Quy định mới của Chính phủ về di sản văn hóa

 

Quy định mới của Chính phủ về di sản văn hóa
(LuatVietnam) Ngày 21/9/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 98/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di dản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa.
Theo đó, di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể. Di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia khi có đủ các điều kiện như: Có tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng, địa phương; Phản ánh sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của cong người, được kế tục qua nhiều thế hệ; Có khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài; Được cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép tiến hành nghiên cứu, sư tầm di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam khi được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp giấy phép theo quy định. 
 
Di tích được phân thành 4 loại là: Di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh. Di tích được kiểm kê theo quy định tại khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn háo và khoản 2 Điều 28 Luật di sản văn hóa. Khi tiến hành các dự án cải tạo, xây dựng công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ của di tích mà có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với di tích cấp tỉnh, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt.
 
Mọi di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ở trong lòng đất thuộc đất liền, hải đảo, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa khi phát hiện hoặc tìm thấy đều thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật về dân sự. Tổ chức, cá nhân giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được khen thưởng và được nhận một khoản tiền thưởng, mức tiền thưởng theo quy định tại Điều 16 Nghị định 96/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009. Việc kinh doanh di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia phải tuân thủ các quy định của pháp luật về di sản văn hóa, pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về thuế và các quy định pháp luật có liên quan. Chủ cửa hàng mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia phải là công dân Việt Nam có địa chỉ thường trú tại Việt nam, có chứng chỉ hành nghề kinh doanh mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, có đầy đủ diện tích và phương tiện để trưng bày di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Nghị định cũng có các quy định về thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; Tổ chức bán đấu giá di vật, cổ vật bảo vật quốc gia; Tổ chức và hoạt động của bảo tàng…
 
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 06/11/2010 và thay thế Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002.
  • LuậtViệtnam 
1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Chào bán, phát hành tài sản mã hóa trái quy định phạt đến 200 triệu đồng từ 01/9/2026

Chào bán, phát hành tài sản mã hóa trái quy định phạt đến 200 triệu đồng từ 01/9/2026

Chào bán, phát hành tài sản mã hóa trái quy định phạt đến 200 triệu đồng từ 01/9/2026

Đây là một trong những hành vi có mức phạt cao nhất tại Nghị định 284/2026/NĐ-CP của Chính phủ, hiệu lực từ 01/9/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa.

Đã có Nghị định 284/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa

Đã có Nghị định 284/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa

Đã có Nghị định 284/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa

Ngày 16/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 284/2026/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa. Đây là văn bản đầu tiên quy định riêng về các hành vi vi phạm, mức xử phạt, thẩm quyền xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực tài sản mã hóa tại Việt Nam.

Hà Nội: Hiệu trưởng chịu trách nhiệm toàn diện về an toàn thực phẩm bữa ăn bán trú hè 2026

Hà Nội: Hiệu trưởng chịu trách nhiệm toàn diện về an toàn thực phẩm bữa ăn bán trú hè 2026

Hà Nội: Hiệu trưởng chịu trách nhiệm toàn diện về an toàn thực phẩm bữa ăn bán trú hè 2026

Ngày 15/7/2026, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hà Nội đã ban hành Công văn 3444/SGDĐT-CTTTHSSV về việc tăng cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm tại các cơ sở giáo dục có tổ chức bữa ăn bán trú.