Áp “biên độ” mới cho phí môi giới chứng khoán

 

Áp “biên độ” mới cho phí môi giới chứng khoán
(LuatVietnam) Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 38/2011/TT-BTC (Thông tư 38) quy định về mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí hoạt động chứng khoán áp dụng tại các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán.
Theo đó, phí môi giới mua, bán chứng khoán (áp dụng cho cả chứng khoán đăng ký giao dịch tại UPCOM) đối với cổ phiếu và chứng chỉ quỹ mà các công ty chứng khoán thu là từ 0,15% đến 0,5% giá trị giao dịch, với trái phiếu là 0,02 % đến 0,1% giá trị giao dịch.
 
Trước đây, mức phí môi giới giao dịch được ban hành trong Thông tư số 01/2000/TT-UBCK1 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước qui định phí dịch vụ môi giới (hoa hồng môi giới) mua, bán chứng khoán với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư mà các công ty chứng khoán thu tối đa không quá 0,75% trị giá giao dịch; với trái phiếu thì tối đa không quá 0,5% trị giá giao dịch.
 
Tuy nhiên, sau đó, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành Thông tư số 02/2000/TT-UBCK1 để sửa đổi cho Thông tư 01 với phí dịch vụ môi giới (hoa hồng môi giới) mua, bán chứng khoán đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư tối đa không quá 0,5% và trái phiếu tối đa không quá 0,15% trị giá giao dịch.
 
Như vậy, so với các quy định trước đó, Thông tư 38 của Bộ Tài chính đã tạo ra một “biên độ” mới cho phí giao dịch chứng khoán. Việc sửa đổi này có thể hiểu là Bộ Tài chính áp cơ chế “sàn” trong phí môi giới, qua đó giới hạn việc cạnh tranh phí giữa các thành viên.
 
Cũng theo Thông tư này, phí bảo lãnh phát hành được quy định là từ 0,5% đến 2% tổng giá trị bảo lãnh phát hành đối với cổ phiếu; phí quản lý quỹ đầu tư tối đa 2%/giá trị tài sản ròng của quỹ hoặc giá trị tài sản ròng của danh mục/năm. Phí phát hành chứng chỉ quỹ giao động từ 1 - 2%/vốn huy động, tùy thuộc vào giá trị chứng chỉ quỹ phát hành trong 01 đợt.
 
Các loại phí hoạt động chứng khoán nêu trên áp dụng tại các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán là khoản thu không thuộc ngân sách nhà nước, đơn vị thu phí có nghĩa vụ nộp thuế đối với các khoản thu phí này theo quy định và có quyền quản lý, sử dụng số tiền thu phí sau khi nộp thuế…
 
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/5/2011 và thay thế các Thông tư số 01/2000/TT-UBCK1 ngày 17/4/2000, số 02/2000/TT-UBCK1 ngày 14/11/2000.
  • LuậtViệtnam 
1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Công văn 2471 BTCTW: Hồ sơ vị trí việc làm phải có bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí

Công văn 2471 BTCTW: Hồ sơ vị trí việc làm phải có bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí

Công văn 2471 BTCTW: Hồ sơ vị trí việc làm phải có bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí

Công văn 2471-CV/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về việc đề nghị cung cấp hồ sơ, tài liệu về chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm được ban hành ngày 15/10/2026.

Người nghỉ hưu trốn tránh bồi thường thiệt hại do gây lãng phí bị trừ dần vào lương hưu 

Người nghỉ hưu trốn tránh bồi thường thiệt hại do gây lãng phí bị trừ dần vào lương hưu 

Người nghỉ hưu trốn tránh bồi thường thiệt hại do gây lãng phí bị trừ dần vào lương hưu 

Theo Nghị định 267/2026/NĐ-CP, người đã nghỉ hưu nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do gây lãng phí và cố tình trì hoãn, trốn tránh việc bồi thường có thể bị trừ 20% lương hưu hằng tháng để thực hiện nghĩa vụ này.

Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ được lưu lại Việt Nam không quá 60 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập

Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ được lưu lại Việt Nam không quá 60 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập

Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ được lưu lại Việt Nam không quá 60 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập

Ngày 22/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 292/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương, có hiệu lực từ ngày 05/9/2026.

Chương trình đào tạo đại học lĩnh vực Sản xuất và chế biến phải có tối thiểu 2 tín chỉ về AI

Chương trình đào tạo đại học lĩnh vực Sản xuất và chế biến phải có tối thiểu 2 tín chỉ về AI

Chương trình đào tạo đại học lĩnh vực Sản xuất và chế biến phải có tối thiểu 2 tín chỉ về AI

Ngày 16/10/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định 3026/QĐ-BGDĐT về Chuẩn chương trình đào tạo lĩnh vực Sản xuất và chế biến trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ.