Hiệu trưởng, hiệu phó có được dạy thêm không?

Hiện nay, tình trạng dạy thêm tràn lan, dạy thêm trái phép là một trong những vấn nạn xảy ra phổ biến trong ngành giáo dục. Vậy những trường hợp nào cấm dạy thêm? Hiệu trưởng, hiệu phó có được dạy thêm không?


Các trường hợp không được dạy thêm

Tại khoản 1 Điều 7 Thông tư 28/2009/TT-BGDĐT quy định, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường phổ thông có nhiệm vụ giảng dạy một số tiết tại lớp để nắm được nội dung, chương trình giáo dục và tình hình học tập của học sinh nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có văn bản nào điều chỉnh việc dạy thêm của hiệu trưởng, hiệu phó.

Hiện nay, Thông tư 17/2012/TT-BGDĐT mới chỉ quy định chung về các trường hợp không được dạy thêm như sau:

“1. Không dạy thêm đối với học sinh đã được nhà trường tổ chức dạy học 2 buổi/ngày.

2. Không dạy thêm đối với học sinh tiểu học, trừ các trường hợp: bồi dưỡng về nghệ thuật, thể dục thể thao, rèn luyện kỹ năng sống.”

Theo quy định trên, người đủ điều kiện dạy thêm (kể cả hiệu trưởng, hiệu phó) trừ trường hợp pháp luật “cấm” không được tham gia dạy thêm cho học sinh tiểu học hoặc học sinh đã được nhà trường tổ chức học 02 buổi/ngày.
 

Hiệu trưởng hiệu phó có được dạy thêm không?
Hiệu trưởng hiệu phó có được dạy thêm không? (Ảnh minh họa)
 

Giáo viên có được dạy thêm tại nhà không?

Theo Điều 3 Thông tư 17, để được tổ chức hoạt động dạy thêm, người tổ chức dạy thêm phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc sau:

- Hoạt động dạy thêm, học thêm phải góp phần củng cố, nâng cao kiến thức, kỹ năng, giáo dục nhân cách của học sinh; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và không gây nên tình trạng vượt quá sức tiếp thu của người học.

- Không cắt giảm nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông chính khoá để đưa vào giờ dạy thêm; không dạy thêm trước những nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông chính khoá.

- Đối tượng học thêm là học sinh có nhu cầu học thêm, tự nguyện học thêm và được gia đình đồng ý; không được dùng bất cứ hình thức nào để ép buộc gia đình học sinh và học sinh học thêm.

- Không tổ chức lớp dạy thêm, học thêm theo các lớp học chính khóa; học sinh trong cùng một lớp dạy thêm, học thêm phải có học lực tương đương nhau; khi xếp học sinh vào các lớp dạy thêm, học thêm phải căn cứ vào học lực của học sinh.

- Tổ chức, cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm phải chịu trách nhiệm về các nội dung đăng ký và xin phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm.

Như vậy giáo viên có thể dạy thêm tại nhà khi thực hiện đúng theo 05 nguyên tắc trên và không thuộc các trường hợp cấm dạy thêm.

Trước đây, theo quy định của Luật Đầu tư 2014, tổ chức dạy thêm, học thêm được liệt kê tại Phụ lục 4 là một trong những dịch vụ kinh doanh có điều kiện. Vì vậy, để tổ chức dạy thêm thì cá nhân, tổ chức dạy thêm phải có giấy phép dạy thêm.

Tuy nhiên, sắp tới quy định về việc tổ chức dạy thêm sẽ nới lòng hơn. Đến năm 2021 khi Luật đầu tư 2020 chính thức có hiệu lực thi hành thì dịch vụ tổ chức dạy thêm, học thêm không còn thuộc các dịch vụ kinh doanh có điều kiện nữa.

Trên đây là quy định về việc dạy thêm và tổ chức dạy thêm của giáo viên. Nếu còn thắc mắc, bạn đọc có thể liên hệ 1900 6192 để được hỗ trợ.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:

Tin cùng chuyên mục

Thủ tục thông báo gửi hồ sơ đánh giá tác động chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới

Thủ tục thông báo gửi hồ sơ đánh giá tác động chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới

Thủ tục thông báo gửi hồ sơ đánh giá tác động chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới

Việc chuyển và xử lý dữ liệu xuyên biên giới ngày càng phổ biến trong bối cảnh số hóa mạnh mẽ. Nhằm bảo đảm an toàn dữ liệu và tuân thủ quy định pháp luật, Quyết định 778/QĐ-BCA-A05 đã ban hành thông báo gửi hồ sơ đánh giá tác động chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới.

Video được tạo bởi AI: Khi nào phải gắn nhãn, khi nào phải thông báo?

Video được tạo bởi AI: Khi nào phải gắn nhãn, khi nào phải thông báo?

Video được tạo bởi AI: Khi nào phải gắn nhãn, khi nào phải thông báo?

Khi công nghệ AI ngày càng phát triển, việc sản xuất video, hình ảnh, âm thanh bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo trở nên phổ biến. Từ ngày 01/3/2026, Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 đã quy định rõ về gắn nhãn và thông báo đối với video do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa.

Chính sách mới về lao động, tiền lương có hiệu lực tháng 3/2026

Chính sách mới về lao động, tiền lương có hiệu lực tháng 3/2026

Chính sách mới về lao động, tiền lương có hiệu lực tháng 3/2026

Tháng 3/2026, trong lĩnh vực lao động, tiền lương ghi nhận một chính sách mới đáng chú ý là Thông tư 1/2026/TT-BNV của Bộ Nội vụ hướng dẫn xếp lương đối với người được tuyển dụng vào công chức có hiệu lực. Dưới đây là thông tin đáng chú ý tại Thông tư này.

Hướng dẫn cách tra cứu mã định danh điện tử bất động sản

Hướng dẫn cách tra cứu mã định danh điện tử bất động sản

Hướng dẫn cách tra cứu mã định danh điện tử bất động sản

Từ năm 2026, việc quản lý nhà, đất ngày càng được số hóa, trong đó mã định danh điện tử bất động sản đóng vai trò quan trọng trong tra cứu thông tin, thực hiện thủ tục hành chính và giao dịch. Vậy tra cứu mã này ở đâu và thực hiện như thế nào?

Có đúng không gắn nhãn cho video, hình ảnh AI sẽ bị xử lý hình sự?

Có đúng không gắn nhãn cho video, hình ảnh AI sẽ bị xử lý hình sự?

Có đúng không gắn nhãn cho video, hình ảnh AI sẽ bị xử lý hình sự?

Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 quy định hình ảnh video do AI tạo ra phải gắn dấu hiệu nhận biết, cá nhân hoặc tổ chức vi phạm có thể phải đối mặt án hình sự. Vậy có đúng không gắn nhãn cho video, hình ảnh AI sẽ bị xử lý hình sự?