm định về chuyên ngành, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cho phép. Việc tu bổ, phục hồi chỉ được tiến hành sau khi có văn bản thoả thuận của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và phê duyệt của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Điều 17. Tu sửa cấp thiết di tích

1. Việc tu sửa cấp thiết di tích chỉ được tiến hành khi di tích có nguy cơ bị hủy hoại do tác động của môi trường thiên nhiên, của con người nhằm chống đỡ, gia cố, gia cường các bộ phận của di tích để kịp thời ngăn chặn di tích khỏi bị sập đổ trước khi tiến hành công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi.

2. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm lập báo cáo tu sửa cấp thiết đối với di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, di tích xếp hạng cấp tỉnh, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

Phòng Văn hoá và Thông tin cấp huyện lập báo cáo tu sửa cấp thiết đối với di tích chưa xếp hạng trình Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt.

a) Báo cáo tu sửa cấp thiết di tích có các nội dung sau đây :

- Tài liệu viết bao gồm: Đánh giá hiện trạng kỹ thuật kiến trúc, đề xuất công việc và biện pháp cần phải tiến hành tu sửa cấp thiết, kiến nghị.

- Ảnh chụp hiện trạng bao gồm: Ảnh chụp vị trí hiện trạng công trình bị xuống cấp; ảnh chụp chi tiết thành phần cần tu sửa cấp thiết.

- Bản vẽ kiến trúc bao gồm: Bản vẽ vị trí, bản vẽ hiện trạng, bản vẽ phương án tu sửa cấp thiết

b) Việc tu sửa cấp thiết di tích chỉ được tiến hành sau khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Điều 18. Xây dựng mới các công trình phụ trợ trong khu vực bảo vệ II của di tích cấp tỉnh, di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt

1. Việc xây dựng mới các công trình phụ trợ trong khu vực bảo vệ II của di tích xếp hạng cấp tỉnh, di tích xếp hạng quốc gia, di tích xếp hạng Quốc gia đặc biệt phải lập quy hoạch tổng thể và hồ sơ thiết kế trình Sở Văn hoá thể thao và Du lịch thẩm định về chuyên ngành.

2. Hồ sơ đề nghị thẩm định xây dựng mới các công trình phụ trợ trong khu vực bảo vệ II của di tích có 02 bộ (đối với di tích cấp tỉnh), 03 bộ (đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt), thành phần hồ sơ gồm:

a) Quy hoạch tổng thể mặt bằng;

b) Bản vẽ thiết kế, dự toán;

c) Văn bản đề nghị của Uỷ ban nhân dân cấp xã;

d) Văn bản đề nghị của Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

đ) Các tài liệu liên quan khác.

3. Trình tự thẩm định và phê duyệt hồ sơ:

Trong thời hạn 20 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm thẩm định về chuyên ngành, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt (đối với di tích cấp tỉnh), trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt).

Điều 19. Kinh phí tu bổ, phục hồi di tích

1. Kinh phí tu bổ, phục hồi di tích do các tín đồ, nhân dân tự nguyện cung tiến hoặc đóng góp. Các Ban quản lí di tích hoặc chức sắc, nhà tu hành trụ trì không được phân bổ, ép buộc làm ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của nhân dân. Không tổ chức việc đi quyên góp đến các cơ quan, đơn vị, trường học… hoặc chặn đường đặt các hòm công đức.

2. Các di tích đã xếp hạng bao gồm: Di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh, các di tích chưa xếp hạng nhưng nằm trong quy hoạch phát triển văn hóa - du lịch của tỉnh đã được Ủy ban nhân dân tỉnh giao đất và phê duyệt dự án, được xem xét để hỗ trợ kinh phí tu bổ, phục hồi di tích.

3. Hạng mục được xem xét hỗ trợ kinh phí:

a) Xây dựng hạ tầng cơ sở (đường giao thông, điện, nước...)

b) Tu bổ, phục hồi các công trình kiến trúc chính của di tích

4. Nguồn vốn hỗ trợ

a) Vốn Chương trình mục tiêu quốc gia do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch hỗ trợ theo dự án đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chấp thuận ghi vốn.

b) Ngân sách của tỉnh đối với những chương trình, dự án đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

c) Vốn sự nghiệp của tỉnh giao cho ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch hàng năm.

d) Các nguồn vốn khác đã được phân cấp đầu tư cho ngân sách các địa phương.

