Khi đi khám, chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế, người tham gia cần lưu ý các giấy tờ và thủ tục áp dụng trong từng trường hợp cụ thể. Dưới đây là những quy định mới nhất cần biết để bảo đảm quyền lợi BHYT.
- 1. Trường hợp khám, chữa bệnh thông thường
- 2. Đối với trẻ em dưới 6 tuổi
- 3. Trường hợp đang chờ cấp hoặc thay đổi thông tin thẻ BHYT
- 4. Trường hợp khám, chữa bệnh sau khi hiến bộ phận cơ thể người
- 5. Trường hợp cấp cứu
- 6. Trường hợp không xuất trình được thẻ BHYT điện tử do lỗi VNeID, VssID hoặc kết nối Internet
- 7. Trường hợp thay đổi nơi tạm trú, lưu trú
- 8. Trường hợp khám lại theo yêu cầu điều trị
- 9. Trường hợp chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Theo Điều 37, Điều 38 Nghị định 188/2025/NĐ-CP, Thông tư 01/2025/TT-BYT và thủ tục hành chính được công bố tại Quyết định 2555/QĐ-BYT, khi đi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT), người tham gia thực hiện thủ tục như sau:
1. Trường hợp khám, chữa bệnh thông thường
Theo khoản 1 Điều 37 Nghị định 188/2025/NĐ-CP, người tham gia BHYT phải xuất trình thông tin về thẻ BHYT theo một trong các hình thức:
-
Căn cước, căn cước công dân hoặc tài khoản định danh điện tử (VNeID) mức độ 2 đã tích hợp thông tin về thẻ BHYT;
-
Thẻ BHYT bản điện tử hoặc bản giấy.
Trường hợp sử dụng thẻ BHYT chưa có ảnh hoặc mã số BHYT thì phải xuất trình thêm một trong các giấy tờ chứng minh nhân thân như: căn cước, căn cước công dân, giấy chứng nhận căn cước, hộ chiếu, thông tin liên kết với tài khoản VNeID mức độ 2 hoặc ứng dụng VssID, giấy tờ chứng minh nhân thân khác do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc giấy xác nhận của Công an cấp xã.
Riêng các đối tượng quy định tại điểm a, b, c và d khoản 3 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế, nếu thông tin về thẻ BHYT chưa tra cứu được trên hệ thống công nghệ thông tin thì phải xuất trình thẻ BHYT bản giấy.

2. Đối với trẻ em dưới 6 tuổi
Theo khoản 2 Điều 37 Nghị định 188/2025/NĐ-CP, trẻ em dưới 6 tuổi chỉ cần xuất trình thẻ BHYT bản giấy, thẻ BHYT bản điện tử hoặc mã số BHYT.
Trường hợp trẻ chưa được cấp thẻ BHYT thì xuất trình giấy chứng sinh bản gốc hoặc bản chụp.
Đối với trẻ vừa sinh, cha, mẹ hoặc thân nhân của trẻ ký xác nhận trên hồ sơ bệnh án. Trường hợp trẻ không có cha, mẹ hoặc thân nhân thì người đại diện cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xác nhận trên hồ sơ bệnh án.
3. Trường hợp đang chờ cấp hoặc thay đổi thông tin thẻ BHYT
Theo khoản 3 Điều 37 Nghị định 188/2025/NĐ-CP, người tham gia BHYT trong thời gian chờ cấp hoặc thay đổi thông tin về thẻ BHYT phải xuất trình:
-
Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả cấp, cấp lại, đổi thẻ BHYT;
-
Thông tin về thẻ BHYT do cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức, cá nhân được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền tiếp nhận hồ sơ cấp;
-
Một trong các giấy tờ chứng minh nhân thân theo quy định.
4. Trường hợp khám, chữa bệnh sau khi hiến bộ phận cơ thể người
Theo khoản 4 Điều 37 Nghị định 188/2025/NĐ-CP, người đã hiến bộ phận cơ thể người phải xuất trình thông tin về thẻ BHYT như trường hợp khám, chữa bệnh thông thường hoặc trường hợp đang chờ cấp, thay đổi thông tin thẻ BHYT.
Nếu chưa có thẻ BHYT, người đã hiến bộ phận cơ thể phải xuất trình giấy ra viện do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi lấy bộ phận cơ thể người cấp và một trong các giấy tờ chứng minh nhân thân theo quy định.
Trường hợp chưa có thẻ BHYT nhưng phải điều trị ngay sau khi hiến, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người bệnh hoặc thân nhân của người bệnh xác nhận vào hồ sơ bệnh án.
5. Trường hợp cấp cứu
Theo khoản 5 Điều 37 Nghị định 188/2025/NĐ-CP, trong trường hợp cấp cứu, người tham gia BHYT được khám, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và phải xuất trình thông tin về thẻ BHYT, giấy tờ liên quan theo quy định trước khi kết thúc đợt điều trị.
Sau giai đoạn cấp cứu, căn cứ yêu cầu chuyên môn, người bệnh có thể tiếp tục điều trị nội trú tại cơ sở đó, được chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác hoặc được chuyển về cơ sở đăng ký khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu khi tình trạng đã ổn định.
