Từ 25/11/2019, tổ chức có thể là thành viên của tổ hợp tác

Nếu như trước đây, theo Nghị định 151/2007/NĐ-CP, thành viên tổ hợp tác chỉ có thể là cá nhân thì từ 25/11/2019, theo Nghị định 77, thành viên tổ hợp tác còn có thể là tổ chức.


Hướng dẫn lập hợp đồng hợp tác
Quy định mới về thành viên tổ hợp tác (Ảnh minh họa)


Đây được coi là điểm mới đáng chú ý của Nghị định 77/2019/NĐ-CP ban hành ngày 10/10/2019 vừa qua. Theo đó, tổ hợp tác là tổ chức không có tư cách pháp nhân, được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác, gồm từ 02 cá nhân, pháp nhân trở lên tự nguyện thành lập, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.

Ngoài ra, hợp đồng hợp tác do các thành viên tổ hợp tác tự thỏa thuận, được lập thành văn bản, có chữ ký của 100% thành viên, đồng thời không được trái với quy định của pháp luật liên quan và đảm bảo một số nội dung cơ bản như:

  • Mục đích, thời hạn hợp tác;
  • Họ, tên, nơi cư trú của cá nhân;
  • Tên, trụ sở của pháp nhân;
  • Tài sản đóng góp (nếu có);
  • Đóng góp bằng sức lao động (nếu có);
  • Phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức;
  • Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp đồng hợp tác;
  • Quyền, nghĩa vụ của người đại diện (nếu có);
  • Điều kiện tham gia và rút khỏi hợp đồng hợp tác của thành viên (nếu có);
  • Điều kiện chấm dứt hợp đồng.

Trong đó:

  • Phần đóng góp của thành viên có thể được xác định bằng tài sản hoặc công sức (hoạt động hay công việc cụ thể) đã đóng góp hoặc cam kết góp.
  • Thời hạn hợp tác là thời gian các thành viên tổ hợp tác thỏa thuận với nhau và ghi trong hợp đồng. Trường hợp các bên không thỏa thuận về thời hạn hợp tác thì thời hạn kết thúc hợp tác là khi chấm dứt hợp đồng (có thể do hết hạn ghi trong hợp đồng hoặc mục đích hợp tác đã đạt được hay theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền…).

Nghị định được ban hành ngày 10/10/2019.

Thùy Linh
1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Nhân viên trường học không đáp ứng vị trí việc làm mới được giải quyết chế độ nghỉ việc

Nhân viên trường học không đáp ứng vị trí việc làm mới được giải quyết chế độ nghỉ việc

Nhân viên trường học không đáp ứng vị trí việc làm mới được giải quyết chế độ nghỉ việc

Nội dung nêu tại Công văn 8617/BNV-TCBC về giải quyết chính sách đối với viên chức lãnh đạo, quản lý và nhân sự hỗ trợ giáo dục tại các cơ sở giáo dục; việc chỉnh lý, quản lý, bàn giao hồ sơ, tài liệu lưu trữ khi sắp xếp cơ sở giáo dục.

Đề xuất: Giáo viên mầm non công tác từ năm 1960 đến trước năm 1995 được hưởng trợ cấp

Đề xuất: Giáo viên mầm non công tác từ năm 1960 đến trước năm 1995 được hưởng trợ cấp

Đề xuất: Giáo viên mầm non công tác từ năm 1960 đến trước năm 1995 được hưởng trợ cấp

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ đề xuất thực hiện chế độ trợ cấp đối với giáo viên mầm non từng công tác trong giai đoạn từ năm 1960 đến trước ngày 01/01/1995 nhưng chưa được hưởng chế độ tương ứng.

Trường học, bệnh viện làm chủ đầu tư dự án sử dụng chi thường xuyên phải đáp ứng điều kiện về năng lực

Trường học, bệnh viện làm chủ đầu tư dự án sử dụng chi thường xuyên phải đáp ứng điều kiện về năng lực

Trường học, bệnh viện làm chủ đầu tư dự án sử dụng chi thường xuyên phải đáp ứng điều kiện về năng lực

Ngày 11/8/2026, Bộ Xây dựng ban hành Công văn 12637/BXD-KTQLXD hướng dẫn một số vướng mắc trong quá trình triển khai các quy định mới về quản lý hoạt động xây dựng.

Từ 10/08/2026, giáo viên trung học nghề dạy chuyên môn nghề thực hiện từ 400 - 510 giờ chuẩn/năm học

Từ 10/08/2026, giáo viên trung học nghề dạy chuyên môn nghề thực hiện từ 400 - 510 giờ chuẩn/năm học

Từ 10/08/2026, giáo viên trung học nghề dạy chuyên môn nghề thực hiện từ 400 - 510 giờ chuẩn/năm học

Đây là một trong những quy định mới đáng chú ý tại Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định về mã số, chuẩn nghề nghiệp, xếp lương và chế độ làm việc đối với giáo viên trung học nghề, có hiệu lực từ ngày 10/8/2026.