5. Cơ chế hỗ trợ theo quy định hiện hành của nhà nước.

Chương III

QUẢN LÝ DI VẬT, CỔ VẬT, BẢO VẬT QUỐC GIA

 

Điều 20. Thông báo, giao nộp, thu nhận di vật, cổ vật bảo vật quốc gia

1.Tổ chức, cá nhân phát hiện di vật, cổ vật có trách nhiệm thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; công an xã, phường, thị trấn nơi phát hiện di vật, cổ vật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa để thu nhận, quản lý theo quy định tại khoản 20, Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 và Điều 18, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ.

2. Việc thu nhận di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo quy định tại khoản 1 Điều này được lập thành biên bản, có sự chứng kiến của tổ chức, cá nhân liên quan. Nội dung biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, đặc điểm của di vật, cổ vật tại thời điểm thu nhận.

3. Khi tịch thu được di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do tìm kiếm, mua bán, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu trái phép, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải báo cáo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo quy định tại Điều 45, Luật Di sản văn hóa năm 2001.

Điều 21. Đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

1. Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc đang quản lý hợp pháp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia không thuộc bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành, bảo tàng tỉnh, nhà truyền thống hoặc di tích thực hiện việc đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo quy định tại khoản 2, 3, 4, mục II, mục III, Thông tư số 07/2004/TT-BVHTT ngày 19 tháng 02 năm 2004 của Bộ Văn hóa Thông tin và khoản 1, mục I, Điều 2, Thông tư số 07/2011/TT-BVHTTDL ngày 07 tháng 6 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

2. Khuyến khích chủ sở hữu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia gửi các sưu tập di vật, cổ vật vào Bảo tàng tỉnh để bảo vệ và phát huy giá trị trong trường hợp chủ sở hữu không có đủ điều kiện và khả năng bảo vệ, tổ chức trưng bày, giới thiệu phục vụ công chúng.

Điều 22. Công nhận bảo vật quốc gia

1. Hiện vật là di vật, cổ vật được lập hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia là hiện vật đáp ứng các tiêu chí quy định tại khoản 21 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày 18/6/2009 và đã được đăng ký theo quy định tại khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày 18/6/2009.

2. Trình tự, thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia thực hiện theo quy định tại Thông tư số 13/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định trình tự, thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia.

Điều 23. Mua bán, trao đổi, tặng cho, để thừa kế di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

1. Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia không thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được mua bán, trao đổi, tặng cho và để thừa kế

2. Hoạt động mua bán, trao đổi, tặng cho và để thừa kế di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia phải thực hiện theo quy định tại Điều 43, Luật Di sản văn hóa ngày 29/6/2001 và Điều 24, 25, 26, 27 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ và các quy định pháp luật có liên quan.

Điều 24. Làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

1. Tổ chức, cá nhân khi làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh, bảo tàng cấp tỉnh và sở hữu tư nhân phải được Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp giấy phép.

2. Điều kiện cấp giấy phép làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

a) Có mục đích rõ ràng;

b) Có bản gốc để đối chiếu;

c) Có dấu hiệu riêng để phân biệt bản sao với bản gốc;

d) Có sự đồng ý của chủ sở hữu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

3. Thời hạn cấp giấy phép: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép theo quy định, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm cấp giấy phép làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Trường hợp không đủ điều kiện để cấp giấy phép, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do gửi tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép.

Điều 25. Đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trưng bày, triển lãm ngoài di tích, bảo tàng tỉnh, bảo tàng tư nhân, nhà truyền thống trong lãnh thổ Việt Nam

1. Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định việc đưa đi trưng bày, triển lãm đối với di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng tỉnh, nhà truyền thống theo đề nghị bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

2. Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định việc đưa đi trưng bày, triển lãm đối với di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích theo đề nghị bằng văn bản của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.

3. Người đứng đầu bảo tàng tư nhân, chủ sở hữu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia khi đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trưng bày, triển lãm có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

4. Khuyến khích các chủ sở hữu tư nhân đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trưng bày, triển lãm tại bảo tàng tỉnh.

Điều 26. Đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản

1. Đối với di vật, cổ vật

a) Di vật, cổ vật thuộc bảo tàng tỉnh do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phép theo đề nghị bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

b) Di vật, cổ vật thuộc sở hữu tư nhân do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phép theo đề nghị bằng văn bản của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên cơ sở đơn xin phép của chủ sở hữu di vật, cổ vật đó.

