Tăng giảm font chữ:

Khi nào bị can được nộp tiền để tại ngoại?

Tiếp nối bài viết “Điều kiện bảo lãnh tại ngoại cho bị can”, LuatVietnam tiếp tục đề cập đến biện pháp nộp tiền để được tại ngoại khi bị tam giam.

Biện pháp nộp tiền để tại ngoại là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam được quy định tại Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Biện pháp này đã được quy định trước đây trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 17/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC.

Nộp tiền để tại ngoại được áp dụng khi:

- Bị can, bị cáo phạm tội lần đầu; có nơi cư trú rõ ràng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
- Bị can, bị cáo có khả năng về tài chính để đặt bảo đảm theo quy định. Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần mà không có hoặc không đủ tiền để đặt bảo đảm thì xem xét đến khả năng tài chính của người đại diện hợp pháp của họ.
- Có căn cứ xác định, sau khi được tại ngoại, bị can, bị cáo sẽ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng và không tiêu huỷ, che giấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử.
- Việc cho bị can, bị cáo tại ngoại không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự.

Bị can được nộp tiền để tại ngoại khi đáp ứng một số điều kiện nhất định (Ảnh minh họa)

Không áp dụng biện pháp nộp tiền để tại ngoại nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Bị can, bị cáo phạm một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
- Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;
- Bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; phạm tội rất nghiêm trọng thuộc loại tội phạm về ma túy, tham nhũng, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản;
- Bị tạm giam trong trường hợp bị bắt theo lệnh, quyết định truy nã;
- Bị can, bị cáo là người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
- Bị can, bị cáo là người nghiện ma tuý;
- Bị can, bị cáo là người tổ chức trong trường hợp phạm tội có tổ chức;
- Hành vi phạm tội gây dư luận xấu trong nhân dân.

Tiền được đặt để bảo đảm là tiền mặt Việt Nam đồng, thuộc sở hữu hợp pháp của bị can, bị cáo hoặc của người đại diện hợp pháp của họ. Không được đặt tiền đang có tranh chấp, tiền đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác, tiền có nguồn gốc bất hợp pháp để bảo đảm.

Mức tiền đặt để đảm bảo do cơ quan có thẩm quyền quyết định nhưng không dưới: 20 triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 80 triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng; 200 triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng.

Các trường hợp bị can, bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo là người chưa thành niên… thì có thể được quyết định mức tiền phải đặt thấp hơn nhưng không dưới 1/2 mức nêu trên.

Nghĩa vụ cam đoan, thời hạn được đặt tiền bảo đảm và thẩm quyền quyết định đặt tiền bảo đảm tương tự như biện pháp bảo lĩnh. Bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì bị tạm giam, số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì được trả lại số tiền đã đặt.

LuatVietnam

Lan VũLan Vũ
Chia sẻ:

Tải App LuatVietnam miễn phí ngay hôm nay!

Dịch vụ tư vấn pháp luật

Vui lòng gửi thông tin tại đây!