Áp thuế 0% đối với hàng hóa nhập khẩu từ Campuchia

 

Áp thuế 0% đối với hàng hóa nhập khẩu từ Campuchia
(LuatVietnam) Ngày 18/05/2011, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 68/2011/TT-BTC hướng dẫn thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt 0% đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ Campuchia.

Theo đó, hàng hóa nhập khẩu được áp dụng mức thuế xuất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt 0% phải đáp ứng 02 điều kiện là: Có giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu S (C/O form S) do cơ quan thẩm quyền Campuchia cấp và Thông quan qua 17 cặp cửa khẩu trong Bản thỏa thuận giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Thương mại Campuchia.
Hàng hóa áp dụng hạn ngạch, để được hưởng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt 0% ngoài việc đáp ứng các điều kiện nêu trên còn phải đảm bảo các quy định về hạn ngạch theo hướng dẫn của Bộ Công Thương. Trong đó, tổng định lượng cho thóc, gạo được tính theo tỷ gạo và tỷ lệ quy đổi từ thóc ra gạo là 2kg thóc bằng 1kg gạo.
 
Trường hợp mặt hàng thóc, gạo các loại nhập khẩu vượt quá số lượng hạn ngạch quy định thì sẽ áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt CEPT hoặc thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi MFN hoặc mức thuế suất thuế nhập khẩu thông thường theo quy định hiện hành.
 
Cũng theo Thông tư này, hàng hóa nông sản chưa chế biến (trừ các mặt hàng gạo, thóc các loại và lá thuốc lá khô) do các doanh nghiệp Việt Nam hỗ trợ đầu tư, trồng tại các tỉnh của Campuchia giáp biên giới Việt Nam nhập khẩu đề làm nguyên liệu sản xuất hàng hóa tại Việt Nam, nếu đảm bảo các điều kiện quy định nêu trên thì được áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt là 0%.
 
Thông tư này có hiệu lực thi hành cùng thời điểm có hiệu lực thi hành của Bản thỏa thuận về việc thúc đẩy thương mại song phương giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Thương mại Campuchia từ ngày 01/11/2010 trở đi; bãi bỏ Quyết định số 08/2008/QĐ-BTC ngày 30/01/2008.
 
Các ưu đãi thuế đối với lượng hạn ngạch thuế quan thóc và gạo các loại, thuốc lá khô của năm 2010 được áp dụng từ ngày 01/11/2010 đến ngày 31/12/2010, của năm 2011 được áp dụng từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 31/12/2011.
  • LuậtViệtnam 

 

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Từ 01/7/2026, làm việc theo hợp đồng trong đơn vị sự nghiệp công được nhận thưởng theo thỏa thuận

Từ 01/7/2026, làm việc theo hợp đồng trong đơn vị sự nghiệp công được nhận thưởng theo thỏa thuận

Từ 01/7/2026, làm việc theo hợp đồng trong đơn vị sự nghiệp công được nhận thưởng theo thỏa thuận

Từ ngày 01/7/2026, người làm việc theo hợp đồng trong đơn vị sự nghiệp công lập được them quyền lợi khi Nghị định 235/2026/NĐ-CP cho phép tiền thưởng được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng, bên cạnh tiền lương, thù lao và các chế độ khác.

Từ 01/7/2026, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp không được xếp loại cao hơn đơn vị mình quản lý

Từ 01/7/2026, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp không được xếp loại cao hơn đơn vị mình quản lý

Từ 01/7/2026, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp không được xếp loại cao hơn đơn vị mình quản lý

Nghị định 233/2026/NĐ-CP bổ sung nguyên tắc mới khi đánh giá viên chức quản lý. Theo đó, mức xếp loại của người đứng đầu không được cao hơn mức xếp loại của đơn vị do mình quản lý.

Từ 01/7/2026, viên chức được quản lý theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

Từ 01/7/2026, viên chức được quản lý theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

Từ 01/7/2026, viên chức được quản lý theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

So với Nghị định 106/2020/NĐ-CP trước đây, Nghị định 232/2026/NĐ hiệu lực từ 01/7/2026 đã thay đổi căn bản phương thức quản lý vị trí việc làm khi lần đầu tiên quy định việc quản lý viên chức theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm.

Kết quả đánh giá viên chức gắn với tiền thưởng, thu nhập tăng thêm từ 01/7/2026

 Kết quả đánh giá viên chức gắn với tiền thưởng, thu nhập tăng thêm từ 01/7/2026

Kết quả đánh giá viên chức gắn với tiền thưởng, thu nhập tăng thêm từ 01/7/2026

Một điểm mới đáng chú ý tại Nghị định 233/2026/NĐ-CP là kết quả đánh giá, xếp loại viên chức không chỉ phục vụ công tác cán bộ mà còn được sử dụng để xác định tiền thưởng và thu nhập tăng thêm của viên chức.