Đánh hội đồng người khác bị phạt thế nào?

Đánh hội đồng là trường hợp nhiều người cùng đánh, gây thương tích cho một người khác. Vậy những người cùng tham gia đánh hội đồng sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào?


1. Đánh hội đồng người khác bị xử phạt thế nào?

Đánh hội đồng là trường hợp nhiều người cùng đánh, gây thương tích cho một người khác. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe của cá nhân mà pháp luật bảo vệ.

Tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi, những cùng người tham gia đánh hội đồng có thể bị phạt hành chính hoặc xử lý hình sự.

Về mức phạt hành chính

Theo điểm e khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích dưới mức chịu trách nhiệm hình sự (tỉ lệ thương tích dưới 11%, không thuộc một trong các trường hợp đặc biệt) bị phạt hành chính từ 02 - 03 triệu đồng.

Đồng thời, có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm.

Trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự

Căn cứ quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, những người cùng tham gia đánh hội đồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích nếu gây thương tích cho người khác từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp:

- Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

- Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

- Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

- Có tổ chức;

- Có tính chất côn đồ…

Mức phạt cơ bản với người phạm tội này là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Với các khung hình phạt tăng nặng, người phạm tội còn có thể bị phạt tù đến 20 năm hoặc thậm chí là tù chung thân.

>> Để hiểu rõ hơn về vấn đề đánh hội đồng người khác bị phạt thế nào bạn có thể gọi ngay đến số 1900.6199 các chuyên gia pháp lý của LuatVietnam sẽ hỗ trợ bạn.

danh hoi dong nguoi khac bi phat the nao

 

2. Học sinh tham gia đánh hội đồng có bị xử lý hình sự không?

Dưới góc độ pháp lý, việc xử lý một người vi phạm pháp luật phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm…

Trong trường hợp người tham gia đánh hội đồng là học sinh - người chưa đủ 18 tuổi, việc xử lý hình sự phải căn cứ theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Cụ thể:

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

Trong đó, theo Điều 9 Bộ luật Hình sự:

- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 07 - 15 năm tù.

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 15 - 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Dựa theo các quy định trên, học sinh tham gia đánh hội đồng phải chịu trách nhiệm về Tội cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự trong các trường hợp như sau:

- Từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm;

- Từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3, 4, 5 Điều 134 quy định về Tội cố ý gây thương tích.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

 

3. Học sinh đánh hội đồng được giảm án ra sao?

Điều 101 Bộ luật Hình sự quy định mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:

1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

Theo quy định trên, nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích, học sinh - người dưới 18 tuổi sẽ được áp dụng hình phạt như sau:

- Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: Áp dụng không quá 3/4 mức phạt tù có thời hạn mà điều luật quy định; Phạt tù không quá 18 năm nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân.

- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: Áp dụng không quá 1/2 mức phạt tù có thời hạn mà điều luật quy định; Phạt tù không quá 12 năm nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân.

Trên đây là những thông tin liên quan đến vấn đề: Đánh hội đồng người khác bị phạt thế nào? Với những trường hợp cụ thể, bạn có thể gọi 1900.6199 để LuatVietnam hỗ trợ chi tiết.

>> Cố ý gây thương tích là gì? Mức phạt với Tội cố ý gây thương tích
Đánh giá bài viết:

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

Tin cùng chuyên mục
Mẫu Quyết định đưa tài sản cố định của công ty vào sử dụng mới nhất
Mẫu Quyết định đưa tài sản cố định của công ty vào sử dụng mới nhất

Mẫu Quyết định đưa tài sản cố định của công ty vào sử dụng mới nhất

Ở các công ty có quy mô lớn, các hoạt động sử dụng từng loại tài sản đều cần sự thông nhất giữa các bộ phận. Vì thế, việc đưa tài sản cố định (TSCĐ) vào sử dụng sẽ được thực hiện thông qua Quyết định của công ty. Dưới đây là mẫu Quyết định đưa tài sản cố định vào sử dụng.

Đề xuất sửa Luật CCCD: Sẽ tích hợp ADN, giọng nói vào CCCD?
Đề xuất sửa Luật CCCD: Sẽ tích hợp ADN, giọng nói vào CCCD?

Đề xuất sửa Luật CCCD: Sẽ tích hợp ADN, giọng nói vào CCCD?

Thời gian gần đây, nhiều quy định mới liên quan đến Căn cước công dân (CCCD) đã được sửa đổi, áp dụng trong thực tế đặc biệt là CCCD gắn chip nhưng Luật CCCD thì chưa cập nhật những thay đổi này. Do đó, Bộ Công an đã đề xuất nhiều quy định sửa đổi Luật này.