Phạt đến 20 triệu đối với vi phạm về mã số mã vạch

Phạt đến 20 triệu đối với vi phạm về mã số mã vạch
(LuatVietnam)  Ngày 19/07/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Theo Nghị định này, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực đo lường đối với cá nhân là 100 triệu đồng, đối với tổ chức là 200 triệu đồng; mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, hàng hóa đối với cá nhân là 150 triệu đồng đối với tổ chức là 300 triệu đồng (ngoại trừ một số trường hợp, mức tiền phạt sẽ căn cứ vào số tiền thu lợi bất hợp pháp từ hành vi vi phạm).

Trong đó, về các vi phạm quy định về sử dụng mã số mã vạch hàng hóa, áp dụng mức phạt từ 6 - 10 triệu đồng đối với hành vi sử dụng mã vạch có đầu mã quốc gia Việt Nam chưa được cấp hoặc sử dụng trái phép mã số mã vạch của doanh nghiệp khác đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mã số mã vạch; từ 10 - 20 triệu đồng đối với hành vi sử dụng mã số mã vạch nước ngoài để in trên sản phẩm, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam mà chưa được cho phép...

Về vi phạm chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường, áp dụng mức phạt từ 2 - 80 triệu đồng đối với hành vi gian lận về thời hạn sử dụng của hàng hóa trên nhãn hàng hóa có giá trị từ 5 - 100 triệu đồng; phạt tiền từ 1 - 2 lần tổng giá trị sản phẩm, hàng hóa vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với hành vi bán sản phẩm, hàng hóa có chất lượng không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng; từ 2 - 3 lần giá trị tổng sản phẩm, hàng hóa đối với hành vi thay thế, đánh tráo, thêm, bớt thành phần hoặc chất phụ gia, pha trộn tạp chất làm giảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa so với tiểu chuẩn...

Ngoài hình thức phạt tiền, các đối tượng vi phạm có thể bị áp dụng dụng 01 hoặc các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như: Tước quyền sử dụng có thời hạn Giấy chứng nhận hợp chuẩn, Giấy chứng nhận hợp quy...; đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiên vi phạm; buộc tái chế, tái xuất, tiêu hủy hoặc thu hồi sản phẩm, hàng hóa vi phạm...

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/09/2013 và thay thế Nghị định số 54/2009/NĐ-CP ngày 05/06/2009.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:

Tin cùng chuyên mục

Trường hợp được xóa toàn bộ chi phí bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo từ 26/3/2026

Trường hợp được xóa toàn bộ chi phí bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo từ 26/3/2026

Trường hợp được xóa toàn bộ chi phí bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo từ 26/3/2026

Từ ngày 26/3/2026, theo Nghị định 51/2026/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 143/2013/NĐ-CP), người học thuộc một số trường hợp đặc biệt sẽ được xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo.

Không được yêu cầu nộp bản giấy/bản sao chứng thực nếu đã có giấy tờ điện tử hợp lệ

Không được yêu cầu nộp bản giấy/bản sao chứng thực nếu đã có giấy tờ điện tử hợp lệ

Không được yêu cầu nộp bản giấy/bản sao chứng thực nếu đã có giấy tờ điện tử hợp lệ

Là nội dung Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam nêu tại Công văn số 56/CV-BTV ngày 30/01/2026, hướng dẫn việc chứng thực bản sao điện tử từ bản chính, nhằm thống nhất cách thực hiện trong hoạt động công chứng, chứng thực.

Hướng dẫn xử lý 2 trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu HĐND vì lý do bất khả kháng

Hướng dẫn xử lý 2 trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu HĐND vì lý do bất khả kháng

Hướng dẫn xử lý 2 trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu HĐND vì lý do bất khả kháng

Ngày 29/01/2026, Hội đồng bầu cử Quốc gia đã ban hành Nghị quyết số 115/NQ-HĐBCQG nhằm hướng dẫn thống nhất việc xử lý trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp do lý do bất khả kháng trong quá trình tổ chức bầu cử.