Hướng dẫn giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo

Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Bộ luật Hình sự. Trong đó, có hướng dẫn giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo.

Theo Điều 64 Bộ luật Hình sự 2015 về giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt thì người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 63 Bộ luật này.

Hướng dẫn giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo
Hướng dẫn giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo từ 15/7/2024 (Ảnh minh họa)

Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn về giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt quy định tại Điều 64 Bộ luật Hình sự 2015. Cụ thể:

Người bị kết án đã chấp hành được ít nhất 1/4 thời hạn đối với hình phạt dưới đây

  • Cải tạo không giam giữ, hình phạt tù từ 30 năm trở xuống;
  • 10 năm đối với tù chung thân;
  • 12 năm đối với người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án tù chung thân và có đủ điều kiện hướng dẫn tại các điểm b, c và d khoản 1, khoản 4, khoản 6 Điều 5 Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP 

Nếu người bị kết án các hình phạt nêu trên có thể được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, nếu người bị kết án thuộc một trong các trường hợp khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Đã lập công; trong đó, mỗi lần lập công, người bị kết án chỉ được xét giảm thời hạn một lần;
  • Đã quá già yếu;
  • Mắc bệnh hiểm nghèo.

Mức giảm mỗi lần cao nhất cho các trường hợp nêu trên có thể là:

  • 01 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ,
  • 04 năm đối với hình phạt tù có thời hạn, hình phạt tù chung thân

Tuy nhiên phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành hình phạt ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên hoặc 15 năm đối với hình phạt tù chung thân.

Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì thời gian thực tế chấp hành hình phạt ít nhất là 20 năm.

Trong trường hợp đặc biệt, khi có đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; sau khi có ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và được sự đồng ý của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì người bị kết án có thể được xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với các hướng dẫn nêu trên.

Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP có hiệu lực từ ngày 15/7/2024.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Miễn môn đánh giá năng lực kế toán đối với người làm kế toán, kiểm toán từ đủ 60 tháng

Miễn môn đánh giá năng lực kế toán đối với người làm kế toán, kiểm toán từ đủ 60 tháng

Miễn môn đánh giá năng lực kế toán đối với người làm kế toán, kiểm toán từ đủ 60 tháng

Thông tư 109/2026/TT-BTC đã bổ sung trường hợp được miễn môn đánh giá năng lực kế toán đối với người có trình độ chuyên môn phù hợp và có thời gian làm kế toán, kiểm toán từ đủ 60 tháng liên tục.

Bỏ yêu cầu có 36 tháng kinh nghiệm để tham gia đánh giá năng lực nghiệp vụ chuyên môn về thuế từ 24/7/2026

Bỏ yêu cầu có 36 tháng kinh nghiệm để tham gia đánh giá năng lực nghiệp vụ chuyên môn về thuế từ 24/7/2026

Bỏ yêu cầu có 36 tháng kinh nghiệm để tham gia đánh giá năng lực nghiệp vụ chuyên môn về thuế từ 24/7/2026

Đây là quy định mới tại Thông tư 109/2026/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế, ban hành và hiệu lực ngày 24/7/2026.

Quyết định 1413/QĐ-TTg: Nghiên cứu xây dựng Luật về tài sản số, tài sản mã hóa trong giai đoạn 2028-2029

Quyết định 1413/QĐ-TTg: Nghiên cứu xây dựng Luật về tài sản số, tài sản mã hóa trong giai đoạn 2028-2029

Quyết định 1413/QĐ-TTg: Nghiên cứu xây dựng Luật về tài sản số, tài sản mã hóa trong giai đoạn 2028-2029

Nội dung được nêu tại Quyết định 1413 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2025, có hiệu lực từ ngày 27/7/2026.

Việt Nam nghiên cứu thử nghiệm đồng tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương giai đoạn 2029-2030

Việt Nam nghiên cứu thử nghiệm đồng tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương giai đoạn 2029-2030

Việt Nam nghiên cứu thử nghiệm đồng tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương giai đoạn 2029-2030

Ngày 27/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1413/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045.

Đến năm 2029, sẽ vận hành chính thức thị trường giao dịch tín chỉ carbon

Đến năm 2029, sẽ vận hành chính thức thị trường giao dịch tín chỉ carbon

Đến năm 2029, sẽ vận hành chính thức thị trường giao dịch tín chỉ carbon

Theo Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam ban hành kèm Quyết định 1413/QĐ-TTg từ năm 2029, thị trường giao dịch tín chỉ carbon sẽ được vận hành chính thức sau giai đoạn chuẩn bị về thể chế, hạ tầng và cơ chế quản lý.

Quyết định 1413/QĐ-TTg: Nghiên cứu xây dựng Đề án thành lập Sàn giao dịch vàng tại Việt Nam

Quyết định 1413/QĐ-TTg: Nghiên cứu xây dựng Đề án thành lập Sàn giao dịch vàng tại Việt Nam

Quyết định 1413/QĐ-TTg: Nghiên cứu xây dựng Đề án thành lập Sàn giao dịch vàng tại Việt Nam

Quyết định 1413/QĐ-TTg 2026 phê duyệt Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045, ban hành ngày 27/7/2026.