Dịch vụ thám tử tư có được coi là hợp pháp?

Thám tử tư là người chuyên thực hiện hoạt động điều tra, theo dõi, giám sát, xác minh các vụ việc một cách độc lập theo yêu cầu - theo Wikipedia. Đón đầu nhu cầu của khách hàng, dịch vụ này ngày càng nở rộ, tuy nhiên, dịch vụ thám tử tư có được công nhận hợp pháp hay không vẫn còn là một câu hỏi.

Pháp luật chưa có quy định thống nhất

Ngày 01/07/2015, Luật Đầu tư 2014 chính thức có hiệu lực, trong số ngành, nghề cấm đầu tư, kinh doanh không có ngành nghề kinh doanh dịch vụ thám tử tư. Tại Quyết định 10/2007/QĐ-TTg, dịch vụ điều tra cũng được quy định là một ngành trong Hệ thống các ngành kinh tế Việt Nam.

Tuy nhiên, tại Nghị định 59/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thương mại 2015, Chính phủ "treo lệnh cấm" đối với dịch vụ điều tra bí mật xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Theo đó, có thể thấy, pháp luật hiện hành chưa có quy định thống nhất về dịch vụ thám tử tư. Khi chưa có quy định cụ thể, rõ ràng và thống nhất về vấn đề này, thì dịch vụ thám tử tư vẫn chưa thể hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Dịch vụ thám tử tư có coi là hợp pháp?

Pháp luật hiện hành chưa công nhận dịch vụ thám tử tư (Ảnh minh họa)

Cả thám tử và người thuê đều có thể phạm luật

Theo Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý.

Do đó, mọi hành vi xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân là vi phạm pháp luật. Cả người cung cấp thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của người khác và thám tử sử dụng thông tin này để điều tra, theo dõi đều có thể bị xử lý theo quy định hiện hành.

Cụ thể, đối tượng vi phạm có thể bị phạt tiền từ 1 - 1,5 triệu đồng nếu tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm (theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP); có thể bị xử lý về Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác (theo Điều 159 Bộ luật Hình sự 2015); Tội xâm phạm chỗ ở của người khác (Theo Điều 158 Bộ luật Hình sự 2015)…

Xem thêm:

Khi nào đọc trộm tin nhắn bị đi tù?

Bộ luật Hình sự 2018: Bãi bỏ 11 tội danh, bổ sung nhiều điểm mới

LuatVietnam

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Bản án về tranh chấp hợp đồng kỳ nghỉ: Người mua có đòi lại được tiền?

Bản án về tranh chấp hợp đồng kỳ nghỉ: Người mua có đòi lại được tiền?

Bản án về tranh chấp hợp đồng kỳ nghỉ: Người mua có đòi lại được tiền?

Khi tham gia các chương trình “Sở hữu kỳ nghỉ", không ít người mua sau đó muốn hủy hợp đồng và yêu cầu hoàn lại tiền. Bản án 13/2022/DS-PT là một ví dụ điển hình về tranh chấp hợp đồng kỳ nghỉ giữa khách hàng và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nghỉ dưỡng.

[Recap] Webinar: Điểm mới của Luật An ninh mạng 2025 và tác động tới doanh nghiệp

[Recap] Webinar: Điểm mới của Luật An ninh mạng 2025 và tác động tới doanh nghiệp

[Recap] Webinar: Điểm mới của Luật An ninh mạng 2025 và tác động tới doanh nghiệp

Sáng ngày 09/6/2026, LuatVietnam.vn phối hợp cùng Asia Legal, CyRadar và Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA) tổ chức Webinar "Điểm mới của Luật An ninh mạng 2025 và những tác động chính tới doanh nghiệp" trên nền tảng Zoom online meeting.

Lừa đảo bằng hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, có thể bị phạt tù bao nhiêu năm?

Lừa đảo bằng hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, có thể bị phạt tù bao nhiêu năm?

Lừa đảo bằng hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, có thể bị phạt tù bao nhiêu năm?

Những năm gần đây, mô hình "sở hữu kỳ nghỉ" (timeshare) xuất hiện ngày càng phổ biến. Bên cạnh các giao dịch hợp pháp, không ít trường hợp đã lợi dụng hình thức này để đưa ra thông tin sai sự thật, dụ dỗ khách hàng ký hợp đồng rồi chiếm đoạt tiền. Vậy hành vi lợi dụng hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ để lừa đảo có thể bị xử lý như thế nào?