6. Trường hợp không xuất trình được thẻ BHYT điện tử do lỗi VNeID, VssID hoặc kết nối Internet
Theo khoản 2 Điều 38 Nghị định 188/2025/NĐ-CP, trường hợp người bệnh có thẻ BHYT điện tử nhưng không xuất trình được do tài khoản VNeID mức độ 2, ứng dụng VssID bị lỗi hoặc do lỗi kết nối Internet thì thực hiện như sau:
-
Người bệnh cung cấp mã số thẻ BHYT để cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tra cứu trên Cổng tiếp nhận dữ liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam;
-
Nếu không tra cứu được, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ghi nhận mã số thẻ BHYT và tiếp nhận người bệnh để khám, chữa bệnh; đồng thời phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội để xác minh thông tin;
-
Nếu đến thời điểm kết thúc lượt khám, chữa bệnh hoặc ra viện mà hệ thống vẫn bị lỗi và thông tin chưa được xác minh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh gửi hồ sơ, thông tin liên hệ của người bệnh và thông tin liên quan cho cơ quan bảo hiểm xã hội để tiếp tục xác minh, giám định và thanh toán chi phí theo quy định.
7. Trường hợp thay đổi nơi tạm trú, lưu trú
Theo khoản 3 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế và Điều 4 Thông tư 01/2025/TT-BYT, người đăng ký khám, chữa bệnh BHYT ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản hoặc cấp chuyên sâu, khi thay đổi nơi tạm trú hoặc lưu trú thì được khám, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản phù hợp với nơi tạm trú, lưu trú mới theo quy định.
Theo khoản 1 Điều 4 Thông tư 01/2025/TT-BYT, trường hợp thay đổi nơi lưu trú dưới 30 ngày và đã khai báo lưu trú bao gồm:
-
Người đi công tác đến tỉnh khác;
-
Học sinh, sinh viên, học viên học tập tại tỉnh khác trong các trường hợp quy định;
-
Người lao động tại tỉnh khác trong thời gian nghỉ phép tại gia đình;
-
Người làm việc lưu động tại tỉnh khác;
-
Người đến tỉnh khác để thăm thành viên gia đình.
Theo khoản 3 Điều 4 Thông tư 01/2025/TT-BYT, tùy trường hợp, người tham gia BHYT phải xuất trình thêm các giấy tờ như văn bản cử đi công tác; thẻ học sinh, sinh viên, học viên; văn bản nghỉ phép; văn bản cử hoặc phân công làm việc lưu động; giấy tờ chứng minh quan hệ thành viên gia đình và thông tin lưu trú đã được cập nhật trên tài khoản VNeID mức độ 2.
Theo khoản 4 Điều 4 Thông tư 01/2025/TT-BYT, trường hợp thay đổi nơi tạm trú, người tham gia BHYT xuất trình một trong các giấy tờ chứng minh thông tin về thay đổi nơi tạm trú gồm:
-
Phiếu tiếp nhận hồ sơ đăng ký tạm trú;
-
Thông báo của cơ quan có thẩm quyền về việc đã cập nhật thông tin đăng ký tạm trú;
-
Thông tin đăng ký tạm trú trên tài khoản định danh điện tử mức độ 2 trên ứng dụng VNeID.
8. Trường hợp khám lại theo yêu cầu điều trị
Theo Điều 11 Thông tư 01/2025/TT-BYT, người bệnh được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT hẹn khám lại trong trường hợp cần tiếp tục theo dõi tình trạng bệnh hoặc kiểm tra lại kết quả của đợt khám, điều trị theo yêu cầu chuyên môn.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ghi nội dung, lịch hẹn trong Phiếu hẹn khám lại theo Phụ lục V ban hành kèm Thông tư 01/2025/TT-BYT hoặc ghi trong đơn thuốc, giấy ra viện bản giấy hoặc bản điện tử.
Phiếu hẹn khám lại bản giấy phải có dấu treo của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chữ ký của bác sĩ điều trị; phiếu điện tử phải có chữ ký số của bác sĩ điều trị.
Mỗi Phiếu hẹn khám lại chỉ được sử dụng 01 lần.
Người bệnh có trách nhiệm đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đúng thời gian ghi trên Phiếu hẹn khám lại. Trường hợp không thể đến đúng thời gian hẹn thì cần liên hệ với bác sĩ điều trị hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để đặt lịch hẹn khác phù hợp.
9. Trường hợp chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Theo Điều 9 và Điều 12 Thông tư 01/2025/TT-BYT, trường hợp chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT theo yêu cầu chuyên môn, cơ sở nơi chuyển người bệnh phải lập Phiếu chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo Phụ lục VI ban hành kèm Thông tư 01/2025/TT-BYT, bằng bản giấy hoặc bản điện tử.
Theo khoản 1 Điều 12 Thông tư 01/2025/TT-BYT, Phiếu chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có giá trị sử dụng trong 10 ngày làm việc kể từ ngày ký.
Theo khoản 2 Điều 12 Thông tư 01/2025/TT-BYT, người tham gia BHYT mắc các bệnh, nhóm bệnh và các trường hợp quy định tại Phụ lục III ban hành kèm Thông tư này được sử dụng Phiếu chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có giá trị 01 năm kể từ ngày ký.
Trường hợp hết thời hạn của Phiếu chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà người bệnh vẫn đang trong lần khám, chữa bệnh và cần tiếp tục điều trị tại cơ sở đó thì Phiếu chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có giá trị sử dụng đến hết đợt điều trị.
Đồng thời, theo khoản 3 Điều 38 Nghị định 188/2025/NĐ-CP, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và cơ quan bảo hiểm xã hội không được quy định thêm thủ tục khám bệnh, chữa bệnh BHYT ngoài các thủ tục theo quy định. Trường hợp cần sao chụp thẻ BHYT hoặc giấy tờ liên quan để phục vụ quản lý thì cơ quan, cơ sở phải tự sao chụp sau khi được người bệnh hoặc người giám hộ đồng ý, không được yêu cầu người bệnh tự sao chụp hoặc chi trả chi phí sao chụp.
Trên đây là thông tin về việc Thủ tục khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế mới nhất...
RSS