2. Đối với bảo vật quốc gia

Bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng tỉnh, sở hữu tư nhân do Thủ tướng Chính phủ cho phép theo đề nghị bằng văn bản của Chủ tịch UBND cấp tỉnh sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Điều 27. Quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích

1. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm chỉ đạo Ban quản lý di tích cấp xã thực hiện nhiệm vụ:

a) Lập hồ sơ di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích;

Hồ sơ di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia gồm: Sổ danh mục và ảnh chụp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; được lập thành 03 bộ. Một bộ do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, một bộ do Ban quản lý di tích cấp xã quản lý, một bộ do người trực tiếp trông coi di tích quản lý;

b) Kiểm kê theo định kỳ hàng quý, hàng năm di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong di tích, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã về thực trạng di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và hoạt động quản lý, bảo vệ di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;

c) Khi phát hiện di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có dấu hiệu hư hỏng (nấm mốc, mối mọt, bong sơn, gãy, vỡ…) phải kịp thời, chủ động báo cáo, đề xuất phương án sửa chữa để Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

d) Trong trường hợp khẩn cấp như hỏa hoạn, thiên tai, di tích sập đổ hoặc nơi đặt di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia không đảm bảo an toàn, dễ xảy ra mất cắp phải kịp thời tổ chức di chuyển di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia đến địa điểm an toàn để bảo quản và báo cáo ngay Ủy ban nhân dân cấp xã về việc di chuyển.

đ) Trường hợp tổ chức, cá nhân sở hữu di vật, cổ vật quốc gia cung tiến, công đức di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia vào di tích, ban quản lý di tích cấp xã báo cáo UBND cấp xã trình Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cho phép tiếp nhận.  

2. Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch quyết định việc sửa chữa, bổ sung di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong di tích theo đề nghị bằng văn bản của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.

Điều 28. Quản lý di vật, cổ vật trong di tích khảo cổ

Trường hợp phát hiện di vật, cổ vật trong các di tích khảo cổ, Ủy ban nhân dân cấp xã phải khoanh vùng khu vực cần bảo vệ, tổ chức lực lượng bảo vệ, kịp thời ngăn chặn các hành vi xâm phạm di tích khảo cổ và báo cáo Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức thu nhận, bảo quản theo quy định của pháp luật.

Điều 29. Quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc Bảo tàng tỉnh, nhà truyền thống

Việc quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc Bảo tàng tỉnh, nhà truyền thống được thực hiện theo Quy chế kiểm kê hiện vật bảo tàng ban hành kèm theo Quyết định số 70/2006/QĐ-BVHTT ngày 15 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin.

Chương IV

TRÁCH NHIỆM VÀ MỐI QUAN HỆ PHỐI HỢP CỦA CÁC NGÀNH, CÁC CẤP

 

Điều 30. Trách nhiệm của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

1. Giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chính sách về bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; đề xuất nguồn kinh phí sử dụng cho hoạt động này hàng năm.

2. Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, đoàn thể và địa phương thực hiện tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

3. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức và những người làm công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

4. Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành luật Di sản văn hóa và các quy định của nhà nước có liên quan; xử lý hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm theo quy định.

5. Thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan đến di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

Điều 31. Trách nhiệm của Sở Kế hoạch và Đầu tư

1. Phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thẩm định các dự án về xây dựng, cải tạo các công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích mà có khả năng ảnh hưởng xấu tới di tích hoặc các công trình cải tạo, xây dựng trong quá trình xây dựng mà phát hiện có di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

2. Tổng hợp và cân đối nguồn vốn đầu tư hàng năm cho các dự án được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

Điều 32. Trách nhiệm của Sở Tài chính

1. Căn cứ khả năng ngân sách tỉnh và quy định về quản lý tài chính hiện hành đảm bảo kinh phí phục vụ cho hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh

2. Kiểm kê việc cấp phát, quản lý và sử dụng kinh phí quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích theo quy định của pháp luật.

Điều 33. Trách nhiệm của Công an tỉnh

1. Đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự trong các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

2. Phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã và các sở, ngành có liên quan ngăn chặn, xử lý vi phạm về bảo tồn và phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo quy định của pháp luật.

Điều 34. Trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo

Chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức giáo dục về bảo vệ và phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; đưa việc tham quan, học tập, nghiên cứu di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia vào chương trình giảng dạy ngoại khóa hàng năm của các cấp học, trường học.

Điều 35. Trách nhiệm của Sở Tài nguyên và Môi trường

1. Phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Uỷ ban nhân dân cấp huyện quy hoạch quỹ đất di tích, cắm mốc giới bảo vệ di tích, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất di tích theo quy định của pháp luật.

2. Phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và triển khai các dự án bảo vệ môi trường di tích; thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất di tích theo thẩm quyền.

Điều 36. Trách nhiệm của Sở Nội vụ

Phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương kiểm tra, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo tại di tích theo quy định của pháp luật; tham gia quản lý các di tích có liên quan đến tôn giáo.

Điều 37. Trách nhiệm của Sở Xây dựng

1. Phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các Sở, ngành liên quan xây dựng quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

Cấp giấy phép xây dựng các công trình thuộc di tích theo quy định.

Điều 38. Trách nhiệm của các sở, ban, ngành liên quan

Các sở, ban, ngành liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, có trách nhiệm phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các quy định của Luật Di sản văn hóa đối với các vấn đề thuộc phạm vi quản lý nhà nước của sở, ngành mình.

Điều 39. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp huyện

1. Uỷ ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm quản lý, xây dựng và tổ chức thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong địa bàn quản lý.

2. Thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm về di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo thẩm quyền.

Điều 40. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã

1. Thành lập Ban Quản lý di tích cấp xã, tiểu ban quản lý di tích để quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia tại địa phương.

2. Thu nhận và bảo vệ di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được phát hiện trên địa bàn, báo cáo cơ quan có thẩm quyền về văn hoá, thể thao, du lịch.

3. Phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời mọi hành vi làm ảnh hưởng đến di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

4. Kiến nghị việc xếp hạng di tích.

5. Thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm theo thẩm quyền.

Điều 41. Trách nhiệm của các cá nhân liên quan

Cá nhân là công dân có quốc tịch Việt Nam hoặc người nước ngoài sinh sống và làm việc trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có trách nhiệm trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo quy định của pháp luật và Quy định này.

Chương V

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

 

Điều 42. Khen thưởng

Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia theo Luật Di sản văn hóa và quy định này thì được khen thưởng theo quy định tại Luật Thi đua Khen thưởng và Điều 33, 34 Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 09 năm 2010 của Chính phủ.

Điều 43. Xử lý vi phạm

1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia thì sẽ bị xử lý theo quy định tại Điều 34, 35, 36 Nghị định 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Đối với những tổ chức, cá nhân được giao quản lý mà vi phạm trong công tác tu bổ, phục hồi di tích và quản lý di vật, cổ vật, ngoài việc bị xử lý theo các qui định tại khoản 1 điều này, tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch sẽ xử phạt hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử phạt bằng các hình thức như:

a) Thu hồi bằng xếp hạng di tích đối với những di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh, cấp Quốc gia, cấp Quốc gia đặc biệt.

b) Không đưa vào danh sách di tích xếp hạng hàng năm đối với những di tích chưa được xếp hạng.

c) Không hỗ trợ hoặc thu hồi kinh phí của Chương trình mục tiêu Quốc gia về chống xuống cấp di tích đối với các di tích xếp hạng Quốc gia.

d) Không hỗ trợ kinh phí để tu bổ, tôn tạo di tích.

đ) Không hỗ trợ hoặc thu hồi kinh phí hỗ trợ cho người trông coi di tích.

e) Đình chỉ, cho thôi quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia theo qui định hiện hành.

Điều 44. Điều khoản thi hành

1. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Quy định này.

2. Các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và Quy định này. Khi có văn bản quy phạm pháp luật mới của nhà nước ban hành có hiệu lực thay thế các văn bản đã việc dẫn trong quy định này thì thực hiện theo văn bản quuy phạm pháp luật mới.

3. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, các ngành, các cấp kịp thời phản ánh về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tổng hợp, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

4. Các qui định trên đây, khi có các văn bản qui định mới của Nhà nước thì được thực hiện theo qui định mới khi có hiệu lực./.

 

 

thuộc tính Quyết định 17/2012/QĐ-UBND

Quyết định 17/2012/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc ban hành Quy định về quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh
Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh PhúcSố công báo:Đang cập nhật
Số hiệu:17/2012/QĐ-UBNDNgày đăng công báo:Đang cập nhật
Loại văn bản:Quyết địnhNgười ký:Phùng Quang Hùng
Ngày ban hành:05/07/2012Ngày hết hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày hết hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Văn hóa-Thể thao-Du lịch

tải Quyết định 17/2012/QĐ-UBND

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Để được hỗ trợ dịch thuật văn bản này, Quý khách vui lòng nhấp vào nút dưới đây:

*Lưu ý: Chỉ hỗ trợ dịch thuật cho tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao

Tôi muốn dịch văn bản này (Request a translation)

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
văn bản TIẾNG ANH
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đợi